I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Glôcôm là một bệnh nguy hiểm thường gặp và có ảnh hưởng đến sức khỏe cộng
đồng, đứng thứ 2 trong các nguyên nhân gây mù lòa ở hầu hết các nước trên thế giới.
Theo OMS tỷ lệ mù lòa do glôcôm gây ra chiếm 10% [133]. Theo dự báo của các nhà
nghiên cứu thì đến năm 2020 sẽ có tới 80 triệu người mắc glôcôm - chiếm tỷ lệ 2,86%
dân số trên 40 tuổi. Có tới 47% số người bị glôcôm là ở châu Á. Riêng các nước ở
Đông Nam Á năm 2010 có khoảng 4,2 triệu bị glôcôm, đến năm 2020 con số này sẽ
tăng lên khoảng 6 triệu.Ở Việt Nam qua điều tra của RAAB (2007) tỷ lệ bị mù 2 mắt
do gglôcôm ở người có độ tuổi > 50 chiếm 6,5%, đứng thứ 2 trong các nguyên nhân
gây mù [6], [7].
Glôcôm nguy hiểm ở chỗ gây ra tổn thương chức năng và thực thể không hồi
phục.Tuy nhiên có thể phòng tránh được mù lòa do glôcôm bằng cách phát hiện bệnh
ngay ở giai đoạn đầu và kịp thời điều trị, theo dõi tốt, chăm sóc thường xuyên theo
một quy trình chặt chẽ ngay từ khi được phát hiện điều trị cho đến quãng đời còn lại
nhằm kiểm soát được diễn biến của bệnh.
Ngành y tế Việt Nam, đặc biệt ngành nhãn khoa Việt Nam đang cố gắng thực
hiện cam kết của Bộ Y tế với OMS sẽ ủng hộ sáng kiến toàn cầu vì mục tiêu "Thị giác
2020, quyền được nhìn thấy" nhằm thanh toán những trường hợp mù lòa có thể phòng
và tránh được vào năm 2020.
Hiện nay tỷ lệ mù lòa ở nước ta đã giảm được đáng kể từ 4% vào năm 2002
xuống còn 3,1% năm 2007 [6]. Tuy nhiên bệnh glôcôm là một trong những bệnh gây
mù lòa không hồi phục và là loại bệnh có thể phòng tránh được thì lại chưa được quan
tâm một cách thích đáng.Vì vậy cần thiết phải xây dựng một mạng lưới y tế rộng khắp
để chủ động phòng chống glôcôm, để từng bước giảm tỷ lệ mù lòa do bệnh này gây ra.
Trong hoàn cảnh như trên khoa glôcôm - Bệnh viện Mắt Trung ương tiến hành đề tài
nghiên cứu trên với các mục tiêu sau đây:
1. Điều tra thực trạng tình trạng bệnh glôcôm tại một số tỉnh thành của
Việt Nam.
2. Xây dựng và thử nghiệm mô hình quản lý, chăm sóc, điều trị người bệnh
glôcôm từ tuyến cơ sở đến tuyến trung ương.
3. Đánh giá hiệu quả của hệ thống quản lý người bệnh glôcôm theo tuyến
* Lịch sử gia đình và yếu tố di truyền:
Bệnh có tính chất di truyền. Nguy cơ mắc bệnh tăng gấp 3,69 lần ở những gia
đình có anh chị em ruột bị glôcôm góc mở và cao gấp 2,1 lần ở những người có bố mẹ
bị bệnh [73], [97], [112].
* Chiều dày giác mạc trung tâm
Carolyn Y (2004) cho rằng có sự thay đổi NA theo chiều dày của giác mạc
trung tâm. Ở những người có giác mạc mỏng thì trị số NA đo được thường thấp hơn trị
số NA thực của mắt, do đó glôcôm dễ bị bỏ qua, đặc biệt là khi khám sàng lọc
glôcôm ở trong cộng đồng [38], [50], [53].
* Chủng tộc
Glôcôm góc mở chủ yếu gặp trên những người ở châu Âu, Mỹ, Phi. [50], [53].
* Một số nguy cơ khác
Người cận thị có khả năng bị bệnh tăng gấp 2-3 lần so với người không bị cận
thị [1999, Paul Mitchall M.D].
Rối loạn tuần hoàn làm việc tưới máu võng mạc bị gián đoạn.
Bệnh tăng NA tăng lên ở những người bị đái tháo đường do tăng tính nhạy cảm
của các dây thần kinh thị giác nên dễ bị tổn thương [120].
1.1.2. Bệnh học và cách phát hiện, điều trị glôcôm
1.2.1.1. Bệnh gôlcôm góc đóng nguyên phát
* Các yếu tố thuận lợi gồm: tuổi cao, giới (nữ), chủng tộc (châu Á), tiền sử gia
đình có bệnh glôcôm góc đóng, mắt nhỏ, bán phần trước hẹp.
* Phân loại bệnh lý: dựa trên trị số NA, tình trạng góc tiền phòng trên soi góc
và tổn hại thị TK - thị trường.
- Nghi ngờ góc đóng.
- Góc đóng nguyên phát: tiếp xúc mống mắt - bè lớn hơn 270
o
kèm theo NA cao
và/hoặc dính góc - đĩa thị và thị trường bình thường.
- Glôcôm góc đóng nguyên phát: tiếp xúc mống mắt - bè hơn 270
o
dấu hiệu sau: Tổn hại viền thần kinh - lõm đĩa; Dấu hiệu mạch máu; Dấu hiệu xuất
huyết đĩa thị; Teo quanh đĩa thị.
* Các dấu hiệu cận lâm sàng
- Thị trường: Các loại tổn thương và giai đoạn tổn thương đặc trưng của glôcôm
trên thị trường bao gồm: Đại đa số khu trú; Tổn thương đường ngang; Bắt đầu từ phía
mũi;Rất hay gặp ở vùng 30
o
trung tâm. Các tổn thương hay gặp: bậc phía mũi, điểm
mũi rộng ra, ấn điểm cạnh trung tâm, khuyết hình chêm phía thái dương.
Các giai đoạn tổn thương theo Aulhorrn: ám điểm cạnh trung tâm đơn độc; ám
điểm Bjerrum; ám điểm Bherrrum lan ra chu biên. Đảo thị giác trung tâm hoặc thái
dương; Mù.
Các phương pháp khám nghiệm thị trường.
Công nghệ tần số kép (FDT) cho phép phát hiện tổn thương sớm SAP.
Thị trường sóng ngắn: phát hiện tổn hại sớm từ tế bào hạch Konio.
- Khám nghiệm đánh giá đầu thị thần kinh và lớp sợi thần kinh quanh đĩa thị
giác. Máy soi đáy mắt laser quét cộng tiêu cự (CSLO) cho phép chụp được các hình ảnh
thực ba chiều. Nghiên cứu phát hiện glôcôm trên quần thể, Blue Mountain (1992-2007)
cho thấy HRT có độ nhạy 46% và độ đặc hiệu 71% trong khám sàng lọc glôcôm [95].
- Đánh giá dòng chảy đầu thị thần kinh: Các dấu hiệu lâm sàng có giá trị gợi ý
bệnh lý thiếu máu là: khuyết viền thần kinh khu trú hình chêm hay còn gọi là glôcôm
thiếu máu cục bộ. Co thắt mao mạch quanh đĩa. Xuất huyết đĩa thị và đĩa thị giả cương
với xơ cứng hắc mạch quanh gai [102].
1.1.2.3. Chẩn đoán sớm glôcôm
* Khám sàng lọc
Joc G-Dwereux đã khám sàng lọc trên 1800 và đã tìm ra 140 người có yếu tố
nguy cơ cao như tiền phòng nông ≤ 1,8 mm, góc tiền phòng có xu hướng đóng, có 1
góc dính, có 77 người /140. Wilenoky phát hiện rằng ở những người đã có một góc
dính thì có 30% nguy cơ sẽ gây glôcôm góc đóng sau 5 năm.
Tại Việt Nam, theo kết quả ở Định Công năm 1969 ở 563 người trên 35 tuổi và
Thiết lập NA đích
Lựa chọn phương pháp đầu tiên
Đạt được mức NA đích
Có
Không
Tiếp tục điều trị Đổi phương pháp điều trị
Tổn thương thêm của đầu T/TT
Thiết lập lại mức NA đích
Không
Có
tăng NA tốn 5600 Euro. Để phát hiện sớm 1 trường hợp glôcôm tốn 4250 Euro, khám
1 đối tượng nghi ngờ hết 1450 Euro và khám glôcôm thứ phát hết 2100 Euro
- Tại Ấn Độ, năm 2010 ước tính có tới 11,9 triệu người mắc glôcôm [83].
- Tại Trung Quốc có 9,4 triệu người trên 40 tuổi mắc bệnh glôcôm, trong đó có
5,2 triệu người bị mù ít nhất là 1 mắt và 1,7 triệu người mù cả 2 mắt [57], [96].
Ở châu Mỹ glôcôm góc mở chiếm 94%, ở châu Âu glôcôm góc mở chiếm
88,4%, glôcôm góc đóng 11,6%, Ở châu Phi tỷ lêj này là 96,1%. Ở châu Á glôcôm góc
đóng cao hơn hẳn so với các khu vực khác 38,1% và 61,9% là glôcôm góc mở [104].
Tại các quốc gia châu Á cơ cấu bệnh glôcôm cũng khác nhau.
Ở Trung đông tỷ lệ glôcôm góc mở là 89,1% (như ở châu Âu). Ở Nhật Bản chủ
yếu là hình thái glôcôm NA bình thường. Ở Trung Quốc glôcôm góc mở là 52,6% và
glôcôm, góc đóng là 47,4%. Các nước ở khu vực Đông Nam Á tỷ lệ glôcôm là 2,38% ở
những người trên 40 tuổi, trong đó góc mở là 49,6%, góc đóng là 50,4%.
1.2.2. Ở Việt Nam
Bảng 1.1: Tỷ lệ người bệnh mù 2 mắt do glôcôm ở Việt Nam
Thời gian điều tra Tỷ lệ mù 2 mắt do glôcôm
1990 1995 2002 2007
Số người khám 15.071 26.606 13.896 28.033
Tỷ lệ % 2,3 6,3 5,7 6,5
Thứ tự trong nguyên nhân gây mù lòa 3 3 2
bệnh điều trị nội trú.
- Tuyến 3: khoa glôcôm của viện nghiên cứu các bệnh về mắt. Có nhiệm vụ
nghiên cứu, khám, điều trị chuyên sâu với chất lượng cao cho người bị glôcôm.
Ngoài ra Dixpanxe còn có nhiệm vụ khám, phát hiện bệnh glôcôm ở giai
đoạn sớm khi chưa có xuất hiện tổn thương thực thể ở mắt của người bệnh. Hiện
nay, hệ thống Dixpanxe glôcôm vẫn duy trì hoạt động thường xuyên, hàng năm các
phòng khám mắt của phòng khám đa khoa khu vực vẫn duy trì hoạt động thường xuyên.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới bệnh glôcôm là do sự thiếu hiểu biết về bệnh nên
chỉ đến với thầy thuốc khi mắt đã ở giai đoạn rất nặng. Theo Kook (2009) có đến 50%
số người bị glôcôm ở châu Phi đã bị mù 1 mắt tại thời điểm được phát hiện bệnh [46].
Theo Tenkir (2009) nghiên cứu ở Ethiopia cho thấy chỉ có 2,4% số người được hỏi là
có kiến thức về bệnh glôcôm [129]. Livingstone (1995) nghiên cứu ở 1711 người dân
ở Melboure (Australia) ở tuổi từ 40 trở lên thấy có 70% đã từng được nghe đến
bệnh glôcôm nhưng chỉ có 22% người được hỏi là có đủ kiến thức cần thiết về
bệnh [93].
Một nguyên nhân quan trọng làm tăng tỷ lệ mù do glôcôm là do sự không tuân
thủ điều trị của người bệnh glôcôm. Tỷ lệ không tuân thủ điều trị từ 5-80% tùy theo
từng báo cáo, nhưng có hơn một nửa số báo cáo có tỷ lệ này [48], [60], [62], [82],
[118], [131]. Việc trang bị kiến thức về bệnh glôcôm cho cộng đồng để giúp người
dân phát hiện và điều trị sớm glôcôm là rất cần thiết.
Để tăng cường những hoạt động về truyền thông nhằm thu hút sự quan tâm của
xã hội đối với bệnh glôcôm, năm 2008 Hiệp hội Glôcôm Thế giới đã đưa ra sáng kiến
lấy một ngày trong tháng 3 làm "Ngày glôcôm thế giới" sau đó chuyển thành tuần lễ
glocôm ( 2010) và khuyến khích các nước thành lập các hiệp hội nghề chuyên sâu về
glôcôm.
1.3.2. Ở Việt Nam
1.3.2.1. Tổ chức màng lưới chăm sóc mắt tại Việt Nam
- Hệ thống chăm sóc mắt được phân bố đều từ trung tương đến cơ sở và có sự
chỉ đạo thống nhất chặt chẽ của ngành nhãn khoa.
Trong hệ thống các tuyến phòng chống các bệnh về mắt ở Việt Nam, phân
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu
- Hai tỉnh: Nam Định và Thái Bình
- Mỗi tỉnh 2 huyện: Nam Định: huyện Mỹ Lộc và Trực Ninh; Thái Bình: huyện
Vũ Thư và Kiến Xương.
Mỗi huyện chọn 3 xã: Mỹ Lộc (Nam Định): xã Mỹ Tân, Mỹ Thuận, Mỹ Thịnh;
Trực Ninh (Nam Định): xã Liên Hải, Trực Đạo, Trực Mỹ; Vũ Thư (Thái Bình) :xã
Việt Hùng, Xuân Hòa, Minh Lãng; Kiến Xương (Thái Bình): xã Quang Minh, Bình
Nguyên, Bình Thanh
- Lý do chọn các địa điểm trên: Có các điều kiện địa lý, kinh tế, văn hóa xã hội
gần như nhau. Các hoạt động y tế nói chung về nhãn khóa nói riêng đều tương đồng.
3.1.3. Thời gian nghiên cứu từ năm 2007 đến 2011
3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang có phân tích so sánh và
nghiên cứu dịch tễ học can thiệp có đối chứng.
3.2.1.1. Nghiên cứu DTH mô tả cắt ngang có phân tích so sánh.
* Mục đích:
• Khám sàng lọc để xác định người bị glôcôm và người có nguy cơ cao bị
glôcôm.
• Xác định kiến thức, thái độ, hành vi của người bị glôcôm và có nguy cơ
cao và nhân viên y tế.
• Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến glôcôm.
• Đánh giá về thực trạng cơ sở TTB và nhân lực cung cấp dịch vụ có liên
quan đến glôcôm.
* Cỡ mẫu: được tính theo công thức sau:
n = Z???/
n = cỡ mẫu tối thiểu. ε: Sai số tương đối, chọn 20%
p: tỷ lệ hiện mắc glôcôm ở người > 35 tuổi trong cộng đồng (p = 0,025)
DE: hệ số điều chỉnh (DE = 1,5)
Z
-
β
)
p
1
(1 – p
1
) + p
2
(1 - p
2
)
(p
1
- p
2
)
2
n
1
= cỡ mẫu của nhóm đối chứng n
2
= cỡ mẫu của nhóm can thiệp
Nam Định Nam Định
Mỹ Lộc Trực Ninh Mỹ Lộc Trực Ninh
Mỹ Tân
Mỹ Thuận
Mỹ Thịnh
Liên Hải
3.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP KỸ THUẬT
Các phương pháp kỹ thuật được sử dụng trong nghiên cứu mô tả và nghiên cứu
can thiệp gồm:
3.3.1. Khám sàng lọc người bệnh trong nghiên cứu mô tả
3.3.1.1. Khám sàng lọc người bệnh glôcôm và người có nguy cơ cao bị glôcôm tại
cộng đồng nghiên cứu.
* Địa điểm khám sàng lọc tại trạm y tế xã.
* Các kỹ thuật khám sàng lọc: Đo thị lực (bảng Landolt), đo nhãn áp bằng
nhãn áp kế Maclakov, quả cân 10 g, khám SHV, soi góc tiền phòng, soi đáy mắt để
đánh giá tình trạng đĩa thị giác.
* Phỏng vấn đối tượng trên qua phiếu điều tra.
3.3.1.2. Khám để xác định chẩn đoán giai đoạn bệnh hướng theo dõi và tiếp tục
điều trị: tại cơ sở chuyên khoa mắt BVĐK huyện, tỉnh hoặc Viện Mắt Trung ương.
* Các bước tiến hành khám
- Làm thị trường bằng một trong các loại TT kế Maggior, Goldmann hoặc
Humphrey (phụ thuộc vào địa điểm người bệnh đến khám).
- Chụp cắt lớp địa thị - võng mạc bằng máy chụp cắt lớp đĩa thị võng mạc OCT
tại Viện Mắt Trung ương để khám xác định.
- Làm thử nghiệm phát hiện sớm glôcôm, theo dõi NA nhiều lần trong ngày
được chỉ định với những đối tượng có nguy cơ cao bị glôcôm.
3.3.2. Các bước khám sau can thiệp
* Khám lâm sàng: Đo thị lực (bảng Landolt), đo NA bằng NA kế Maclakov,
đo thị trường bằng cùng một loại TT kế người bệnh đã làm trước đó. Khám sinh hiển
vi, soi góc tiền phòng, soi đáy mắt.
Địa điểm khám: trạm y tế xã - khoa mắt Bệnh viện đa khoa huyện, khoa glôcôm
Viện Mắt Trung ương
• Phỏng vấn các đối tượng đánh giá về kiến thức, thái độ và hành vi theo
bộ câu hỏi được chuẩn bị qua phiếu phỏng vấn sau khi can thiệp.
Sơ đồ 2.2. Chọn mẫu và tổ chức nghiên cứu can thiệp
Tiến hành nghiên cứu can thiệp
• Hỗ trợ giữa các tuyến y tế về chuyên môn, TTB, vật tư kỹ thuật.
3.4.2. Hoàn thiện các tiêu chuẩn chẩn đoán.
3.4.3. Xây dựng nội dung đào tạo và tổ chức tập huấn bổ xung chuyên đề
glôcôm cho cán bộ y tế của mạng lưới. Tổ chức tập huấn tại trạm y tế các xã
tham gia đề tài về những vấn đề có liên quan đến glôcôm, huấn luyện cho
một cán bộ của trạm y tế về kỹ thuật đo NA Maclakov và biết đánh giá kết
quả đo NA.
3.4.4. Xây dựng điểm mô hình "Quản lý bệnh glôcôm" thực tiễn ở cộng
đồng trên địa bàn dân cư đã được chọn tham gia nghiên cứu.
Tuyến trung ương
Khoa glôcôm - Viện mắt TW
Tuyến tỉnh
(Bệnh viện mắt)
Tuyến huyện
(CB chuyên khoa mắt)
Tuyến xã
(Trạm y tế xã)
Phòng khám và theo dõi
bệnh nhân glôcôm
Bộ phận khám, theo dõi
bệnh nhân glôcôm
Cán bộ khám theo dõi
bệnh nhân glôcôm
Cán bộ chăm sóc mắt
ban đầu
3.4.5. Tiến hành các công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, phòng chống
mù lòa do bệnh glôcôm theo các hình thức khác nhau.
3.5. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP
3.5.1. Tình trạng mắc bệnh và kiến thức của người bệnh và những người có nguy cơ
cao theo các chỉ số sau:
Các số liệu thu thập được được nhập vào máy vi tính, sử dụng phần mềm Excel
SPSS 17.0 và chương trình Epi Data 3.1.Xác định các chỉ số χ
2
, T-Test để tính p.
3.8. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU
Sự tham gia trong nghiên cứu ở cộng đồng hoàn toàn là tự nguyện, đối tượng
nghiên cứu có quyền từ chối không tiếp tục tham gia. Các đối tượng được nghe rõ mục
đích và nội dung của đề tài. Các đối tượng là bệnh nhân glôcôm và người có nguy cơ
cao bị glôcôm được tư vấn kỹ và điều trị theo phác đồ.
Đề tài được thực hiện đúng quy trình về y đức của Bộ Y tế, được sự đồng ý của
hội đồng khoa học Bộ Y tế, Viện Mắt Trung ương và chính quyền cơ sở.
IV. KẾT QUẢ
4.1. Đánh giá thực trạng bệnh glôcôm và tình hình chăm sóc mắt cho người bệnh
glôcôm
4.1.1. Thực trạng bệnh glôcôm
4.1.1.1. Các thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Nam Định có 5920 người được nghiên cứu, nữ chiếm đa số 71,5% ( 4235
người). Tương tự Thái Bình nữ chiếm 76,2% ( 5115/6709 người). Tỷ lệ nữ đi khám ở
2 tỉnh tương đương nhau.
Ở cả 2 tỉnh, số đối tượng ở độ tuổi từ 40 - 54 và 55 - 70 chiếm tỷ lệ cao. Sự khác
biệt của 2 nhóm tuổi này giữa 2 tỉnh cũng không có sự khác biệt (Nam Định 38,2% và
37,4%), ( Thái Bình 31,3% và 32,6%).
Ở cả 2 tỉnh tỷ lệ người đến khám chưa nghe, biết gì về bệnh glôcôm là rất
cao (93,4%)
4.1.1.2. Tình hình bệnh glôcôm qua khám sàng lọc tại trạm y tế xã
Tỷ lệ mắc bệnh golocom và nguy cơ bị glôcôm.
- Tỷ lệ người dân mắc bệnh glôcôm giữa 2 tỉnh như nhau: (1.82% & 2.15%)
- Tỷ lệ người dân có nguy cơ bị golocom giữa hai tỉnh cũng không có sự khác biệt
(11,15 và 11.60%) với p>0.05
4.1.1.3. Tình hình người glôcôm và có nghi ngờ đến khám xác định tại các khoa
Yếu tố nguy cơ
Nam Định Thái Bình
N % n %
Nhãn áp 46 7,2 16 3.6
TP, góc TP 169 26.5 105 23.4
Lõm đĩa 230 36,1 158 35,2
Tiền sử gia đình 193 30.2 170 37.8
Tổng 638 100 449 100
Lõm đĩa và tiền sử gia đình là 2 yếu tố nguy cơ cao nhất của bệnh glocôm ở cả
2 tỉnh Nam Định và Thái Bình.
3.1.1.6. Đặc điểm của những người bị glôcôm
Tại Nam Định số người bị glôcôm là 130 người trong đó 108 người được phát
hiện trong khám sàng lọc, tại cơ sở 22 người, được phát hiện trong đó khám sàng lọc
tại cơ sở (sau khi chuyển lên khám xác định tại tuyến chuyên môn). Như vậy, tỷ lệ
phát hiện glôcôm trong cộng đồng dân cư là 2.2%
Tại Thái Bình: Số người bị glôcôm là 161 người trong đó có 144 người được
phát hiện trong khám sàng lọc tại cơ sở, 17 người được phát hiện trong khám sàng lọc
tại cơ sở ( sau khi đã khám xác định tại tuyến chuyên môn). Như vậy, tỷ lệ phát hiện
glôcôm trong cộng đồng dân cư là 2.4%.
Phân bố nguồn bệnh glôcôm theo giới
Ở hai tỉnh tỷ lệ nữ bị glôcôm cao hơn nam : Nam Định (53,8% - 42.6%) và
Thái Bình( 76.4% - 23.6%)
Phân bố người bệnh theo glôcôm theo độ tuổi
Tại Nam Định có 2 đối tượng mắc bệnh có tỷ lệ cao nhất từ 55 - 70. Trong đó,
ở độ tuổi > 70 có tỷ lệ cao nhất là 51.6%. Trong khi đó tại Thái Bình cũng như ở Nam
Định đều là bệnh chiếm tỷ lệ cao ở hai nhóm tuổi là 55 - 70 và >70, nhưng ở nhóm
tuổi 55 - 70 chiếm tỷ lệ cao nhất 201.6% (trẻ hơn so với Nam Định)
Bảng 3.14. Phân bố người bị glôcôm theo hình thái glôcôm
Các hình thái
Nam Định (n=130) Thái Bình (n=161)
< 25 203 79.0 287 90.0
25 - 32 43 16.7 24 7.5
> 32 11 4.3 8 2.5
Tổng 257 100 319 100
Tỷ lệ mắt có mức NA không điều chỉnh ở Nam Định là 21%, cao hơn tỷ lệ này
ở Thái Bình (10%) có ý nghĩa thống kê với p = 0.05.
Tình hình điều trị của các bệnh nhân glôcôm
Tỷ lệ người bệnh được điều trị 1 mắt và 2 mắt ở Nam Định không có sự khác
biệt rõ với p>0.05 (34.6% & 36,9%). Ngược lại ở Thái Bình, tỷ lệ người bệnh được
điều trị một mắt cao hơn hẳn so với người bệnh điều trị 2 mắt với p = 0.05 ( 52.2 % và
29.2%). Tỷ lệ người bệnh chưa điều trị ở Nam Định cao hơn Thái Bình (28,5% và
18,6%) với p =0,05.
3.1.1.7. Kết quả nghiên cứu về kiến thức các người dân đối với bệnh glôcôm.
Một số đặc điểm chung mà các đối tượng được phỏng vấn ở 2 tỉnh
Các đối tượng ở độ tuổi trên 56 chiếm tỷ lệ Nam Định 76.7% và Thái Bình là
71.4%. Đối tượng là nữ ở hai tỉnh đều cao hơn nam (Nam Định 55%, Thái Bình
72%). Đối tượng làm nghề nông chiếm tỷ lệ cao nhất (Nam Định 68,9%, Thái Bình
84,8%). Trình độ học vấn của đối tượng, hầu hết ở trình độ thấp. Tỷ lệ hộ nghèo ở
Nam Định là 91.2% (nghèo 19.4% - TB 71.8%).TB: 93.7% (nghèo 34.8 % - TB
58.9%)
Thực trạng về sự hiểu biết của người bệnh về bệnh glôcôm
Tỷ lệ số người bệnh có biết được các tuyến khám mắt đạt tỷ lệ cao nhất: Nam
Định là 91,3%, Thái Bình là 95,5%.ầNm Định có tỷ lệ người bệnh biết đến tuyến
huyện để khám mắt cao hơn so với Thái Bình (49,5% và 21,3%). Ngược lại tỷ lệ biết
đến tuyến khám mắt tỉnh ở Thái Bình cao hơn Nam Định (73,1% và 53,4%).
Bảng 3.20. Tỷ lệ người bệnh tự biết mình bị glôcôm
và biết qua nguồn thông tin
Biết có bệnh và nguồn
thông tin cung cấp
Nam Định (n = 103) Thái Bình (n = 112)
Qua phỏng vấn, thấy rằng tỷ lệ số người bệnh glôcôm có điều kiện và hoàn
cảnh từ trung bình đến thuận lợi để chăm sóc mắt đều đạt tỷ lệ cao: Nam Định 98,1%
và Thái Bình là 98,3%. Không có trường hợp nào quá khó khăn để chăm sóc mắt. Số
người bệnh có hoàn cảnh khó khăn tương đương ở 2 tỉnh ( 1,9% và 1,8%)
Đánh giá về sự hiểu biết về glôcôm của BN glôcôm (bảng điểm)
Hầu hết các người bệnh glôcôm không có kiến thức tốt về glôcôm và tình trạng
này ở cả 2 tỉnh đều như nhau: Nam Định 96,1% và Thái Bình là 99,2%. Kiến thức
trung bình và khá về bệnh ở tỉnh Nam Định cao hơn Thái Bình (3,9% và 0,8%).
Không có người bệnh nào có hiểu biết đầy đủ về glôcôm ở cả 2 tỉnh.
Đánh giá về thái độ và thực hành của người bệnh glôcôm về việc điều trị bệnh
Thái độ ít quan tâm đến việc điều trị bệnh của người bệnh ở cả 2 tỉnh đều chiếm
tỷ lệ cao: Nam Định: 61,2%, Thái Bình: 75,0%. Tỷ lệ tích cực trong điều trị ở cả 2 tỉnh
đều chưa vượt quá 10%, cụ thể ở Nam Định là 6,8%, ở Thái Bình là 5,4%.
4.1.2. Tình hình cơ sở và trang thiết bị - nhân lực ở các tỉnh được nghiên cứu
4.1.2.1. Cơ sở y tế chẩn đoán lần đầu bệnh glôcôm
Cơ sở chẩn đoán lần đầu
Tại Nam Định: người dân đến khám tại bệnh viện tỉnh chiếm tỷ lệ cao nhất:
64,7%. Sau đó là bệnh viện huyện (19,3%), tiếp đến là bệnh viện Mắt TW (10,7%) và
thấp nhất ở TYT xã (5,4%)
- Tại Thái Bình: bệnh viện tỉnh cũng là nơi người bệnh đến khám có tỷ lệ cao
nhất 86,3%. Bệnh viện huyện còn thấp(6,9%), tỷ lệ được chẩn đoán ở trạm TYT xã là
4,6% và thấp nhất ở bệnh viện Mắt TW (2,3%).
- Tỷ lệ người bệnh ở 2 tỉnh đến khám ban đầu ở trạm y tế xã còn quá ít, và
tương đương nhau (5,3% và 4,6%).
3.1.2.2. Cơ sở mà người bệnh đã được điều trị
Cơ sở đã điều trị của người bệnh
Sau khi được chẩn đoán glôcôm thì người bệnh điều trị chủ yếu ở các bệnh viện
tỉnh: Nam Định 66,7% và Thái Bình 90,1%. Riêng ở Nam Định: số bệnh nhân điều trị
tại bệnh viện trung ương và bệnh viện huyện cao hơn hẳn so với Thái Bình (TW:
18,3% và 7,6%, BV huyện : 10,7% và 2,3%). Ngoài ra ở Nam Định, người bệnh đã
Định
Thái
Bình
BV
mắt
Khoa
mắt
BVĐK
BV
mắt
Khoa
mắt
BVĐK
Khoa
mắt
ĐHY
TN ML KX VT
CTV y tế - - - - - - - - - 97 56
Điều
dưỡng
CK mắt 20 5 10 10 1 - - - - - -
Khác - - - - - 1 1 - 1 15 18
Y sĩ
CK mắt 3 - - - - - - - - - -
Khác - - - - - - - - - 34 32
Bác sỹ
CK ĐH mắt 8 1 10 1 2 - - 2 1 - -
CK1 mắt 1 2 6 1 - 1 1 - - - -
CK2 mắt - - - 1 1 - - - - - -
Thạc sĩ 4 1 - 2 2 - - - - - -
Đo NA + + + + + + + + - - -
Làm TT ± - - ± - - - - - - -
Soi đáy mắt ± ± - ± ± ± ± ± - - -
Khám SHV + + - + + + + + - - -
Đánh giá Độ sâu TP ± ± ± ± ± ± ± ± - - -
Soi góc TP - - - - - - - - - - -
Thử nghiệm phát
hiện Glôcôm
- - - - - - - - - - -
Ở cả hai tỉnh có máy thị trường kế và kính soi góc nhưng ít sử dụng. Trong
khám bệnh chỉ ước lượng độ sâu tiền phòng một cách đơn giản.
Các phương pháp được áp dụng để chẩn đoán bệnh glôcôm ở các tuyến
Ở cả hai tỉnh đều thực hiện được phẫu thuật cắt bè củng giác mạc và mổ phối
hợp điều trị glôcôm. Các phẫu thuật cắt cắt củng mscj sâu, phẫu thuật glôcôm áp thuốc
chống chuyển hóa, quang đông, lạnh đông thể mi…ở cả hai tỉnh chưa được áp dụng.
Số phẫu thuật viên có thể thực hiện phẫu thuậtglôcôm
Số lượng PTV Glôcôm ở TB nhiều hơn NĐ (10 và 7 PTV)
Một số đánh giá và kiến thức bệnh Glôcôm của cán bộ y tế cơ sở (xã ) (theo
bảng điểm đánh giá)
Trình độ nhận thức của cán bộ Y tế cơ sở về bệnh Glôcôm ở 2 tỉnh trong năm
2008 chưa có sự khác biệt rõ rệt với p>0,05. Trình độ kém ở Nam Định là 86,7% so
với 93,3% ở Thái Bình. Kiến thức tốt về bệnh là 3,3% ở cả 2 tỉnh.
Trình độ làm bệnh án về Glôcôm ở cán bộ y tế chuyên khoa ở 2 tỉnh: không
đạt 100%
4.2. Tiến hành xây dựng mô hình quản lý Glôcôm tại các tuyến Y tế (TW - Cơ sở)
4.2.1. Các hoạt động can thiệp vào cơ sở y tế của nhân viên y tế về kiến thức và
thực hành lâm sàng.
4.2.1.1. Kết quả (theo bảng điểm đánh giá) tập huấn cho cán bộ y tế
So sánh giữa trước và sau can thiệp của Nam Định
- Lý thuyết hầu hết cán bộ y tế ở tỉnh sau khi được tập huấn hiểu biết của các
Triệu
Ninh
L. Hải 29 32 14 11 34
T. Đạo 22 28 17 10 29
T. Mỹ 15 55 9 24 56
Tổng 3 xã 66 115 40 45 119
Nhận xét: Tổng số 244 người bệnh (125 + 119) của các xã được lựa chọn
nghiên cứu, được quản lý theo dõi từ tuyến TW đến cơ sở (6 xã của 2 huyện) trong
suốt thời gian can thiệp.
224
Tuyến trung ương
Khoa glôcôm - Viện
mắt TW
Phòng khám và
theo dõi
bệnh nhân glocom
Viện mắt TW
Bộ phận khám, theo
dõi
bệnh nhân glocom
Tuyến tỉnh
(Bệnh viện mắt)
- Viện mắt TW
Tuyến huyện
(CB chuyên khoa
mắt)
Cán bộ khám theo
dõi
bệnh nhân glocom
Tuyến xã