ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRẦN THỊ NGỌC MỸ
KHẢO SÁT SỰ BIỂU HIỆN CỦA HER2 TRONG
UNG THƯ VÚ BẰNG CÁCH KẾT HỢP PHƯƠNG
PHÁP HÓA MÔ MIỄN DỊCH VÀ LAI TẠI CHỖ
GẮN HUỲNH QUANG Chuyên ngành: Di truyền học
Mã số: 60 42 70
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.BS. ÂU NGUYỆT DIỆU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011
L
L
ơ
ơ
ø
ø
i
i
những niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống.
Lời cuối cùng, tôi xin gửi đến Ba Mẹ và các anh em của tôi với những lời biết ơn và tình
cảm sâu sắc tận đáy lòng, đã luôn yêu thương, chăm sóc và dạy dỗ tôi lớn khôn như ngày nay.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả!
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Tiếng Anh Viết tắt
American Society of Clinical Oncology/College of
American Pathologists
ASCO/CAP
Breast Cancer BRCA
Carcinom CAR.
Deoxyribonucleotide acids DNA
Epidermal growth factor receptor EGFR
Estrogen receptor ER
Fluorescent in situ hybridization FISH
Hematoxylin-Eosin H&E
Human epidermal (Growth Factor) receptor-2 HER2
Immunohistochemistry IHC
Immuglobulin Ig
Message ribonucleotide acids mRNA
Not otherwised specific NOS
Progesteron receptor PR
Silver in situ hybridization SISH
Tumor, node, metastasis TNM
1.2 Sinh học của gen HER2 trong ung thư vú 19
1.2.1 Giới thiệu gia đình HER 19
1.2.2 Giới thiệu HER2 trong ung thư vú 21
1.2.3 Giá trị tiên lượng của HER2 23
1.2.4 Giá trị tiên đoán củ
a HER2 24
1.2.4.1 HER2 và liệu pháp nội tiết 24
1.2.4.2 HER2 và hóa trị liệu 25
1.2.4.3 HER2 và trị liệu nhắm trúng đích 25
1.3 Phương pháp xét nghiệm HER2 27
1.3.1 Hóa mô miễn dịch (Immunohistochemistry – IHC) 27
1.3.1.1 Lịch sử phát triển 27
1.3.1.2 Nguyên tắc 27
1.3.1.3 Kháng nguyên 28
1.3.1.4 Kháng thể 28
1.3.1.5 Hệ thống nhận biết 28
1.3.1.6 Các phương pháp nhuộm Hóa mô miễn dịch 29
1.3.2 Lai tại chỗ gắn huỳnh quang 33
1.3.2.1 Lịch sử phát triển 33
1.3.2.2 Nguyên tắc của kỹ thuật FISH 34
1.3.2.3 Đoạn dò 34
1.3.2.4 Sự biểu hiện của các gen trong kỹ thuật FISH 34
1.3.2.5 Ứng dụng của kỹ thuật FISH 35
1.3.3 So sánh phương pháp hóa mô miễn dịch và lai tại chỗ gắn huỳnh quang. 36
CH
ƯƠNG 2: VẬT LIỆU – PHƯƠNG PHÁP
2.1 Địa điểm thực hiện đề tài 37
2.2 Đối tượng nghiên cứu 37
2.3 Tiêu chuẩn chọn mẫu 37
2.4 Tiêu chuẩn loại trừ 37
3.9.1 Liên quan giữa gen HER2 và tuổi 70
3.9.2 Liên quan giữa gen HER2 và loại mô học 71
3.9.3 Liên quan giữa gen HER2 và độ mô học 73
3.9.4 Liên quan giữa gen HER2 và di căn hạch 74
3.9.5 Liên quan giữa gen HER2/FISH và thụ thể estrogen, progesteron 75
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ
4.1 KẾT LUẬN 78
4.2 ĐỀ NGHỊ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Xếp giai đoạn 13
Bảng 1.2: Cách tính điểm độ mô học theo phương pháp Elston và Ellis 16
Bảng 1.3: So sánh phương pháp IHC và FISH 36
Bảng 2.1: Quy trình xử lý mô tự động 39
Bảng 2.2: Quy trình nhuộm tự động H&E 40
Bảng 2.3: Cách đánh giá sự khuếch đại gen HER2 trong FISH 46
Bảng 3.1: Phân bố nhóm tuổi 47
Bảng 3.2: So sánh phân bố tuổi với các nghiên cứu khác 48
Bảng 3.3: Phân bố loại mô học 49
Bảng 3.4: So sánh phân bố loại mô h
ọc theo tỷ lệ với các nghiên cứu khác 51
Bảng 3.5: Phân bố độ mô học 52
Bảng 3.6: So sánh tỷ lệ độ mô học với các nghiên cứu 53
Bảng 3.7: Tình trạng di căn hạch 53
Bảng 3.8: Sự biểu hiện của thụ thể estrogen, progesterone 54
Bảng 3.9: So sánh sự biểu hiện của thụ thể ER và PR với các nghiên cứu 56
Bảng 3.10: Sự biểu hiện của thụ thể HER2 56
Bảng 3.11: So sánh sự biểu hiện vượt mức của thụ thể HER2 với các nghiên cứu
Hình 1.9: Vai trò của kháng thể
đơn dòng trong trị liệu nhắm trúng đích 26
Hình 1.10: Kháng thể đa dòng và kháng thể đơn dòng 28
Hình 1.11 : Phương pháp trực tiếp 30
Hình 1.12: Phương pháp gián tiếp hai bước 30
Hình 1.13: Phương pháp gián tiếp ba bước 31
Hình 1.14: Phức hợp miễn dịch enzyme tan 32
Hình 1.15: Phương pháp (strept)avidin-biotin 33
Hình 1.16: Nguyên tắc của FISH 35
Hình 2.1: Kết quả biểu hiện protein HER2 trong IHC 43
Hình 2.2: Kết quả khuếch đại gen HER2 trong kỹ thuật FISH 46
Hình 3.1: Sự biểu hiện củ
a thụ thể HER2 được đánh giá 0 điểm 59
Hình 3.2: Sự biểu hiện của thụ thể HER2 được đánh giá 1 điểm 59
Hình 3.3: Sự biểu hiện của thụ thể HER2 được đánh giá 2 điểm 60
Hình 3.4: Sự biểu hiện của thụ thể HER2 được đánh giá 3 điểm 60
Hình 3.5: Kết quả khuếch đại gen HER2 âm tính (Mã số tiêu bản DV10.2149)
63
Hình 3.6: Kết quả khuếch đại gen HER2 âm tính (Mã số tiêu bản A11.3244)
63
Hình 3.6: Kết qu
ả khuếch đại gen HER2 âm tính (Mã số tiêu bản A11.3244)
63
Hình 3.7: Kết quả khuếch đại gen HER2 dương tính (Mã số tiêu bản DV11.1342)
64
Hình 3.8: Kết quả khuếch đại gen HER2 dương tính (Mã số tiêu bản DV11.1089)
64
những mối quan hệ, cách sống và những ý niệm về cơ thể của họ. Một phụ nữ hiểu
biết và có thông tin tốt thì sẽ giữ một vai trò chủ
động trong điều trị, và sẽ xây dựng
được một tinh thần lạc quan đóng góp phần quan trọng vào việc chiến thắng căn
bệnh.
Vậy, để làm cho ung thư vú không phải là một căn bệnh nguy hiểm, chúng ta
cần phải tìm hiểu rõ về căn bệnh này. Chúng ta cần phải có thêm hiểu biết để phát
hiện sớm, chẩn đoán đúng và điều trị đúng. Đó chính là chìa khóa để
đạt kết quả tốt
nhất cho bệnh nhân.
2
Trong điều trị ung thư vú, việc đánh giá tiên lượng bệnh chính xác giúp các
bác sĩ lâm sàng có những quyết định xử trí bệnh tốt nhất. Hiện nay có rất nhiều yếu
tố tiên lượng bệnh và cũng giúp ích rất nhiều cho việc điều trị. Nhờ vào sự tiến bộ
của lĩnh vực y sinh học, người ta đã tìm ra được nhiều yếu tố tiên lượng quan trọng
của ung thư vú, trong
đó có gen HER2. HER2 đã cung cấp được những thông tin
cần thiết hơn để các bác sĩ lâm sàng có thể lựa chọn mô thức điều trị phù hợp hơn
cho từng trường hợp cụ thể. Khảo sát HER2 có thể ở mức độ protein hay mức độ
phân tử. Có nhiều kỹ thuật đánh giá sự biểu hiện quá mức protein Her2 như: Hóa
mô Miễn dịch (IHC), ELISA, Western blot; và những phương pháp được sử dụng
để
đánh giá mức độ khuyếch đại của gen Her2 bao gồm Southern blot, slot blot, lai
tại chỗ gắn bạc (SISH), lai tại chỗ gắn huỳnh quang (FISH), PCR. Tuy nhiên, trên
thực tế, người ta không sử dụng kỹ thuật Southern blot và Western blot vì nó có thể
cho kết quả âm tính giả hoặc dương tính giả, và cần số lượng lớn mẫu mô trong sinh
thiết. PCR là một kỹ thuật nhạy, nhưng việc phân tích mất nhiều thời gian và đòi
hỏi nhiều công đ
oạn. Hơn nữa, việc thiếu đánh giá hình thái mô học cũng là một bất
4
Ung thư vú là các tế bào bất thường gọi là tế bào ung thư phát triển t
ừ những
tế bào nhu mô của vú. Nếu không chữa trị sớm, các tế bào ung thư sẽ phát triển
nhanh chóng trong vú, đi vào các mạch máu hay mạch bạch huyết, chạy tới các
hạch, có thể lan đến các bộ phận khác, gây ra đau đớn cho cơ thể và cuối cùng dẫn
đến tử vong [91].
Hơn 90% các trường hợp ung thư vú là các carcinôm. Carcinôm tuyến vú là u
ác tính xuất nguồn từ các tế bào biểu mô lót các nang tuyến hoặc ống dẫn của vú.
1.1.3 Lị
ch sử của ung thư vú [83], [84]
Ung thư vú là một bệnh cổ xưa, nó đã được đề cập trong hầu hết thời gian của
lịch sử. Các bác sĩ đã ghi nhận rằng bệnh ung thư vú có thể được nhìn thấy khi quan
sát bên ngoài, tiến triển từ một khối u nhỏ đến khối u lớn. Trong lịch sử, ngực mang
niềm tự hào, kỳ vọng văn hóa cho người phụ nữ, ngực có ch
ức năng nuôi con và
nghĩa vụ tình dục.
Hơn 3.500 năm trước, người Ai Cập cổ đại là những người đầu tiên chú ý đến
căn bệnh này. Trong một tài liệu của Edwin Smith và George Ebers đã mô tả về tình
trạng bệnh giống như ung thư vú ngày nay. Năm 460 trước công nguyên,
Hippocrate (460- 375 B.C), người sáng lập ra nền y học hiện đại đã mô tả ung thư
vú là một bệnh dịch thể. Theo Hippocrate, cơ thể con người đượ
c cấu thành bởi bốn
chất cơ bản gọi là thể dịch. Cân bằng bốn chất này là điều kiện cơ bản để con người
khỏe mạnh. Bốn thể dịch là: máu, mật đen, mật vàng và niêm dịch – tương ứng với
bốn nguyên tố cơ bản cấu thành vũ trụ là: không khí, đất, lửa và nước. Đối với
Hippocrate, ung thư là do dư thừa mật đen, kh
ối u vú không được điều trị sẽ có màu
đen và cứng, cuối cùng sẽ phun trào qua da với các chất dịch màu đen. Khi ấy, một
6
viêm mủ trong vú, trộn l
ẫn với máu, đi vào tuyến sữa và khô thành một khối. Một
nhận định từ Nicolas Le Cat cho rằng trầm cảm cũng là nguyên nhân gây ra bệnh
7
ung thư. Lorenz Heister cho rằng những người phụ nữ không có con có nguy cơ
cao, trong khi những người khác thì đổ lỗi cho một lối sống ít vận động.
Năm 1757, Henri Le Dran, một bác sĩ hàng đầu người Pháp, cho rằng phẫu
thuật thực sự có thể chữa bệnh ung thư vú khi các hạch bạch huyết ở nách nhiễm
bệnh được phẫu thuật cắt bỏ. Các bác sĩ lúc bấy giờ đều tin rằng sự hiện di
ện của
một khối u không nhất thiết hàm ý một vấn đề nghiêm trọng, nhưng là một căn bệnh
có thể được phẫu thuật cắt bỏ trước khi nó xâm nhiễm. Lý thuyết này được nhắc
đến trong thế kỷ XX và đã dẫn đến việc phát minh ra phẫu thuật triệt để. Phẫu thuật
triệt để là tiêu chuẩn vàng trong 100 năm tới. Tuy nhiên, đối với William Halstead,
phẫu thuật cắt bỏ
vú, hạch nách, cơ ngực vẫn chưa đủ. Halstead khuyên nên cắt
rộng ra xung quanh khối u, loại bỏ tất cả các mô ở một bộ phận.
Năm 1895, bác sĩ người Scotland, George Beatson phát hiện ra rằng việc cắt
bỏ buồng trứng từ một trong những bệnh nhân của ông đã giảm khối u ở vú. Thông
tin này được lan rộng và nhanh chóng được thực hiện để “phòng ngừa”. Phẫu thuật
này bao gồm cắt bỏ
cả hai buồng trứng và cắt bỏ vú hoàn toàn. Tuy nhiên, như thế
sẽ làm suy sụp sức khỏe, do đó năm 1920, hầu hết các bác sĩ phẫu thuật sử dụng
cách cắt buồng trứng chỉ như là phương cách cuối cùng.
Năm 1955, George Crile bắt đầu lập luận rằng ung thư không ở chỉ một chỗ
mà ở khắp cơ thể. Bernad Fisher cũng đã thay đổi cách điều trị b
ằng cách sửa đổi
thuyết di căn, giống như Hippocrate, lập luận rằng tế bào ung thư đi khắp các hệ
thống tuần hoàn và bạch huyết; phẫu thuật không thể chữa khỏi bệnh ung thư vì các
phụ nữ. Ung thư vú ở phụ nữ có xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 92,04 (trên 100.000
dân) ở Châu Âu và 67,48 ( trên 100.000 dân) trên toàn thế giới.
Năm 2005, theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giớ
i (WHO) có khoảng 1.200
ngàn người bị ung thư vú và theo Hiệp hội phòng chống Ung thư Hoa Kỳ phát hiện
khoảng 270 ngàn trường hợp mới, tương đương 1/10 dân số nữ giới mắc bệnh.
Tỷ lệ mắc ung thư vú có khoảng dao động lớn giữa các nước. Tỷ lệ mắc ung
thư vú cao nhất là ở Hoa Kỳ và Bắc Âu, kế đến là Nam Âu và thấp nhất là ở Châu
Á. Ước tính trung bình cứ 8 phụ nữ Mỹ
thì có 1 người mắc bệnh ung thư vú. Tại
Pháp, tỷ lệ này là 1/10. Tỷ lệ chết do ung thư vú tăng theo tỷ lệ mắc. Tuy nhiên, ở
một số nước phát triển, mặc dù tỷ lệ mắc gia tăng nhanh chóng nhưng tỷ lệ chết vẫn
giữ được mức ổn định nhờ các tiến bộ trong sàng lọc phát hiện bệnh sớm và những
thành tựu đạt được trong điều tr
ị, đặc biệt là điều trị hệ thống.
9
Ở Mỹ, mỗi năm có khoảng 180.000 trường hợp mới mắc và 44.000 trường
hợp chết do ung thư vú.
Tại Vương Quốc Anh, có 45.000 trường hợp được chẩn đoán và 12.500 ca tử
vong mỗi năm.
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu về ung thư trong những năm gần đây tại Hà
Nội, Tp. HCM và các tỉnh phía Nam cho thấy tỷ ung thư vú đứng đầu trong các loại
ung thư ở phụ nữ. Hằng nă
m có khoảng 800/2 triệu ca tại Hà Nội; khoảng 600/3
triệu ca tại Tp. HCM và phần lớn bệnh nhân trên 40 tuổi.
Ung thư vú có xu hướng tăng lên ở tất cả các nước đặc biệt là các nước đang
có lối sống phương Tây hóa một cách nhanh chóng như Nhật Bản và Singapore.
Người ta nhận thấy tỷ lệ mắc ung thư vú tăng gấp 2 lần so với những năm 50 thế kỷ
XX ở một số nướ
ình từ lâu đã được công nhận là có liên quan đến ung thư vú, tuy
nhiên yếu tố này chỉ chiếm 10-15% các trường hợp ung thư vú. Phần lớn ung thư vú
gia đình đều có đột biến gen. Các gen ung thư vú được truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác có thể gây ra ung thư vú. Các nhà nghiên cứu về gen đã ghi nhận một vùng
của nhiễm sắc thể 17 (mang gen BRCA1 và BRCA2) có liên quan đến việc xuất
hiện sớm ung thư vú trong một số gia đ
ình. Hội chứng Li-Fraumeni, với đột biến
của gen p53 cũng được ghi nhận ở những bệnh nhân bị ung thư vú sớm [10].
b. Nơi sinh
Tỷ lệ mắc ung thư vú khác nhau ở từng nước. Phụ nữ được sinh ra ở Bắc Mỹ,
Châu Âu có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn phụ nữ ở Châu Á hay Châu Phi. Phụ
11
nữ di cư từ vùng có nguy cơ thấp sang vùng có nguy cơ cao thì nguy cơ mắc bệnh
tương tự vùng mới, di cư ở độ tuổi trẻ càng có nhiều nguy cơ hơn so với nơi họ
được sinh ra [10].
c. Tuổi
Nguy cơ mắc bệnh tăng lên theo tuổi. Phụ nữ dưới tuổi 30 hiếm khi mắc bệnh
ung thư vú. Ước tính nguy cơ mắc ung thư vú theo tuổi như sau:
Nguy cơ cho đến 25 tu
ổi: 1/15000 phụ nữ
Nguy cơ cho đến 30 tuổi: 1/1900
Nguy cơ cho đến 40 tuổi: 1/200
Nguy cơ cho đến 50 tuổi: 1/50
Nguy cơ cho đến 60 tuổi: 1/23
Nguy cơ cho đến 70 tuổi: 1/15
Nguy cơ cho đến 80 tuổi: 1/11
Nguy cơ cho đến 85 tuổi: 1/10
Nguy cơ cho cả cuộc đời (mọi lứa tuổi): 1/9
d. Giới tính
1.1.5.1 Xếp giai đoạn [92]
Carcinôm tuyến vú được phân loại TNM dựa vào kích thước khối u, có hoặc
không di căn hạch (N), di căn xa (M). U có kích thước lớn, di căn hạch và di căn xa
có tiên lượng xấu.
– Khối u
Tx: không thể xác định được bướu nguyên phát.
Tis: carcinôm ống tuyến vú tại chỗ, carcinôm nang tuyến vú tại
chỗ, bệnh Paget của núm vú chưa xâm nhập vào mô vú. Các tổn thương này được
xem nh
ư các tổn thương tiền ung thư.
T1: khối u nhỏ hơn hay bằng 2 cm.
T2: khối u lớn hơn 2 cm nhưng nhỏ hơn hay bằng 5 cm.
T3: khối u lớn hơn 5 cm.
T4: khối u xâm lấn vào thành ngực hay vào da, khối u viêm tấy.
– Di căn hạch
Nx: không thể xác định hạch các vùng.
N0: không di căn hạch.
N1: có di căn hạch nách cùng bên và hạch còn di động.
13
N2: có di căn hạch nách cùng bên và hạch đã cố định.
N3: có di căn hạch dưới đòn cùng bên.
– Di căn xa
Mx: không thể xác định di căn xa.
M0: không di căn xa.
M1: có di căn xa.
Bảng 1.1: Xếp giai đoạn
3 1 0
3 2 0
IIIB 4 0 0
4 1 0
4 2 0
Bất kỳ 3 0
IV Bất kỳ Bất kỳ 1