Vũ Ngọc Phan với các giá trị văn chương - học thuật dân tộc pot - Pdf 19

Vũ Ngọc Phan với các giá trị
văn chương - học thuật dân tộc Đây là lần thứ Ba tôi được dự lễ kỷ niệm sinh nhật Vũ Ngọc Phan.

Hai lần trước - nhân kỷ niệm 90 năm sinh, vào năm 1992; và 100 năm
sinh, vào năm 2002 - tôi đã có dịp phát biểu, vừa với tư cách người thay
mặt Viện Văn học - là địa chỉ Vũ Ngọc Phan đã có thời gian công tác, trong
vai trò của người khai sáng, cùng với Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Hoài
Thanh, Hoàng ngọc Phách, Trần Thanh Mại, Nam Trân những tên tuổi
sáng giá trong văn chương- học thuật Việt Nam trước 1945; vừa là người
học trò nhỏ, rồi trở thành đồng nghiệp của ông, trên cái vốn đầu nghề
được ông trang bị, qua bộ sách lớn Nhà văn hiện đại.

Mỗi dịp kỷ niệm về Vũ Ngọc Phan, trong tôi lại bồi hồi biết bao cảm
xúc và kỷ niệm về ngôi nhà 20 Lý Thái Tổ, vừa là nơi ở, vừa là nơi làm
việc; ở đó có một phòng cho gia đình ông bà Vũ Ngọc Phan - Hằng
Phương - bây giờ là kho sách Thư viện; và tôi là cậu sinh viên vừa ra
trường có chút tò mò không hiểu sao một tên tuổi như Vũ Ngọc Phan lại
không có nhà riêng, lại phải ở nhờ cơ quan; và sao gia đình vắng vẻ thế,
ngoài ông bà ngày hai buổi làm việc ở Phòng Cổ Cận Dân trên gác, chỉ
thấy có cô Phi Hồng, chú Triệu Mân lặng lẽ vào ra, và cậu Vũ Ngọc
Phương thoăn thoắt chạy nhảy. Chỉ sau đó ít lâu khi gia đình bác chuyển
sang gian gác hai ngôi nhà số lẻ, đối diện với Viện, thì thỉnh thoảng tôi
mới được thấy chị Giáng Hương và anh Lê Cao Đài; còn các anh khác thì
mãi sau này tôi mới biết.


tuổi đặc biệt thân thiết với bác Phan, cũng như đối với nhiều người trong
chúng ta như Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài

Một cuộc đời với trên dưới 60 năm hoạt động không mỏi mệt trên
nhiều lĩnh vực, ở mỗi lĩnh vực đều có đóng góp; và sự nghiệp để lại, nếu
như tính toán cho thật triệt để theo sự thanh lọc của thời gian, mà vẫn còn
để lại được, với dấu ấn khá đậm, ở phần nửa đầu thế kỷ là bộ sách Nhà
văn hiện đại đồ sộ, và phần nửa sau thế kỷ là Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt
Nam được tái bản đến lần thứ mười hai, - một cuộc đời như vậy rất đáng
cho chúng ta kính trọng, và một sự nghiệp như vậy rất đáng cho chúng ta
biết ơn. Tôi thấy cần nhấn mạnh thêm về vị trí mở đầu của hai bộ sách mà
tác giả là người khai phá, và là một mở đầu rất đặc biệt, vì tầm vóc lớn của
nó, vì khả năng tổng hợp của nó - qua đó thấy tác giả không chỉ là người
gắn bó, tâm huyết với nghề, mà còn là người có tác phong chu đáo, cẩn
trọng và có trách nhiệm rất cao với nghề.

Xin được dừng lại lâu hơn một chút ở bộ sách Nhà văn hiện đại, với
chân dung và sự nghiệp của 79 tác giả, mà suốt hơn nửa thế kỷ sau khi bộ
sách ra đời, không người nghiên cứu, phê bình văn học hiện đại nào mà
không cần đến nó như một bộ sách công cụ cực kỳ quan trọng cho việc
tìm hiểu diện mạo văn học dân tộc trong bước chuyển gấp rút từ trung đại
sang hiện đại. Tôi còn nhớ lần đầu được tiếp xúc với bộ sách, ở tuổi nhỏ
ham sách, do đầu óc còn non, nên cái hăm hở đầu tiên là tìm đọc cho hết
các trích đoạn in nghiêng thơ và truyện được tuyển chọn để phân tích,
thấy đoạn nào, câu nào cũng hay, nhờ thế mà sau này lớn lên không còn
bị xa lạ với các tên sách, tên tác giả của 45 năm văn học trong nửa đầu thế
kỷ. Rồi sau khi vào nghề mới lĩnh hội được dần dần các giá trị khoa học
của nó. Quả là cuốn sách đạt được chất lượng rất cao ở cả hai phẩm chất:
khảo cứu và phê bình. Về khảo cứu: đó là một công phu lao động cực kỳ
chu đáo, tỉ mỉ, một khổ công ghê gớm trong sưu tập và bao quát tư liệu để

sự bỏ sót, và cũng chẳng phải là cớ để trách Vũ Ngọc Phan.

Khoảng trên dưới 20 năm gần đây, khi chủ trì một số công trình về
văn học Việt Nam hiện đại, khi hướng dẫn và chấm các luận án Tiến sĩ,
Thạc sĩ về lý luận văn học và văn học hiện đại, tôi luôn luôn nhắc nhở,
nhấn mạnh bộ sách Nhà văn hiện đại là tài liệu không được phép vắng
thiếu trong các Thư mục nghiên cứu của các học viên; và những ý kiến,
nhận xét, đánh giá của Vũ Ngọc Phan về một tác giả nào đấy luôn luôn là
cơ sở, là điểm tựa cho sự phát triển hoặc điều chỉnh các luận điểm của
công trình và luận án. Và tôi nghĩ, ở hiện tượng này, giá trị khoa học trong
công trình của Vũ Ngọc Phan đang không ngừng được mở rộng

Khía cạnh thứ hai về giá trị của Nhà văn hiện đại tôi muốn nói - đó là:
chính bộ sách là hiện thân, là đại diện, là sản phẩm, là sự kết tinh ở đỉnh
cao thành tựu của tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc diễn ra chỉ trong
hơn 30 năm nếu tính từ khởi điểm Nguyễn Văn Vĩnh, Hồ Biểu Chánh, Tản
Đà, Phạm Duy Tốn, Hoàng Ngọc Phách, Vũ Đình Long

Trong sự phát triển của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, thời kỳ
1930-1945 theo tôi là thời kỳ hoàn thiện diện mạo hiện đại của văn học dân
tộc, thời kỳ kết tinh và đưa lên đỉnh cao thành tựu của tất cả các khuynh
hướng sáng tác và thể loại, với Thơ mới và Tự lực văn đoàn; với trào lưu
hiện thực và tùy bút Nguyễn Tuân, truyện và kịch lịch sử của Nguyễn Huy
Tưởng; với Tố Hữu và Nhật ký trong tù Và, ở giai đoạn cuối của nó, cố
nhiên là không thể sớm hơn, đó là sự xuất hiện các công trình khảo cứu,
nghị luận, phê bình thật sáng giá của Đào Duy Anh, Dương Quảng Hàm,
Nguyễn Đổng Chi, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Đặng Thai Mai

Vậy là ở tuổi 40, với đột phá là Nhà văn hiện đại; ở tuổi ngoài 60, trở
về với văn học dân gian, 50 năm hành trình nghề nghiệp của Vũ Ngọc

ông, trong đó, ông đâu có để sót một gương mặt lãng mạn nào, kể từ Nhất
Linh, Khái Hưng đến Vũ Hoàng Chương; không những thế, còn phải đi
ngược lên vị trí những người khai mạc nền văn chương- học thuật Quốc
ngữ, như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng
Kim

Còn nhớ, những tên tuổi tôi vừa dẫn trên, tất cả đều là đích ngắm,
hoặc trong tầm ngắm của giới phê bình- nghiên cứu văn học một thời.

Mãi nhiều năm sau này tôi mới cảm nhận và giải thích được một ít
cái lặng lẽ, và lủi thủi của một lớp người sáng danh đã kể trên trong dàn
cán bộ lão thành của Viện Văn học.

Năm 1961 trong sách Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX,
Đặng Thai Mai có đoạn viết về Phạm Quỳnh - “tiên sinh kính trắng” như
“là một người đã đọc khá nhiều sách và đã đem học thức ra bán rẻ cho
bọn thống trị; là một nhà “học giả” có đủ chữ Hán và tiếng Việt để bịp
người Tây; và cũng có đủ chữ Tây để lòe người “An nam”
(1)
. 24 năm sau,
trong Hồi ký ông vẫn tiếp tục nhận định trên nhưng có thêm một ý ngắn:
“Cụ Bùi hồi này (tức Bùi Kỷ), cùng với Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh là ba
nhà trí thức cỡ lớn của thủ đô”
(2)
.

Hoài Thanh trước khi mất, năm 1982, nói với con là Từ Sơn: “Cha
biết văn chương của cha cũng chỉ vầy vậy thôi. Nếu không có cuốn Thi
nhân Việt Nam thì đã không chắc gì người ta công nhận cha thực sự là
một nhà văn”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status