HPV (HUMAN PAPILLOMA VIRUS) - Pdf 19

HPV (HUMAN PAPILLOMA VIRUS)
Theo các báo cáo gần đây của OMS, có khoảng 15% các loại ung thư có
nguyên nhân liên quan đến virus, trong số đó được nhắc đến nhiều nhất là
virus gây viêm gan siêu vi B, virus gây viêm gan siêu vi C, một số trường
hợp có thể dẫn đến ung thư gan.
HPV VÀ KHẢ NĂNG GÂY UNG THƯ
HPV là một loại virus không có vỏ bọc, gây các bệnh ở da và niêm mạc.
Đường lây truyền chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp với người mang bệnh.
HPV là một trong những tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường sinh
dục có tỷ lệ cao nhất thế giới. Tỷ lệ mắc bệnh mới hàng năm ở phụ nữ sau
khi có quan hệ tình dục trong vòng 1 năm là 30%. Tỷ lệ mắc bệnh ở lứa
tuổi 20 25 là 30%, sau đó giảm còn 10% ở phụ nữ độ tuổi 30- 35.

HPV nguy cơ cao (về tính gây ung thư) có liên quan mạnh đến bệnh lý
gây ung thư. Trong hầu hết các trường hợp tử vong do ung thư cổ tử cung
đều có sự hiện diện của HPV nguy cơ cao. Ngoài ra còn thấy có sự liên
hệ giữa HPV với các ung thư đường sinh dục và ung thư đầu cổ. HPV
nguy cơ cao, type 16,18 có mặt trong hơn 70% ung thư cổ tử cung trên
toàn thế giới, tuy nhiên cũng có một vài nước, tỷ lệ này có thể thay đổi.

Tỷ lệ bệnh nhân nữ nhiễm HPV và tiến triển thành ung thư hay tiền ung
thư cao hơn ở những phụ nữ mắc bệnh HIV trước đó.

Việc phát triển vaccin ngăn ngừa sự lây nhiễm của HPV cần dựa trên
những đặc điểm dịch tể học này, đặc biệt đối với việc ngăn ngừa ung thư

2. DỊCH TỂ HỌC & HPV

2.1 Phân bố theo độ tuổi

HPV được coi là virus rất thường gặp ở người , có thể nói hầu hết mọi
người đều có tiếp xúc với virus này ở da hay niêm mạc nhưng không xuất
hiện triệu chứng. Theo nghiên cứu, ở các phụ nữ mắc bệnh ung thư cổ tử
cung, hầu hết đều lây nhiễm qua đường tình dục.

Nhằm xác định dịch tể học HPV, một nghiên cứu meta-analysis được
thực hiện trên cả 4 châu lục (Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Aâu, Châu Á) ở
158000 phụ nữ bằng phương pháp phát hiện ADN virus ở cổ tử cung, tỷ
lệ nhiễm HPV chung là 10.4% (tế bào cổ tử cung vẫn bình thường). Tỷ lệ
nhiễm cao nhất được nhận thấy ở phụ nữ Phi Châu và Trung Mỹ: hơn
20%.

Xét riêng về mặt độ tuổi, tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở phụ nữ trong độ tuổi
từ 20 – 25 tuổi : hơn 20 %. Tỷ lệ này giảm dần theo độ tuổi, đặc biệt là ở
những nước phát triển, tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ từ 30 -35 tuổi là 10%.

Ơû độ tuổi mãn kinh, tỷ lệ nhiễm HPV lại tăng trở lại, tuy nhiên chưa lý
giải được nguyên nhân rõ ràng của việc tăng cao ở độ tuổi này.

2.2 Ảnh hưởng của HPV

HPV thường gặp ở phụ nữ trẻ sau trong vài năm đầu sau khi có quan hệ
tình dục. Có thể nói hầu hết phụ nữ đều nhiễm ít nhất 1 type HPV trong
cuộc đời.

Nghiên cứu dịch tể học HPV được thực hiện tại Mỹ trên quy mơ lớn:

đổi trước đó.

2.3 PHƯƠNG THỨC LÂY NHIỄM

HPV là virus lây bệnh trực tiếp từ người này sang người khác do tiếp xúc
trực tiếp với da và niêm mạc. Mặt khác, HPV là loại virus khơng có vỏ
bọc nên có thể tồn tại ở mơi trường bên ngồi và gây nhiễm hay do tiếp
xúc với vết thương.

HPV lây nhiễm qua tế bào biểu mơ đáy, khi tiếp xúc với vùng da tổn
thương, nhân virus có thể đi vào gây nhiễm ở tế bào biểu mơ đáy.

HPV lây nhiễm qua đường sinh dục, khơng chỉ qua giao hợp mà ngay cả
những phương cách quan hệ khác nhau có tiếp xúc với vùng da tổn
thương cũng có thể gây nhiễm, đó là lý do HPV còn có thể tìm thấy ở cả
người còn trinh bị nhiễm khi quan hệ bằng đường hậu mơn.

Ơû người nam đã cắt bao quy đầu, tỷ lệ nhiễm HPV sinh dục thấp hơn.
Tuy nhiên, khi so sánh giữa người phụ nữ chỉ có một bạn tình khi quan hệ
với người nam đã cắt bao quy đầu và có quan hệ với nhiều bạn tình, tỷ lệ
nhiễm HPV tăng cao hơn so với người phụ nữ chỉ có 1 bạn tình và người
nam chưa cắt bao quy đầu nhưng khơng quan hệ với nhiều người.

2.4 . SỰ PHÂN BỐ CÁC TYPE HPV

Khi nhiễm HR-HPV có thể phát triển thành ung thư cổ tử cung, có hơn 40
type HPV lây nhiễm qua đường sinh dục, trong số đó các type thường
thấy trong ung thư cổ tử cung là
16,18,31,33,35,39,45,51,52,56,58,59,66,68,73.


đối với 2 type 16,18
2.5 U NHÚ ĐƯỜNG SINH DỤC

2 Type HPV 6.11 không mang gene gây ung thư được tìm thấy trong hơn
90% trường hợp nhú ( condylom) sinh dục (sùi mào gà)

Mặc dù các trường hợp u nhú này đa phần là lành tính nhưng có thể gây
ảnh hưởng về mặt tâm lý cũng như gây tái nhiễm thường xuyên sau khi
điều trị gây tốn kém cho điều trị.

2 vaccin hiện nay cũng có thể kháng lại 2 type 6,11 này do đó có cả tác
dụng kháng u nhú đường sinh dục.
2.6 MỐI LIÊN HỆ GIỮA HPV VÀ HIV
Tỷ lệ nhiễm HPV tăng cao hơn ở phụ nữ nhiễm HIV ở cả 2 dạng HPV :
HR- HPV và LR-HPV.

Tỷ lệ mắc bệnh u nhú đường sinh dục cũng cao hơn ở những phụ nữ
nhiễm HIV cũng như dễ nhiễm HR-HPV. Ung thư cổ tử cung là dạng ung
thư thường gặp nhất ở người phụ nữ nhiễm HIV, đây được xem như một
yếu tố định nghĩa cho tình trạng chuyển sang giai đoạn sida theo định
nghĩa của CDC.

giảm bệnh dựa trên số lượng tế bào TCD4.

Tuy nhiên cũng có những nghiên cứu cho thấy thuốc kháng virus không
có hiệu quả trong điều trị trên thương tổn do HPV. Nghiên cứu được thực
hiện trên 774 phụ nữ sử dụng thuốc trog 5,5 năm. Nghiên cứu cho thấy
không có mối liên quan giữa hiệu quả kháng virus và hiệu quả trên các
thương tổn tế bào cổ tử cung do HPV.

2.7 Các tổn thương đường sinh dục đặc biệt ở phụ nữ trẻ nhiễm HPV
Các triệu chứng do nhiễm HPV ở khu vực hậu môn – sinh dục ở phụ nữ
trẻ, được đánh giá dựa trên sự có mặt của nhú sinh dục (condylomes)
thường lây truyền do những sai lầm trong quan hệ tình dục. Đây là
nguyên nhân thường gặp nhất của các tổn thương đặc biệt này.

Đầu tiên, các u nhú sinh dục này có thể xuất hiện ở trẻ em hay thiếu niên
do lây từ mẹ sang con trong quá trình sinh nở do người mẹ mang mầm
bệnh (u nhú).

Việc lây HPV từ mẹ sang con có thể có hay không có biểu hiện trong
những năm đầu sau khi sanh, các thương tổn này có thể ở vùng hậu môn
sinh dục hay vùng hầu họng.

Thứ hai, có rất nhiều nghiên cứu cho thấy các u nhú sinh dục ở thiếu niên
thường thấy có nguyên nhân do mụn cóc ở âm đạo, nhất là HPV type 2

Sự hiện diện các thương tổn trong trường hợp này có thể giải thích do
phản ứng tự miễn hay hetero-inoculation thường bắt đầu bằng các mụn


- 500,000 ca mắc bệnh mới hàng năm

- 275,000 ca tử vong hàng năm

Hơn 80% ca ung thư cổ tử cung trên thế giới thường xuất hiện ở các nước
phát triển.

Tần xuất mắc bệnh tăng cao nhất được báo cáo ở khu vực Châu Phi (dưới
sahara), châu mỹ la tinh, Caribe, Melanesia, trung Á, Bắc Âu.

HPV gây ung thư cổ tử cung chủ yếu tác động ở biểu mô. Tăng sinh biểu
mô cổ tử cung (nghịch sản cổ tử cung) chiếm khoảng 10% trường hợp
ung thư cổ tử cung.

Tuy nhiên, tỷ lệ nghịch sản cổ tử cung này tăng cao hơn đến gần 25% ở
các nước công nghiệp hóa
3.1.2 Các yếu tố nguy cơ

mặc dù việc nhiễm HPV là cần thiết cho sự phát triển thành ung thư cổ tử
cung, hiện nay vẫn chưa có nhiều chứng cứ rõ ràng. Việc kết hợp giữa hút
thuốc lá, sử dụng thuốc ngừa thai đường uống cũng được xem như là yếu
tố nguy cơ gây ung thư cổ tử cung.

Béo phì cũng có mối liên hệ với việc gia tăng nguy cơ ung thư cổ tử
cung.


lành tính hay ác tính.

Mụn cóc là bệnh phát triển, tồn tại lâu dài trên da, ít khi tự
biến mất. Mụn cóc là những u nhỏ tăng sản lành tính của lớp thượng bì,
bề mặt thường sần sùi, gây ra bởi virus HPV, phân nhóm beta-papilloma,
thường gặp nhất là type 5,8.

Các thương tổn này có thể phát triển thành u nhọt ở vùng thượng bì, đặc
biệt là vùng da thường xun tíếp xúc với ánh sáng.

Ngòai mụn cóc, HPV còn có thể gây ung thư da, tuy nhiên vấn đề này
vẫn còn nhiều tranh cãi. Thật vậy, HPV gây bệnh trên da thường thấy cả
ở những người khỏe mạnh hay suy giảm miễn dịch nhưng khơng xúât
hiện triệu chứng

Tần suất xuất hiện của HPV ở các thương tổn tiền ung thư hay ung thư da
tăng không đáng kể so với người khỏe mạnh.

Tuy nhiên, sự xuất hiện một vài type beta-papilloma trên da cũng được
xem như yếu tố nguy cơ phát triển thành ung thư da, nguy cơ này tăng
cao ở những người suy giảm miễn dịch, nhất là các bệnh nhân ghép tạng.

Các beta-papilloma nhóm 2 (HPV 9,15,17,22,23,38,80 và một số type đã
xác định kiểu gen) được tìm thấy với tần súât cao hơn rõ rệt ở người ung
thư da so với người khỏe mạnh.

4. KẾT LUẬN

HPV là virus rất thường gặp, phần lớn mọi người có họat động tình dục
đều có tiếp xúc hay lây nhiễm HPV ít nhất một lần trong đời.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status