TRUỜNG TIỂU HỌC HƯƠNG AN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP MỘT
,QUAY PHẢI, QUAY TRÁI ĐÚNG HƯỚNG VÀ
ĐẠT HIỆU QUẢ CAO
đồng nhấ
t trí của một tập thể theo một đội hình nhất định và cách sắp xếp, bố
trí người tập luyện hoặc biểu diễn dưới sự điều khiển của người chỉ huy. Tập
thể hiệp đồng thực hiện các yếu lĩnh kỹ thuật về xếp hàng ngay ngắn, về vị trí,
thời gian…Đội hình đội ngũ có liên quan khắng khít với nhau, tâp luyện đội
hình
đội ngũ nhất thiết phải tuân theo những điều lệnh đã được quy định, không
được tuỳ tiện thay đổi, do vậy mà sự liên hệ giữa đội hình và đội ngũ trong thể
dục kết hợp rất chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau. Thông qua Đội hình đội
ngũ làm cho học sinh hiểu được tác dụng của điều lệnh tổ chức tập luyện thể
dục th
ể thao làm tiền đề cho các hoạt động thể dục thể thao khác.
- Đội hình đội ngũ là một nội dung quan trọng của chương trình thể dục lớp 1.
Bởi vì nếu không có, giáo viên không thể nào tổ chức có
hiệu quả một giờ dạy học thể dục và đặc biệt động tác “ quay phải, quay trái ”
của học sinh là động tác xuyên suốt ở tất cả các khối lớp và các cấp học từ lớ
p
một cho đến đại học các lực lượng vũ trang… và làm nền tảng cơ bản cho
những nội dung học khác. Là học sinh lớp một các em còn bỡ ngỡ, bước đầu
làm quen với trường mới, bạn mới, cô giáo mới, việc quay phải, quay trái
tưởng chừng rất quen thuộc nhưng để cho các em xác định đúng hướng không
phải đơn giản chút nào, điều đó làm biết bao giáo viên thể dục phả
i suy nghĩ.
Mỗi lần họp giao ban bộ môn, chúng tôi thường trao đổi về vấn đề này nhưng
rồi cũng chưa có biện pháp cụ thể nào để khắc phục. Là giáo viên dạy thể dục
lâu năm ở cấp tiểu học, tôi suy nghĩ phải làm thế nào để giúp “học sinh lớp
một quay trái quay phải đúng hướng và đạt hiệu quả cao”.
HƯƠNG AN, 12/2010
độ
ng, hệ thần kinh chưa linh hoạt mà quay phải ( trái) chủ yếu vận động chi
dưới.
- Đa số các em học sinh đều muốn đến giờ học thể dục để được tự do không
gian thoải mái nhưng ý thức học tập chưa cao bên cạnh đó một số phụ huynh
và học sinh còn quan niệm thể dục là môn học phụ không quan trọng, kết quả
không ảnh hưởng tới việc đ
ánh giá xếp loại của các em nên phụ huynh cúng ít
quan tâm nhắc nhở con em mình học hành.
- Thời gian giảng dạy, tiếp cận học sinh ít.
- Điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, sân bãi chật hẹp, dụng cụ để tập
luyện vừa thiếu vừa kém chất lượng. Giáo viên phải phụ thuộc nhiều vào điều
kiện môi tường, sân bãi, thời tiết để giảng dạy…
V / N
ỘI DUNG NGHIÊN CỨU :
1. THỰC TRẠNG:
- Trước đây, khi dạy nội dung quay phải (trái) đối với học sinh lớp 1, lớp 2, lớp
3 thậm chí với học sinh lớp 4, 5, nhiều lúc các em cũng rất lúng túng trong khi
thực hiện bài tập.
@ Ví dụ: Đối với lớp1 khi khẩu lệnh phát ra “ Bên phải… quay” ở đây
chưa yêu cầu về kỹ thuật nhưng rất nhiều em quay sai hướng có em quay đúng
hướng nhưng đó cũng là theo bản n
ăng.
- Điều đó làm cho tôi rất trăn trở phải khắc phục tình trạng này như thế nào
đây? Đây không phải là câu trả lời của riêng bản thân tôi mà là câu trả lời
chung của các bạn đồng nghiệp ở các trường khác.
- Đội hình đội ngũ thường được tiến hành tập luyện ngoài sân bãi trống trãi,
pháp giúp học sinh xác định giữa cơ thể mình và hướng quay cụ thể như sau: a / Dùng biển có mũi tên chỉ giúp học sinh xác định hướng
@ Chuẩn bị:
- Bốn tấm biển vòng tròn tương tự như biển báo giao thông nền màu xanh
ở giữa có mũi tên màu trắng cùng chỉ về một hướng
- Đường kính 50cm
- Cột cao 1m20 @ Áp dụng vào thực tế.
- Ngay những tiết học thể dục đầu tiên của học sinh lớp một sau khi dẫn cả lớp
ra sân giáo viên cho họ
c sinh tập hợp theo một hướng nhất định phía trước đội
hình, đằng sau, bên phải, bên trái đều đặt sẵn một
tấm biển có mũi tên chỉ cùng một hướng theo chiều quay của kim đồng hồ,
mục đích giúp học sinh bước đầu xác định hướng quay của cơ thể với hướng
sân trường.
- Kết hợp việc xác định hướng quay trên sân trường ta nhắc học sinh biết bên
tay cầm bút là tay ph
ải vì đại đa số các em đều viết bằng tay phải cùng chiều
quay của mũi tên, như vậy các em cũng có thể xác định dễ dàng lại có những
b. Phối hợp với các đoàn thể có liên quan trong nhà trường
- Dạy động tác quay phải, quay trái mà phối hợp với các đoàn thể liên quan
trong nhà trường nghe có vẻ không hay tí nào nhưng thực tế nó đã giúp tôi rất
nhiều trong việc giảng dạy nội dung này.
- Chẳng hạn, phối hợp với giáo viên Tổng phụ trách lên kế hoạch xây dựng
chương trình nội dung sinh ho
ạt sao nhi đồng có nội dung quay phải , quay trái
lồng ghép, các anh chị lớp 4, 5 sẽ giúp các em lớp 1, quay, ở đây chưa nói đến
kỹ thuật quay nhưng ít ra cũng giúp các em quay đúng hướng.
- Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm các lớp, khi xếp hàng ra vào lớp, khi thi
múa tập thể, thể dục giữa giờ giúp các em xác định đúng hướng cao.
c. Tổ chức các trò chơi.
- Như chúng ta đều biết, một trong những hoạt động gây sự chú ý, kích thích
các em tham gia
đông đảo nhất là hoạt động trò chơi. Hoạt động trò chơi sẽ
giúp cho nhà giáo dục, giáo viên thân thiện gần gũi với các em hơn. Tuy nhiên
việc tổ chức và hướng dẫn trò chơi đối với thiếu nhi không đơn giản, nó là một
trong các kỹ năng của người điều khiển trò chơi, nó phụ thuộc vào khả năng,
năng khiếu biết biến hoá lời nói, tạo không khí thoải mái, vui vẻ hóm hỉ
nh
trong điều hành trò chơi.
Tỷ lệ
Tập luyện ph
ương pháp cũ
Quay không đúng hướng 45%
Quay đúng hướng theo bản năng 55% Khối lớp 1: Sau khi áp dụng sáng kiến.
Biện pháp GD
Tỷ lệ
Tập luyện phương pháp mới
Quay không đúng hướng 0%
Quay đúng hướng 100%
* Thông qua việc tổ chức áp dụng dạy thực tế tôi thấy:
- Học sinh hăng say tập luyện, giúp các em nhận biết được hướng bên trái
(phải) dễ dàng, các em đều tham gia rất hào hứng, tự giác, định hình nhanh kỹ
thuật động tác và nghiêm túc.
- Sau khi kết thúc giờ dạy và tiếp cận trao đổi với học sinh, các em đều cho nội
dung quay phải quay trái trước đây đối với các em rất là khó nhiều em khi thực
hiện động tác không làm được nên mang tâm lý thực hiện cho qua chuyện .
Nhưng với phương pháp phươ
ng tiện tập luyện mới thì đa số học sinh thực hiện
PHẦN PHỤ LỤC
Trang I TÊN ĐỀ TÀI : 1
II ĐẶT VẤN ĐỀ : 2
III CƠ SỞ LÝ LUẬN
2
IV CƠ SỔ THỰC TIỄN 3
V NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
1 Thực trạng 3
2 Giải pháp 4
VI KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU 8
VII KẾT LUẬN 10
VIII ĐỀ NGHỊ 10