YHSS
21
BS. Chu Thò Thu Hương – BV. Bưu Điện Hà Nội
V
ô kinh là một trong những triệu chứng của
các bất thường về giải phẫu hoặc nội tiết có
thể làm cho người phụ nữ bò vô sinh. Hiện nay, người
ta đã hiểu rõ hơn về cơ chế sinh bệnh cũng như cách
điều trò một số trường hợp vô kinh và vô sinh. Tuy
nhiên, cũng còn đó các nguyên nhân gây vô kinh
không thể khắc phục được, nhất là
các khiếm khuyết
về mặt giải phẫu, như không có tử cung chẳng hạn.
Vô kinh có 2 dạng: nguyên phát và thứ phát. Vô kinh
nguyên phát là trường hợp bé gái đã qua tuổi dậy
thì mà vẫn không có kinh nguyệt, còn vô kinh thứ
phát là trường hợp mất kinh sau khi đã từng có kinh
bình thường trước đó.
Tất cả những nguyên nhân gây vô kinh nguyê
n phát
đều có thể là những nguyên nhân gây vô kinh thứ
phát, trừ những bất thường bẩm sinh về giải phẫu ở
bộ phận sinh dục và những bất thường bẩm sinh
khác. Thí dụ, hội chứng Turner, hội chứng thượng
thận sinh dục, hội chứng Rokitansky v.v…
Theo tài liệu u, Mỹ, những nguyên nhân phổ biến
nhất của vô kinh thứ phát là ở vùng dưới đồi (78%),
buồng trứng (8%), ngoài bộ phận sinh dục (7%),
tuyến yên (2%). Trong đo
ù, nguyên nhân từ vùng dưới
đồi và tuyến yên là các nguyên nhân trung ương gây
những trung tâm của vùng dưới đồi không được dinh
dưỡng đầy đủ. Thật khó phân biệt vô kinh nguyên
nhân vùng dưới đồi với vô kinh nguyên nhân tuyến
yên vì mặc dầu nguyên nhân là từ vùng dưới đồi
nhưng cuối cùng vẫn dẫn đến kém hoạt động củ
a
tuyến yên.
VÔ KINH THỨ PHÁT NGUYÊN NHÂN TUYẾN YÊN
Vì khả năng dự trữ hoạt động cao của tuyến yên nên
ít khi có vô kinh do nguyên nhân suy tuyến yên. Hay
gặp nhất là suy tuyến yên sau sinh và u tuyến yên.
Trong các khối u, cần phân biệt những khối u không
hoạt động nội tiết như khối u kỵ sắc, u họng - vòm
sọ và những khối u sinh nội tiết như u tế bào ái toan
gây chứng khổng lồ, bệnh lớn cực, u tế bào ái kiềm
gây bệnh Cushing, u tuyến yên sinh prolactin gây
chứng vô kinh tiết sữa. Những khối u tế
bào kò sắc
của tuyến yên tuy không chế tiết hormon, không gây
các triệu chứng nội tiết nhưng cũng gây được vô kinh
do thùy trước tuyến yên bò hủy hoại.
Hội chứng Sheehan
Nguyên nhân
Sau đẻ, tuyến yên giảm nhanh thể tích, song song
với việc giảm khối lượng tuần hoàn chung của sản
phụ. Nếu xảy ra mất máu nhiều trong khi đẻ hoặc
sau khi đẻ thì lượng máu cung cấp cho tuyến yên
càng giảm nhanh và thùy trước tuyế
n yên bò hoại tử.
Khoảng 15% những trường hợp choáng mất máu do
YHSS
23
Sở dó không sạm da là vì tuyến yên bò suy, không
chế tiết được ACTH mà ACTH lại gây sạm da. Trong
bệnh Addison, suy tuyến vỏ thượng thận nên thiếu
corticoid làm cho tuyến yên tăng tiết ACTH và gây
sạm da.
Các xét nghiệm bổ sung
Điều trò
thượng thận, suy tuyến giáp vì các tế bào chế
tiết ACTH và các tế bào chế tiết TSH không bò
tổn hại như những tế bào chế tiết hormon hướng
sinh dục.
Một điểm quan trọng nên lưu ý là mặc dầu có
suy tuye
án vỏ thượng thận chăng nữa, người bệnh
vẫn không có dấu hiệu sạm da. Các dấu hiệu
khác của suy tuyến vỏ thượng thận vẫn có như
giảm huyết áp, mệt mỏi.
Đònh lượng thấy các hướng hormon giảm thấp,
trước hết là các hormon hướng sinh dục.
Đường huyết thấp cũng có giá trò tốt giúp chẩn
đoán bệnh.
Trước hết phải bồi phụ sự thiếu hụt hormon giáp
trạng nếu có biểu hiện suy tuyến giáp.
Nhưng cũng phải cho cortisol (mỗi ngày 10 - 20
mg) để giải quyết tình trạng thiếu hormon của vỏ
loạn hoạt động của hệ thống vùng dưới đồi - tuyến
yên, dẫn đến tăng tiết prolactin, tiết sữa và vô kinh.
Hội chứng Argonz - del Castillo
Vô kinh tiết sữa xảy ra trong trường hợp chưa đẻ
lần nào.
Hội chứng Forbes - Albright
Vô kinh tiết sữa do có khối u tuyến yên.
NHÌN CHUNG
Có tới 50% các trường hợp tiết sữa không rõ nguyên
nhân. Nhưng một số nguyên nhân có thể gây tiết
sữa: dùng estrogen, dùng thuốc chữa bệnh tâm thần
(như Aminazin chẳng hạn), những kích thích ở ngực,
YHSS
24
ở vú (sẹo mổ, bỏng, sang chấn…), những bệnh nội
tiết (thiểu năng giáp trạng, tăng tiết TRH) v.v… làm
tăng tiết prolactin.
Chẩn đoán dựa thêm vào chụp hố yên, khám mắt
xem có dấu hiệu chèn ép vào giao thoa thò giác của
tuyến yên to không, đònh lượng prolactin xem có cao
không (bình thường 15 - 450mUI/ L).
ĐIỀU TRỊ
Nếu không thấy có nguyên nhân thực thể, có thể
dùng 2 - brom - alpha - ergocriptin, tức bromocriptin
(biệt dược hay được dùng là Parlodel) dùng kéo dài
qua nhiều tháng, mỗi ngày 1 - 2 viên, mỗi viên
2,5 mg. Có thể tăng liều sử dụng đến 5 mg hoặc
7,5 mg. Tác dụng phụ có thể có là buồn nôn, nhức
đầu, chóng mặt, có khi ngất xỉu do tác dụng hạ
huyết áp khi thay đổi tư thế. Nên cho bệnh nhâ
mục đích kích thích phóng noãn, ngoài việc sử dụng
Parlodel, có thể dùng clomifen citrat, nhưng kết quả
thường kém hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1BENSON & PERNOLL’S. Handbook of obstetrics and gynecology. Chapter 25: Menstrual abnormalities and complications. 2001,
707 - 726.
BROWN, M. A. Primary dysmenorrheal. Nursing Clinics of North America. 2005, 17, 145 - 152.
Higham JM, O'Brien PMS, Shaw RW. Assessment of menstrual loss using a pictorial chart. Br J Obstet Gynaecol 1990; 97: 734 - 739.
ISRAEL, S. Diagnosis and treatment of menstrual disorders and sterility. New York: Hoeber Medical division, Harper and Row. 2006.
NGUYỄN KHẮC LIÊU. Kinh nguyệt và rối loạn kinh nguyệt. NXB Y học. 2001, 5 - 141.
Schlesinger KW, Rinder HM, Ragni MV. Women with Bleeding Disorders. In Ehrenthal DB, Hoffman MK, Hillard PJ, eds. Women’s
Health Book Series: Menstrual Disorders. American College of Physicians/American Society of Internal Medicine: Philadelphia; 2006:
171 -195.
Warner PE, Critchley HO, Lumsden MA, et al. Menorrhagia I: measured blood loss, clinical features, and outcome in women with heavy
periods: a survey with follow-up data. Am J Obstet Gynecol. 2004; 190: 1216 - 1223. [CrossRef] [Medline]
01.
02.
03.
04.
05.
06.
07.