BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
MẠC THỊ YẾN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ CHỦ YẾU CỦA LỢN
MẮC PCV2 (PORCINE CIRCOVIRUS TYPE 2) VÀ ÁP DỤNG
PHƯƠNG PHÁP HÓA MÔ MIỄN DỊCH TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH
CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ SỐ : 60.64.01.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN HỮU NAM
HÀ NỘI – 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
LỜI CAM ĐOAN
và có được số liệu thực tế để xây dựng luận văn.
Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn ban Lãnh đạo Cơ quan Thú y Vùng II,
các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, tạo điều kiện, động viên tôi trong quá
trình học tập và hoàn thành luận văn này. Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn Mạc Thị Yến Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
MỞ ĐẦU i
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu về bệnh do PCV2 (Porcine Circovirus type 2)
gây ra trên lợn 3
2.3.5 Phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch (Immunohistochemistry – IHC) 27
2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 28
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 Kết quả nghiên cứu tỷ lệ mắc PMWS 29
3.2 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu huyết học ở lợn bệnh 31
3.2.1 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu hệ hồng cầu lợn bệnh 32
3.2.2 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu bạch cầu ở lợn bệnh 34
3.3 Kết quả xác định một số triệu chứng lâm sàng chủ yếu 36
3.4 Kết quả bệnh tích đại thể trên một số cơ quan của lợn mắc PMWS 39
3.5 Tổn thương vi thể 42
3.6 Kết quả phản ứng hóa mô miễn dịch 49
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
1 Kết luận 53
2 Đề nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ab-ELISA : Antibody Enzym Linked Immunosorbent Assay
APP : Actinobacillus pleuropneumoniae
CSFV : Classical Swine Fever Virus
DNA : Deoxyribonucleic acid
ELISA : Enzym Linked Immunosorbent Assay
IFA : Indirect Immunofluorescense Assay
IPMA : Immuno Peroxidae Monolayer Assay
ISH : In Situ Hybridization
3.4 Kết quả khảo sát chỉ tiêu bạch cầu của lợn mắc PMWS 35
3.5 Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc PMWS 37
3.6 Biến đổi bệnh tích đại thể của lợn mắc PMWS 39
3.7 Biến đổi bệnh tích vi thể ở lợn mắc PMWS 43
3.8 Kết quả nhuộm hóa mô miễn dịch xác định sự phân bố của virus ở
các cơ quan 50
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
1.1 Phân loại thành viên của họ Circoviridae 9
1.2 Cấu trúc của PCV2 theo Hamel và cs. (1998) 9
1.3 Tình hình nhiễm PMWS trên thế giới (Allan và Ellis, 2000) 13
3.1 Lợn còi cọc, xù lông 38
3.2 Lợn bị viêm da 38
3.3 Lợn ủ rũ, mệt mỏi, lười vận động 38
3.4 Hạch dưới hàm, hạch màng treo ruột sưng, xuất huyết 41
3.5 Gan sưng, tụ máu 41
3.6 Phổi xuất huyết 41
3.7 Hạch màng treo ruột sưng, xuất huyết; Thành ruột mỏng 41
3.8 Thận sưng, xuất huyết 42
3.9 Lách sưng, nhồi huyết 42
3.10 Thâm nhiễm tế bào viêm ở gan (H.E 10X) 47
3.11 Thâm nhiễm tế bào viêm ở gan (H.E 40X) 47
3.12 Thâm nhiễm bạch cầu ái toan ở lợn nhiễm Circovirus (H.E 20X) 47
3.13 Thâm nhiễm bạch cầu ái toan ở lợn nhiễm Circovirus(H.E 40X) 47
nghiệp ở nước ta, chiếm 27% – 28% tổng giá trị toàn ngành. Để đáp ứng tốt hơn
nhu cầu ngày càng cao của xã hội về các sản phẩm chăn nuôi, xu hướng chăn nuôi
đã chuyển từ nhỏ lẻ, phân tán sang tập trung, trang trại. Trong đó, chăn nuôi lợn
cũng không phải là một ngoại lệ với sản lượng đáp ứng khoảng 75% – 80% nhu cầu
của xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những bất ổn về giá cả, nguồn gốc thức ăn sử dụng
trong chăn nuôi, các chất tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi thì dịch bệnh bùng phát
cũng khiến cho ngành chăn nuôi lợn gặp nhiều khó khăn và thách thức. Một trong
các bệnh đang gây thiệt hại lớn và lưu hành với tỷ lệ cao trên đàn lợn ở Việt Nam
và nhiều nơi trên thế giới đó là bệnh do Porcine Circovirus type 2 (PCV2) gây ra.
PCV2 có cấu tạo DNA (single-stranded DNA) (với khoảng 1,76 – 1,77 kilobase)
(Meehan và cs., 1998). PCV2 gây suy giảm hệ thống miễn dịch (suy giảm tế bào
lympho), cùng với các tác nhân gây bệnh kế phát khác gây nên hội chứng bệnh liên
quan với PCV2 (PCVAD) gồm có: Hội chứng suy đa tạng ở lợn sau cai sữa
(PMWS), hội chứng Viêm da sưng thận (PDNS), rối loạn sinh sản ở lợn, phức hợp
bệnh hô hấp trên lợn (PRDC), viêm phổi hoại tử và tăng sinh (PNP).
Hội chứng suy đa tạng ở lợn sau cai sữa (PMWS) được phát hiện lần đầu tiên
ở miền Tây Canada vào năm 1991, sau đó cũng được tìm thấy ở Bắc Mỹ, châu Âu,
châu Á (Harding và cs., 1998) với các đặc điểm như: giảm khối lượng cơ thể, còi
cọc, chậm lớn, suy hô hấp, khó thở, hoàng đản, hạch lympho sưng to, tiêu chảy trên
lợn trong giai đoạn 5 – 12 tuần tuổi. Hiện nay, PMWS đang trở nên rất phổ biến và
gây thiệt hại lớn về kinh tế và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe đàn lợn chăn nuôi quy
mô công nghiệp của thế giới. PCV2 đã được phân lập từ lợn mắc PMWS ở nhiều
nơi trên toàn thế giới có mức độ tương đồng về trình tự nucleotide là 94,6% –
99,0% (Fenaux và cs., 2000).
Ở nước ta các năm gần đây, hội chứng bệnh liên quan tới PCV2 trong đó hội
chứng suy đa tạng ở lợn sau cai sữa đang được coi là vấn đề gây thiệt hại đáng kể
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
cho ngành chăn nuôi lợn như: giảm khối lượng tăng trọng của lợn, lợn còi cọc, sinh
khác gồm hội chứng viêm da sưng thận (PDNS), rối loạn sinh sản và phức hợp bệnh
đường hô hấp (PRDC), run bẩm sinh (Congenital tremor - CT) (Hines và Lukert,
1994), u hạt ruột (Chae, 2005), viêm biểu bì tiết dịch (Kim và Chae, 2004) và viêm
hạch lympho hoại tử (Chae, 2005). Năm 2002, Allan và cs. đã dùng khái niệm
“bệnh do Circovirus gây ra trên lợn - PCVD” để nhóm tất cả các bệnh và hội chứng
liên quan đến PCV2. Sau đó, tháng 3 năm 2006, Tổ chức thú y Hoa Kỳ (AASV)
đưa ra thuật ngữ “bệnh liên quan tới Circovirus trên lợn – PCVAD (Porcine
Circovirus Associated Disease)” với mục đích như trên. Và hiện nay, PCVD và
PCVAD được sử dụng lần lượt ở Châu Âu và Bắc Mỹ.
Ngày nay, nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả sau thời gian dài đã chỉ ra các
nhân tố thường kế phát với PCV2 như:
Virus: Parvovirus gây bệnh trên lợn (PPV), Virus gây hội chứng rối loạn hô
hấp và sinh sản (PRRSV), Torque teno sus virus (TTSuV), Virus gây bệnh tiêu chảy
thành dịch ở lợn (PEDV), Virus cúm lợn (SIV), Porcine endogenous retrovirus
(PERV), Porcine circovirus type 1 (PCV1), Virus giả dại (PRV), Virus dịch tả lợn
cổ điển (CSFV) (Opriessnig và Halbur, 2012).
Vi khuẩn: Mycoplasma hyopneumoniae, Lawsonia intracellularis,
Salmonella spp, Streptococcus suis, Escherichia coli, Actinobacillus
pleuropneumoniae, Haemophilus parasuis.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Động vật nguyên sinh, đa bào và nấm: Pneumocystis spp, Cryptosporidium
parvum, Metastrongylus elongatus (Marruchella và cs., 2011).
Ở Canada: Harding và cs. (1998) đã xác định dịch tễ học và triệu chứng lâm
sàng của lợn mắc PMWS: Ở lợn sau cai sữa tỷ lệ tử vong đạt mức cao nhất vào
tháng thứ 9 của dịch (7,67%), sau đó trở lại vào tháng thứ 16 với tỷ lệ 2,1% – 2,5%.
Các nguyên nhân gây tử vong chủ yếu là còi cọc (giảm cân, hốc hác), hoàng đản
(bệnh gan) và khó thở (bệnh đường hô hấp) (Ronald và cs., 2000). Qua phân tích
các chủng PCV2 thu thập trong các năm 2005, 2006, 2007 ở Canada chủ yếu là
của lợn đực rừng. Trong 38 mẫu dương tính với PCV có 31 mẫu dương tính với
PCV2, còn lại 7 mẫu dương tính với PCV1.
Thái Lan: Năm 1998 những ca bệnh đầu tiên mắc PMWS xuất hiện ở Thái
Lan nhưng có nghiên cứu đã chỉ ra việc phát hiện PMWS trên lợn là từ năm 1993.
Bằng phương pháp PCR đã chỉ ra tỷ lệ nhiễm PCV2 ở Thái Lan là 10%. Phân loại
các chủng PCV2 dựa trên nucleotide 262 – 267 của các trình tự ORF2 phát hiện tại
Thái Lan, PCV2 đang tồn tại một subtype mới là PCV2e. Trong hai subtype PCV2b
và PCV2e, dường như PCV2b chiếm ưu thế (Tippawan, 2011).
Trung Quốc: Sự xuất hiện của PCV2 và PCVAD đã trở thành một trong số
các nguyên nhân làm suy giảm nền kinh tế Trung Quốc khi dịch PMWS bùng phát
đầu tiên ở nhiều trang trại lợn với cường độ cao vào năm 2002 (Wang và cs., 2002).
Lang và cs. (2000) đã kiểm tra 559 mẫu huyết thanh từ 22 đàn lợn ở Bắc
Kinh, Hà Bắc, Sơn Đông, Thiên Tân, Giang Tây, Sơn Tây, Cát Lâm, Hà Nam bằng
phương pháp ELISA cho tỷ lệ dương tính với kháng thể PCV2 là 42,9%, và tỷ lệ
dương tính ở lợn cai sữa là 16,5%, 43,3% ở lợn nái hậu bị, 85,6% ở lợn nái, 51,0%
ở lợn vỗ béo. Sau đó, các vụ dịch PMWS ở Thượng Hải cũng đã được báo cáo (Li
và cs., 2003).
Qua nghiên cứu của Wang và cs. (2009) đã cho thấy những chủng PCV2 phân
lập được giống nhau và giống với những chủng khác (tỷ lệ thấp nhất là 94,6%) và
khác với chủng PCV2 từ châu Âu và Bắc Mỹ (tỷ lệ tương đồng thấp nhất là 93,4%).
Một số chủng PCV2 với gen ORF2 mã hóa 234 axit amin đã được tìm thấy ở Trung
Quốc, không phải ở Bắc Mỹ và Châu Âu (Wang và cs., 2005).
Nghiên cứu giải trình tự gen PCV2 được báo cáo vào năm 2005 bằng việc sử
dụng PCR và phương pháp phân tích RFLP (Wen và cs., 2005). Kiểu gen PCV2 ở
Trung Quốc nằm trong nhánh có kiểu gen 2a và 2b, một số chủng có kiểu gen 2d
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
(chỉ phát hiện ở Trung Quốc), nhưng không có chủng nào có kiểu gen 2c (được phát
hiện ở Đan Mạch) (Dupont và cs., 2008). Kiểu gen PCV-2b chiếm ưu thế hơn hẳn ở
Lê Tiến Dũng (2006) sử dụng kỹ thuật PCR khảo sát trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh cho kết quả 50,77% (33/65) lợn còi dương tính với PCV2 tại 17/22
trại khác nhau của 5/6 địa bàn lấy mẫu.
Nguyễn Tiến Hà (2008) đã kiểm tra 1073 mẫu huyết thanh lợn đực giống và
lợn nái ở 8 tỉnh thành phía Nam trong các năm 2000 – 2006 cho biết tỷ lệ dương
tính huyết thanh học chiếm 38,9% (năm 2000) và 96,47% (năm 2006).
Nguyễn Thị Thu Hồng và cs. (2008) đã khảo sát 17 mẫu bệnh phẩm thu thập
từ năm 2002 – 2007 trên lợn nghi nhiễm bệnh do PCV2 và cho kết quả 6/17
(35,29%) mẫu dương tính với PCV2 ở 5/6 tỉnh thành phía Nam. Qua phân tích trình
tự nucleotide toàn bộ bộ gen virus cho thấy mức độ tương đồng rất cao giữa các
chủng virus tại Việt Nam.
Năm 2009, PCV2 cũng được phát hiện ở 60% mẫu thu thập từ lợn trong dịch
bệnh sốt cao liên quan PRRS (Trần Thị Dân và cs., 2010).
Hội chứng suy đa tạng ở lợn sau cai sữa (PMWS) đã được xác định ở 110/170
(64,71%) lợn còi và loại thải có nguồn gốc từ 2 tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ dựa
trên khảo sát bệnh tích đại thể và vi thể. Trên lợn mắc PMWS, tỉ lệ nhiễm kèm vi
khuẩn E.coli cao nhất (55%), kế là Streptococcus (42,5%), Salmonella (32,5%),
Pasteurella multocida (22,5%) và thấp nhất là Haemophilus parasuis (17,5%).
Nhiễm đồng thời 3 loại vi khuẩn chỉ gặp trên lợn mắc PMWS (20%) (Lâm Thị Thu
Hương, 2012).
Huỳnh Thị Mỹ Lệ và cs. (2012) đã xác định được genotype của PCV2 đang
lưu hành trên đàn lợn nuôi tại 4 tỉnh Hà Nội, Hòa Bình, Bắc Giang và Hải Dương
bằng kỹ thuật nested PCR với 583 mẫu bệnh phẩm thu thập trong năm 2011 – 2012
đều thuộc genotype 2b.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan và Trần Thị Ánh (2012) đã chỉ ra lợn mắc
PCV2 thường nhiễm kèm với một số bệnh khác như PRRS, PPV, và dịch tả lợn với
tỷ lệ nhiễm khá cao với tỷ lệ lần lượt là 32,3%, 3,2%, 6,5%.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Page 9 Họ Circoviridae
Giống Circovirus Giống Gyrovirus
Porcine circovirus-1 Chicken anemia virus (CAV)
Porcine circovirus-2
Beak and feather disease virus
Pigeon circovirus
Canary circovirus
Duck circovirus
Finch circovirus
Goose circovirus
Hình 1.1. Phân loại thành viên của họ Circoviridae
1.2.3. Đặc điểm cấu trúc của PCV2
PCV2 là virus nhỏ nhất, gồm 20 mặt, hạt virion không có vỏ bọc với đường
kính dài 17 ± 1.3 nm (Tischer và cs., 1982). Bộ gen của PCV2 gồm có ssDNA với
khoảng 1,76 – 1,77 kilobase (Meehan và cs., 1998). Hình 1.2. Cấu trúc của PCV2 theo Hamel và cs. (1998)
Gen của PCV2 gồm 11 khung đọc mở giả định (ORFs) (Hamel và cs., 1998),
trong đó 3 protein được mã hóa từ 3 khung đọc mở được quan tâm là:
ORF1 (gen Rep) nằm ở sợi dương theo chiều kim đồng hồ, mã hóa cho 2
protein không tham gia vào cấu trúc là Rep (dài 314 axit amin và có trọng lượng
phân tử là 35,8 kDa) và Rep’ (dài 178 axit amin).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
các hợp chất amoni bậc bốn (Martin và cs., 2008).
Do virus có tính đề kháng cao, ngay trong điều kiện khử trùng nghiêm ngặt
mà vẫn có thể tìm thấy virus trong huyết tương lợn sau điều trị, ngay cả với
chloroform. Virus có thể sống sót lâu dài trong môi trường ô nhiễm (Kwang, 2009;
Welch và cs., 2006).
1.2.5. Cơ chế sinh bệnh
PMWS liên quan tới bệnh ức chế miễn dịch hay suy yếu miễn dịch thể hiện
như sự giảm bớt hay suy giảm tế bào lympho B và lympho T, sự gia tăng số lượng
tế bào đại thực bào, và sự suy giảm cục bộ và sự phân phối lại của tế bào trình diện
kháng nguyên ở tất cả các mô dạng lympho (Chianini và cs., 2003). Tế bào đích của
PCV2 là tế bào đơn nhân lớn, tế bào đại thực bào và các tế bào trình diện kháng
nguyên, tế bào đuôi gai (DC); ở mức thấp hơn là các tế bào biểu mô ống thận, tế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
bào phế quản và tế bào tiểu phế quản; ngoài ra, các tế bào nội mô, tế bào gan, tế bào
lympho khác cũng là tế bào đích (Krakowka và Ellis, 2002). Chang và cs. (2006) đã
báo cáo rằng sự thực bào và khả năng tiêu diệt vi sinh vật của các tế bào đại thực
bào phế nang (tế bào đích đầu tiên của PCV2) lây nhiễm PCV2 qua đường hô hấp
và đường tiêu hóa đã giảm bớt dẫn tới kế phát các mầm bệnh khác.
PCV2 khi xâm nhập vào cơ thể có khả năng sao chép và nhân lên ở tế bào
đại thực bào và tế bào trình diện kháng nguyên của hạch lympho như hạch amidan
và hạch bạch huyết cục bộ, đồng thời khi con vật bị nhiễm các vi khuẩn kế phát sẽ
kích hoạt hệ thống miễn dịch của cơ thể làm cho sự sao chép của virus tăng lên. Sau
khi lây nhiễm và sao chép trong các tế bào đại thực bào cư trú ở niêm mạc và các tế
bào trình diện kháng nguyên, PCV2 có thể tồn tại trong tế bào hay tự do trong hệ
bạch huyết và trong máu. Sự lưu thông của các tế bào đích của PCV2 (tế bào đơn
nhân, đại thực bào, tế bào đuôi gai (DC)) góp phần làm lan rộng sự nhiễm của virus
tới nhiều cơ quan trong cơ thể (Rosell và cs., 1999).
Protein ở lớp vỏ capside hoặc DNA của PCV2 đã ngăn cản quá trình tiêu hóa
nhiễm virus cho tới khi những kháng thể này suy yếu. Kháng thể của lợn sau khi
mắc PMWS có thể tồn tại cho đến 28 tuần tuổi nhưng một vài con lợn vẫn liên tục
mắc bệnh (Rodríguez-Arrioja và cs., 2002).
1.3.1.3. Chất chứa virus
PCV2 có thể bài thải ra ở mũi, hạch amidan, phế quản và nước mắt, cũng
như trong phân, nước bọt, nước tiểu, sữa và tinh dịch (Krakowka và cs., 2000).
Ở lợn đực gây nhiễm, virus được tìm thấy sau 5 – 35 ngày trong tinh dịch.
PCV2 xuất hiện trong máu lợn nái mang thai sau thụ tinh nhân tạo 7 – 14 ngày (tinh
nhiễm PCV2), trong lợn con chết lưu, thai bị sảy, và lợn yếu khi sơ sinh, trong tử
cung lợn nái mang thai là nguyên nhân gây ra sảy thai.
Virus có trong cơ tim và nhiều mô bào bị tổn thương khác ở thai lợn bị sảy,
chết lưu và thai gỗ (Allan, 2006).
Kháng nguyên và acid nucleic PCV2 thường được tìm thấy trong các hạch
lympho sưng to (100%), 88% ở lách, 64% tại phổi, 35% tại thận và 15% tại gan
cũng tìm thấy trong các đại thực bào tại trung tâm của các ổ viêm, biểu mô đường
hô hấp, tế bào biểu mô, niêm mạc và hạ niêm mạc ruột non (Kwang, 2009).
1.3.1.4. Vùng phân bố, tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết
Trên thế giới, PMWS đã được chẩn đoán là có mặt ở khắp tất cả năm châu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
lục. PCV2 đã được phân lập ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Đông Nam Á, trên tất cả các đàn
lợn trên toàn thế giới. Tỷ lệ nhiễm PCV2 trên lợn phổ biến hơn so với PMWS
(Ellis, 2003).
Trong một nghiên cứu ở Nhật năm 2007, có tới 50,4% số đàn bị nhiễm
PCV2 và 23,4% cá thể dương tính với DNA virus PCV2. Ở Canada tỷ lệ lợn chết
sau cai sữa do PMWS là 6,7% ± 5,1% và có thể lên tới 18%. Tỉ lệ tử vong bình
thường ở lợn con là 2% – 3%, có thể tăng lên 14% – 30% ở những đàn nhiễm PCV2
(Harding và cs., 1998). Tỷ lệ mắc bệnh ở trại lưu hành bệnh thường là 4% – 30%
(thỉnh thoảng là 50% – 60%) và tỷ lệ chết dao động từ 4% – 20% (Segalés và
phổ biến ở giai đoạn đầu của bệnh (Clark, 1997; Rosell và cs., 1999).
- Thời gian nung bệnh: qua thí nghiệm cho thấy thời gian ủ bệnh ở lợn từ 2
đến 4 tuần (Gillespie và cs., 2009). Bệnh thường mắc ở lợn từ 5 – 10 tuần tuổi, đôi
khi ở 12 – 16 tuần tuổi, tỷ lệ mắc bệnh ở các trại là 20% – 60%, và tỷ lệ tử vong dao
động từ 5% – 35%, đa số đàn lợn phải chịu đựng phơi nhiễm với vi khuẩn kế phát,
chủ yếu là Haemophilus parasuis (Wang và cs., 2002). Gần đây, tỷ lệ mắc PMWS ở
đàn lợn là 10% – 20%, và tỷ lệ tử vong ít nhất là 10%; tuy nhiên, tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử
vong sẽ tăng khi nhiễm các nhân tố gây bệnh kế phát (H. Yang, quan sát cá nhân).
- Ở lợn nái: PCV2 gây hiện tượng rối loạn sinh sản như sảy thai ở các giai
đoạn mang thai khác nhau, vô sinh, thai gỗ, lợn con sinh ra yếu ớt (Jaret, 2011).
1.3.2.2. Biến đổi bệnh lý ở lợn mắc PCV2
a. Bệnh tích đại thể
Lợn con sau cai sữa và lợn thịt: xác gầy, ngả vàng. Hạch lympho bao gồm
hạch bẹn, hạch màng treo ruột, cuống phổi và hệ ngoại biên sưng to gấp 3 – 4 lần so
với bình thường, đặc biệt là hạch giữa 2 chân sau, hạch màng treo ruột viêm, viêm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
ruột, xuất huyết.
Phổi phù thũng, đặc chắc, không xẹp xuống, các tiểu thùy có màu vàng đến
hồng nhạt hoặc đỏ sẫm. Lách không sưng, tiểu thuỳ gan xuất hiện lốm đốm. Thận
phù, có đốm trắng. Các mô, cơ quan trong xoang ngực, xoang bụng phù nề, ứ dịch
(Kwang, 2009).
Lợn nái nhiễm PCV2 có thể bị sảy thai, thai gỗ, lợn con chết khi sinh ra viêm
cơ tim rất nặng. Có thể tìm thấy virus trong cơ tim và các cơ quan khác của bào thai
(Jaret, 2011).
b. Bệnh tích vi thể
Các tổn thương vi thể tìm thấy trong các cơ quan lympho: hạch lympho, hạch
amidan, mảng peyer ruột và lách. Trong hạch lympho, tổn thương đặc trưng là suy
giảm tế bào lympho, thấy rõ ở các hạch sưng to. Sự xuất hiện của thể vùi và tế bào
1.3.3.2. Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
a. Chẩn đoán virus học
Tế bào PK-15 được sử dụng để nuôi cấy PCV2 trong phòng thí nghiệm.
PCV2 không gây bệnh tích tế bào nên để xác định sự nhân lên của virus nên dùng
các phương pháp miễn dịch huỳnh quang hay nhuộm miễn dịch peroxidase.
b. Chẩn đoán huyết thanh học
Phát hiện kháng thể kháng PCV2 trên lợn mắc PCV2 bằng các phương pháp như:
- Phương pháp trung hòa virus trong huyết thanh.
- Miễn dịch peroxidase trên một lớp tế bào (Indirect Immunoperoxidase
Monolayer Assay – IPMA).
- Miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (Indirect Immunofluorescense Assay – IFA).
- Phương pháp ELISA (Enzym Linked Immunosorbent Assay).
c. Phát hiện axit nucleic của PCV2
- PCR (Polymerase chain reaction): được sử dụng để phát hiện axit nucleic
của PCV2 với độ chính xác và độ nhạy cao (Choi và cs., 2000). Có các biến thể
khác như: multiplex PCR, nested PCR, multiplex-nested PCR, quantitative real time
PCR, reverse transcriptase (RT) PCR.
- Lai tại chỗ (In situ hybridization – ISH): sử dụng một đầu dò DNA phù hợp
với một đoạn đặc biệt của bộ gen PCV2 (Kim và Chae, 2003).
- Restriction Fragment Length Polymorphism (RFLP): RFLP sử dụng
enzyme có khả năng tiêu hóa axit nucleic của virus (một phần hay toàn bộ) mà kết