- 1 -
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Hòa mình cùng với xu thế hội nhập kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng
không ngừng phát triển, nó đã và đang thực sự trở thành nền kinh tế thị trường. Để bắt
kịp nhịp độ phát triển kinh tế của các nước trong khu vực và thế giới, tất cả các ngành
nghề đều phải không ngừng vận động để tồn tại và phát tri
ển, việc trao đổi mua bán
trong kinh doanh ngày càng phát triển, nhu cầu về thanh toán là rất lớn, đặc biệt là
TTKDTM. Nó đã và đang trở thành phương tiện thanh toán phổ biến, được nhiều quốc
gia khuyến khích sử dụng, đặc biệt là đối với các giao dịch thương mại, các giao dịch
có giá trị và khối lượng lớn. Đó là một trong những cơ hội kinh doanh tốt cho NH.
TTKDTM không chỉ thúc đẩy tăng trưởng cho hầu hết mọi l
ĩnh vực kinh tế mà còn
góp phần đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đất nước.
Dựa theo Quyết định số 291/ 2006/ QĐ – TTg ban hành ngày 29/12/2006 về
phê duyệt đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng
đến năm 2020. [7]
• Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
• Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10 ngày 12 tháng
12 năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung m
ột số điều của Luật Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam số 10/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003;
• Căn cứ Luật các Tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12 tháng 12 năm
1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng số
20/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004;
Nghị đinh 30/CP ban hành ngày 09/05/1996 về quy chế phát hành và sử dụng
Séc. [1]
Nghị định 64/2001/ NĐ – CP ngày 20/09/2001 về hoạt động thanh toán qua các
tổ chức cung ứng dịch vụ. [2]
Nghị định 159/ 2003 NĐ – CP ban hành ngày 10/12/2003 về cung ứng và sử
tạo cơ hội tốt cho người sử dụng dịch vụ có nhiều sự lựa chọn mới và có điều kiện
tiếp cận phương tiện thanh toán hiện đại. Các sản phẩm dịch vụ đ
ã và đang được đa
dạng hóa, phục vụ cho mục tiêu TTKDTM tại Việt Nam. Nhận thức được vai trò của
TTKDTM, ngân hàng Đông Á đã nổ lực rất nhiều nhằm phát triển và nâng cao chất
lượng hoạt động dịch vụ thanh toán, tuy nhiên tỷ trọng TTKDTM trong tổng doanh số
thanh toán vẫn còn nhiều hạn chế. Đứng trước nhu cầu thanh toán ngày càng tăng cao
và những hạn chế của thanh toán không dùng tiền mặt hiện nay, ngân hàng Đông Á
cần có những chiến lược để phát triển, góp phần “phổ cập” TTKDTM trong dân cư.
- 3 -
Phấn đấu đến năm 2010, sẽ có 20 triệu tài khoản cá nhân, 70% cán bộ hưởng lương
ngân sách và 50% công nhân lao động trong các khu vực DN được trả lương qua tài
khoản; khu vực DN sẽ có khoảng 80% các khoản thanh toán giữa DN với nhau được
thực hiện qua tài khoản tại các NH…
Qua thời gian tiếp xúc với thực tiễn hoạt động của ngân hàng cùng với những
bức xúc từ nhu cầu của thị trường kinh doanh hiện nay, em nhận thấy công tác thanh
toán không dùng tiền m
ặt là rất cấn thiết. Xuất phát từ những lí do trên và được sự cho
phép của Ban lãnh đạo ngân hàng Đông Á, em chọn và viết đề tài:
“ ĐẨY MẠNH THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỂN MẶT TẠI NGÂN HÀNG
TMCP ĐÔNG Á – PGD BIÊN HÒA ĐẾN NĂM 2015”
Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống, khoa học trên cơ sở sẵn có
các tiềm năng về dịch vụ. Đồng thời bảo đảm dưới góc độ thực tế, đưa ra những giả
i
pháp thiết thực nhất giúp chất lượng hoạt động dịch vụ, hoạt động thanh toán không
dùng tiền mặt của Ngân hàng phát triển, thu hút được số đông khách hàng đến với sản
phẩm thanh toán của Đông Á. Đây cũng là hoạt động nhằm nâng cao chất lượng cuộc
sống và hiện đại trong thanh toán.
2. Tổng quan đề tài nghiên cứu:
Thanh toán không dùng tiền mặt là hình thức thanh toán đang được khuyến
khích sử dụng thẻ như một giải pháp để phát triển nhanh việc thanh toán không dùng
tiền mặt, giảm bớt lượng tiền mặt rất lớn đang được sử dụng trong các giao dịch thanh
toán hàng ngày.
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã đề ra một số đề án thành phần khác như: đề án
chi trả trợ cấp ưu đãi xã hội và trợ cấp xã hội, đề
án hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho
hoạt động thanh toán của nền kinh tế; đề án TTKDTM trong khu vực doanh nghiệp,
nhóm đề án TTKDTM trong khu vực dân cư, nhóm đề án phát triển các hệ thống thanh
toán, gồm một số tiểu đề án như xây dựng trung tâm thanh toán bù trừ tự động phục vụ
cho các giao dịch bán lẻ; xây dựng trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất; kết nối hệ
thống thanh toán bù trừ và quyết toán chứng khoán với hệ thống thanh toán liên ngân
hàng qu
ốc gia.
Trên thế giới, các quốc gia ở châu Âu đã sớm áp dụng phương thức TTKDTM
và đã mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế. Trong đó, Mỹ là quốc gia đi tiên phong
về lĩnh vực thanh toán điện tử trong hoạt động ngân hàng, thẻ thanh toán. Nhiều đề tài
phục vụ cho TTKDTM đã ra đời như:
- Đề tài nghiên cứu về thị trường thẻ thông minh Châu Á – Thái Bình Dương của
Frost & Sullivan.
- Giải pháp chìa khóa trao tay c
ủa BGS áp dụng công nghệ DUET (Direct
Universal Electronic Transaction – Giao dịch điện tử trược tiếp phổ biến )
- 5 -
- Ngoài ra, còn có nghiên cứu về hoạt động dịch vụ thẻ thanh toán của Stuart
Tomlinson.
Kinh nghiệm của nước ngoài cho thấy, trong lĩnh vực thanh toán qua ngân hàng
có nhiều luật khác nhau như Luật Thanh toán bằng tiền mặt, Luật Séc, Luật Hối phiếu,
Luật Phòng chống rửa tiền… đều được xây dựng đồng bộ. Theo TS. Nguyễn Đại Lai:
“Thụy Điển là một trường hợp rất hay. Cuộc cách mạng về TTKDTM ở
quốc gia này
- 6 -
góp phận thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hóa –
Hiện đại hóa Đất nước, góp phần khắc phục những tồn tại và khó khăn trong công tác
TTKDTM. Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra những cách đánh giá và nhìn nhận vấn đề
trong bối cảnh và tình hình mới, đánh giá kết quả sử dụng thẻ ngân hàng với công tác
thanh toán không dùng tiền mặt.
Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả tiến hành điều tra, phân tích, sàng lọc, so
sánh những vấn đề liên quan ở 2 chương cùa báo cáo. Tìm hiểu phương thức
TTKDTM qua thẻ tại Việt Nam, tăng giảm ra sao, tìm hiểu những vấn đề liên quan
đến TTKDTM: các vấn đề về chất lượng dịch vụ, cơ sở hạ tầng kĩ thuật, cơ chế chính
sách ở nhiều góc độ khác nhau.Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các giải pháp nhằm mở
rộng công tác TTKDTM tại Việt Nam đến nă
m 2015.
3. Mục tiêu nghiên cứu:
- Nghiên cứu thực trạng về thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.
- Đi sâu nghiên cứu thực trạng về thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng
TMCP Đông Á – PGD Biên Hòa.
- Dựa trên cơ sở đó, đưa ra những biện pháp đẩy mạnh hoạt động thanh toán
không dùng tiền mặt thông qua việc phát triển các dịch vụ thanh toán, đặc biệt
là thẻ ngân hàng.
4. Phạm vi nghiên cứ
u:
- Đối tượng nghiên cứu: cá nhân trên địa bàn Thành phố Biên Hòa.( kể cả khách
hàng của NH TMCP Đông Á ) với mẫu điều tra là 68 mẫu.
- Phạm vi nghiên cứu:
• Thời gian: từ năm 2007 đến cuối năm 2009.
• Không gian: tại địa bàn Thành phố Biên Hòa, cụ thể là ở ngân hàng
Đông Á – PGD Biên Hòa.
- 7 -
5. Phương pháp nghiên cứu:
xuất hiện của tiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người
chi trả sang tài khoản của người thụ hưởng mở tại Ngân hàng (NH) hoặc là bằng cách
bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của Ngân hàng.
1.2. Nguồn gốc hình thành thanh toán không dùng tiền mặt:
Thanh toán là một khâu rất quan trọng trong quá trình sản xuất, trao đổi và lưu
thông hàng hóa. Vì vậy, các phương tiệ
n thanh toán phải không ngừng đổi mới, phát
triển theo hướng hiện đại để phù hợp với nhịp độ tăng trưởng của quá trình sản xuất,
trao đổi và lưu thông hàng hóa cũng như phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nền kinh
tế.
Cùng với sự phát triển của xã hội, sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển mạnh
mẽ, lưu thông hàng hóa ngày càng được mở rộng cả về quy mô, phạ
m vi, nhu cầu của
con người ngày càng cao, khối lượng hàng hóa, dịch vụ ngày càng đa dạng cả về khối
lượng và chất lượng, các quan hệ thương mại được mở rộng ra trên phạm vi quốc tế thì
thanh toán dùng tiền mặt càng bộc lộ những hạn chế nhất định của nó.
• Đầu tiên, khối lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên gây khó khăn cho quá
trình điều hòa, lưu thông tiền mặt, gây s
ức ép về mặt giá cả, đó là một trong
những nguyên nhân gây nên lạm phát cao.
• Mặt khác, thanh toán bằng tiền mặt phải tốn chi phí rất lớn cho việc in ấn, vận
chuyển, bảo quản, kiểm đếm…
• Tiếp đến, khi quan hệ thanh toán mở rộng ra phạm vi quốc tế thì chi phí về thủ
tục chuyển đổi tiền sẽ rất lớn, thời gian để thanh toán bị hạn chế,
điều này làm
kiềm hãm quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa.
• Hơn nữa, thanh toán tiền mặt hạn chế khả năng tạo tiền của ngân hàng thương
mại, hạn chế nạn tiền giả.
- 9 -
Từ thực tế khách quan này, một phương thức thanh toán tiến bộ hơn đã ra đời
1.4.2, Góp phần ổn định lưu thông tiền tệ, giảm chi phí lưu thông xã hội
Công tác TTKDTM gắn liền với công tác kế hoạch hoá lưu thông tiền tệ. Thực
hiện tốt công tác TTKDTM tức là tăng nhanh tỷ trọng TTKDTM trong chu chuyển
tiền tệ, giúp: - 10 -
• Giảm lượng tiền mặt trong lưu thông.
• Giảm được các chi phí cần thiết phục vụ cho lưu thông tiền mặt như: chi phí in
ấn, kiểm đếm, vận chuyển, bảo quản tiền.
• Tác động trực tiếp đến thị trường giá cả, kiềm chế lạm phát.
• Đảm bảo an toàn cho việc dự trữ tiền và tài sản của xã hội,
• Đẩy mạnh t
ốc độ lưu chuyển tiền tệ tiến tới ổn định tiền tệ.
• Giải quyết được tình trạng thiếu tiền mặt trong ngân quỹ làm cho hoạt động của
ngân hàng được thực hiện trong suốt, hoàn thiện chức năng trung gian thanh
toán của NHTM.
1.4.3, Góp phần tăng nguồn vốn cho ngân hàng thương mại:
• TTKDTM tạo điều kiện cho NHTM thực hiện chức năng “tạo ti
ền”. TTKDTM
sử dụng tiền ghi sổ, thực hiện thanh toán bằng cách trích từ tài khoản người
phải trả sang tài khoản người thụ hưởng hoặc bù trừ giữa các NHTM với nhau.
Do đó, TTKDTM luôn tạo ra một lượng tiền nhàn rỗi mà NH có thể sử dụng để
tăng nguồn vốn tín dụng, tăng nguồn vốn cho đầu tư
• Đồng thời, thông qua hình thức thanh toán này, NH nắm được một cách chính
xác, hợ
p lý tình hình thiếu vốn của các bên tham gia thanh toán để kịp thời cho
vay, phát tiền đúng mục đích và có vật tư hàng hóa đảm bảo. Đây chính là cơ sở
để NH thực hiện chức năng tạo tiền của mình.
• TTKDTM giúp cho ngân hàng tập trung được nguồn vốn trong xã hội phục vụ
tổ chức làm dịch vụ thanh toán.
1.5.2, Đối với người thụ hưởng ( người bán):
Phải có trách nhiệm giao hàng hay cung cấp dịch vụ kịp thời và đúng lượng gía
trị mà người mua đã thanh toán đồng thời phải kiểm soát kỹ càng các chứng từ phát
sinh trong quá trình thanh toán.
1.5.3, Đối với Ngân hàng thương mại (tổ chức cung ứng dị
ch vụ thanh
toán)
Là trung gian thanh toán và cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng
các NHTM phải có trách nhiệm trong việc tổ chức hoạt động thanh toán như:
Mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng và thông báo cho khách hàng biết số tài khoản,
ngày bắt đầu hoạt động của tài khoản.
• Kiểm soát các giấy tờ thanh toán của khách hàng, cung cấp đầy đủ các loại
chứng từ thích hợp với mỗi loại hình thanh toán, đảm bảo lập đúng thủ tục quy
định, dấu và các chữ ký trên giấy tờ thanh toán đúng với mẫu đã đăng ký, số dư
tài khoản tiền gửi của khách hàng còn đủ để thanh toán.
• Ngân hàng được quyền từ chối thanh toán nếu các giấy tờ thanh toán không đủ
các yêu cầu trên.
- 12 -
1.6. Các hình thức TTKDTM:
Theo nghị định 64/CP [2] của chính phủ và quyết định 226/2002/QĐ-NHNN
của thống đốc NHNN thì có 5 hình thức thanh toán được áp dụng trong thanh toán tiền
hàng hoá, dịch vụ là:
• Thanh toán bằng Séc
• Thanh toán bằng Ủy nhiệm chi
• Thanh toán bằng Ủy nhiệm thu
• Thanh toán bằng thư tín dụng
• Thanh toán bằng thẻ ngân hàng
1.6.1, Thanh toán bằng Séc:
Séc là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện của người chủ
- Chữ ký và dấu (nếu có) của người phát hành séc phải khớp đúng với mẫu đã
đăng ký tại Ngân hàng.
- Không ký phát hành séc vượt quá thẩm quyền quy định tại văn bản ủy quyền.
- Tài khoản tiền gửi của Chủ tài khoản đủ số dư để thanh toán.
- Các chữ ký chuyển nhượng (đối với séc ký danh) phải liên tục.
Ở Việt Nam hiện nay, séc có nhiều loại nhưng séc dùng trong TTKDTM gồm có
séc chuyển khoản và séc bảo chi.
1.6.1.1, Séc chuyển khoản:
Séc chuyển khoản là loại séc do người chi trả ký phát hành để trao trực tiếp cho
người cung cấp khi nhận hàng hoá, dịch vụ cung ứng. Để phân biệt với các loại séc
khác, khi viết séc chuyển khoản người người viết phải gạch hai đường gạch song song
chéo góc ở phía trên, bên phải hoặc ghi từ “chuyển khoản’’ ở mặt trước của tờ séc.
Về nguyên tắc, séc thanh toán chuyển khoản phải được phát hành trên cơ
sở số
dư tài khoản tiền gửi hiện có tại Ngân hàng.
Phạm vi thanh toán séc chuyển khoản gồm thanh toán cùng một tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán và nếu thanh toán khác tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
thì chi nhánh ngân hàng đó phải tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành
phố.
Để đảm bảo quy định người chi trả phải có đủ tiền để trả cho người thụ hưởng
thì khi kế toán séc chuyển khoản phải thực hiện nguyên tắc ghi Nợ trước, ghi có sau.
1.6.1.2, Séc bảo chi
Được sử dụng khi các chủ thể thanh toán không tín nhiệm lẫn nhau về khả năng
chi trả.
Séc bảo chi là một loại séc thanh toán được Ngân hàng đảm bảo khả năng chi trả
bằng cách trích số tiền trên séc từ tài kho
ản tiền gửi của người trả tiền sang tài khoản
riêng nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho tờ séc đó, hoặc bảo chi séc không cần
lưu kí.
- 14 -
Ngân hàng
(1)
(2)
(3) (5) (4)
- 15 -
Trường hợp 2: 2 chủ thể mở tài khoản khác hệ thống ngân hàng.
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ thanh toán Séc của 2 chủ thể thanh toán khác hệ thống NH. “Nguồn: Thanh toán quốc tế
”[9]
Chú thích:
(1) Người bán giao hàng cho người mua.
(2) Người mua kí phát Séc thanh toán cho người bán.
(3) Người bán nộp Séc vào ngân hàng để được chi trả.
(4) Ngân hàng bên bán nhờ ngân hàng bên mua thu hộ tiền ở người mua.
(5) Ngân hàng bên mua ghi Nợ và báo Nợ cho người mua.
(6) Quyết toán Séc giữa 2 ngân hàng.
(7) Ngân hàng bên bán ghi Có và báo Có cho bên bán.
Nhận xét:
Quy trình thanh toán Séc giữa 2 chủ thể mở tài khoản khác hệ thống ngân hàng
tương đối đơn giản. So với quy trình thanh toán Séc trong một NH thì NH bên bán
phải thực hiện thêm 2 bước nữa là nhờ NH bên mua thu hộ tiền của người mua và
quy
“ Nguồn: Tài liệu tập huấn dành cho cán bộ kế toán”[6]
Chú thích:
(1) Người mua gửi lệnh chi cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
(2) Người bán giao hàng cho người mua
(3) Ngân hàng gửi báo nợ cho người mua
(4) Ngân hàng gửi báo có cho người bán.
Nhận xét:
Đ
ây cũng là một phương thức thanh toán khá đơn giản và rất tiện lợi cho khách
hàng. Quy trình đơn giản, chặt chẽ, thủ tục nhanh gọn giúp khách hàng thực hiện các
giao dịch thanh toán nhanh hơn.
Người chi trả
(Người mua)
Người thụ hưởng
(Người bán)
Ngân hàng
(2)
(3) (1)
(4)
- 17 -
Trường hợp 2: 2 chủ thể thanh toán mở tài khoản khác hệ thống ngân hàng
NH chuyển tiền NH đại lý
Người mua
Người bán
(3)
(2) (5)
(1)
(4)
- 18 -
1.6.3, Thanh toán bằng ủy nhiệm thu – Nhờ thu:
Uỷ nhiệm thu (UNT) là giấy ủy nhiệm đòi tiền do người thụ hưởng lập và gửi
vào NH phục vụ mình để nhờ thu hộ số tiền theo lượng hàng hóa đã giao, dịch vụ đã
cung ứng cho người mua.
- Điều kiện áp dụng và nội dung thanh toán:
UNT được áp dụng thanh toán tiền hàng, dịch vụ giữa các chủ thể mở TK trong
cùng một chi nhánh NH hoặc các chi nhánh NH cùng hệ
thống hay khác hệ thống.
Các chủ thể thanh toán phải thoả thuận thống nhất dùng hình thức thanh toán
UNT với những điều kiện thanh toán cụ thể đã ghi trong hợp đồng kinh tế hay đơn đặt
hàng, đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho NH phục vụ chủ thể thanh toán biết
để làm căn cứ thực hiện các UNT.
Sau khi đã giao hàng hoặc hoàn tất dịch vụ cung ứng, bên thụ hưởng l
ập UNT
kèm theo hóa NH phục vụ bên trả tiền để yêu cầu thu hộ tiền.
Khi nhận được giấy UNT, trong vòng một ngày làm việc, NH phụ vụ bên trả tiền
phải trích tài khoản của bên trả tiền để trả ngay cho bên thụ hưởng để hoàn tất việc
thanh toán.
- Quy trình thanh toán UNT:
Trường hợp 1: 2 chủ thể thanh toán mở tài khoản cùng hệ thống ngân hàng
lợi và có hiệu quả cho cả khách hàng và ngân hàng.
Trường hợp 1: 2 chủ thể thanh toán mở tài khoản khác hệ thống ngân hàng
Sơ
đồ 1.6: Quy trình thanh toán bằng UNT của 2 chủ thể thanh toán khác hệ thống
Ngân hàng.
“Nguồn: Thanh toán quốc tế”[9]
Chú thích:
(1) Người xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ hàng hóa cho người nhập khẩu.
(2) Người xuất khẩu lập chỉ thị nhờ thu và hối phiếu nộp vào ngân hàng để ủy
thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người nhập khẩu
(3) NH nhận ủy thác chuy
ển chỉ thị nhờ thu và hối phiếu cho ngân hàng đại lý để
thông báo cho người nhập khẩu biết.
(4) NH đại lý chuyển hối phiếu cho người nhập khẩu để yêu cầu chấp nhận hay
thanh toán. Nếu hợp đồng thỏa thuận điều kiện thanh toán D/A (Document
NH nhận
ủy thác thu
Người xuất khẩu
người trả tiền.
Số tiền phạt
chậm trả
=
Số tiền ghi trên
UNT
x
Số ngày chậm
trả
x
Tỷ lệ
phạt
1.6.4, Hình thức thanh toán thư tín dụng.
Thư tín dụng (L/C) là lệnh của người trả tiền yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình
trả cho người thụ hưởng một số tiền nhất định theo đúng những điều kho
ản đã ghi trên
thư tín dụng.
So với các chứng từ thanh toán khác như séc, UNC, UNT các điều kiện ghi trên
thư tín dụng tương đối chặt chẽ, hầu như phản ánh đầy đủ những cam kết thanh toán
trong hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng đã ký.
- 21 -
- Điều kiện áp dụng:
Thư tín dụng được dùng để thanh toán tiền hàng dịch vụ giữa hai bên mua bán
mở tài khoản ở hai Ngân hàng cùng hệ thống trong trường hợp thiếu tín nhiệm lẫn
nhau về mặt tài chính, hoặc việc mua bán không xảy ra một cách thường xuyên.
- Quy trình thanh toán thư tín dụng:
Sơ đồ 1.7: Quy trình thanh toán bằng thư tín dụng.
NH thông báo L/C
(7)
(9)
(1)
(5)
(10) (2) (6)
(4)
(3)
(8)
(11)
- 22 -
(7) NH thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán sang để ngân hàng mở L/C xem
xét trả tiền.
(8) NH mở L/C sau khi kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp thì trích tiền chuyển
sang ngân hàng thông báo để ghi Có cho người thụ hưởng. Nếu không phù hợp
thì từ chối thanh toán.
(9) NH thông báo ghi Có và báo Có cho người xuất khẩu.
(10) NH mở L/C trích tài khoản và báo Nợ cho người nhập khẩu.
(11) Người nhập khẩu xem xét chấp nhận trả tiền và ngân hàng mở L/C trao b
ộ
chứng từ để người nhập khẩu có thể nhận hàng.
Nhận xét:
Đây có thể xem là quy trình thanh toán phức tạp nhất trong các phương thức
TTKDTM. Quy trình phải qua nhiều khâu trung gian mới có thể thực hiện được các
giao dịch thanh toán, các bước thực hiện rất chặt chẽ, bên xuất khẩu và bên nhập khẩu
có thể yên tâm thực hiện giao dịch này với các điều khoản đảm bảo trong L/C.
1.6.5, Thanh toán bằng thẻ Ngân hàng ( th
ẻ thanh toán):
Trên thế giới đang lưu hành rất nhiều loại thẻ ngân hàng, trong đó có một số loại thẻ
thanh toán.
- Quy trình thanh toán thẻ được cụ thể hóa theo sơ đồ sau đây:
Sơ
đồ 1.8: Quy trình thanh toán bằng thẻ ngân hàng.
“ Nguồn: Tài liệu tập huấn dành cho cán bộ kế toán”[6]
Chủ sở hữu thẻ
thanh toán
Ngân hàng
phát hành thẻ
Ngân hàng đại lí
thẻ thanh toán
Cơ sở tiếp nhận thẻ
(3)
(4)
(6) (5)
(7)
(1) (2)
- 24 -
Chú thích:
(1) Khách hàng lập và gửi đến NH phát hành thẻ giấy đề nghị cấp thẻ thanh toán
(nếu là thẻ ký quỹ thanh toán, khách hàng nộp thêm UNC trích TKTG của mình hoặc
phải thanh toán cho người tiếp nhận thanh toán thẻ.
1.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến TTKDTM:
1.7.1, Môi trường vĩ mô, sự ổn định chính trị xã hội
Môi trường vĩ mô là nhân tố quan trọng, ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động
TTKDTM. Việt Nam là nước có kinh tế phát triển, chính trị ổn định, phát triển lành
mạnh, trong sạch, công bằng, là cơ sở thúc đẩy TTKDTM phát tri
ển. Vì vậy, xây
dựng một môi trường tốt, giữ cho nền chính trị ổn định là nhiệm vụ lâu dài của Đảng
và Nhà Nước ta.
1.7.2, Môi trường pháp lý:
Môi trường pháp lý là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt
động NH nói chung và hoạt động thanh toán nói riêng, đặc biệt TTKDTM, một
phương thức thanh toán hiện đại, đòi hỏi tính an toàn và độ bảo mật cao mà môi
trường pháp lí là cơ sở để giải quyết vấ
n đề đó. Tại Việt Nam, Luật thương mại điện tử
vẫn chưa chính thức được ban hành, vì thế những tiện ích của dịch vụ này còn nhiều
hạn chế, chỉ cho phép xem số dư tài khoản và thông tin giao dịch, chưa thể thanh toán
hoá đơn trên web. Vì vậy, Nhà nước ta cần xây dựng một hành lang pháp lý cụ thể,
một chế tài nhất định để làm cơ sở để TTKDTM phát triển.
1.7.3, Tâm lí, thói quen, trình độ
dân trí và thu nhập của người dân
Đây có thể xem là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đối với việc phát triển
TTKDTM. Đại đa số dân cư đều quen với việc chi tiêu bằng tiền mặt, họ đã quen với
việc buôn bán theo phương thức “tiền trao cháo múc”, vì người tiêu dùng lo ngại mua
phải sản phẩm không dùng được hoặc chất lượng không đạt như mong muốn. Đó là
thói quen rất khó thay đổi của người dân.
Bên cạnh đó, trình độ dân trí và thu nhập của người dân cũng là yếu tố ảnh
hưởng không nhỏ đến công tác TTKDTM. Do TTKDTM chưa được phố biến rộng rãi
ở hầu hết các tầng lớp dân cư mà chỉ tập trung ở một số thành phần như cán bộ, viên
chức Nhà nước… chưa phổ cập trong dân cư, làm cho công tác TTKDTM khó phát