THỦ TỤC TRƯỚC KHI XÉT XỬ SƠ THẨM HỆ
THỐNG PHÁP LUẬT HOA KỲ Trước khi một phiên tòa sơ thẩm hình sự được tiến
hành, luật pháp của liên bang và bang yêu cầu rất
nhiều thủ tục và sự kiện. Một số bước do Hiến pháp
Mỹ và hiến pháp bang ủy quyền, một số do phán
quyết của tòa án, và số khác do những đạo luật lập
pháp. Phần còn lại thường là tập tục và truyền thống.
Mặc dù bản chất chính xác của những sự kiện mang
tính thủ tục này thay đổi theo thực tiễn của liên bang
và bang – và giữa các bang với nhau – nhưng vẫn có
những điểm tương đồng trên toàn đất nước. Tuy
nhiên, những thủ tục này không mang tính tự động
hay lệ thường mà đúng hơn là những người ra phán
quyết của hệ thống pháp lý thực thi quyền tự quyết
tại mọi bước tùy theo giá trị, thái độ và thế giới quan
của họ.
Việc bắt giữ
Bắt giữ là sự liên hệ quan trọng đầu tiên giữa bang và
bị cáo. Hệ thống pháp lý Mỹ đưa ra hai loại bắt giữ
cơ bản – bắt giữ có lệnh và bắt giữ không có lệnh.
Lệnh bắt giữ được ban hành sau khi một đơn kiện, do
một người lập hồ sơ để kiện người khác, đã được
trình bày và xem xét bởi một thẩm phán tiểu hình,
người đã tìm ra nguyên nhân hợp lý cho việc bắt giữ.
Bắt giữ không có lệnh xảy ra khi tội phạm diễn ra
trước sự có mặt của một cảnh sát hay khi một viên
Nạn nhân sẽ không tìm cách khởi kiện. Không cưỡng
chế thi hành luật pháp cũng là nguyên tắc trong
những tình huống mà nạn nhân của một tội phạm sẽ
không hợp tác với cảnh sát trong việc khởi tố một vụ
án. Chẳng hạn, trong trường hợp tội phạm tài sản
không đáng kể, nạn nhân thường thỏa mãn nếu có bồi
thường và không thể có đủ thời gian để làm chứng
trước tòa. Nhìn chung, cảnh sát bắt buộc phải tôn
trọng mong muốn của nạn nhân trừ phi họ đã dùng
hết những nguồn lực to lớn để điều tra một tội phạm
tài sản cụ thể.
Khi nạn nhân của một tội phạm đang có mối quan hệ
với kẻ phạm tội thì cảnh sát thường có xu hướng bắt
giữ. Những mối quan hệ như vậy bao gồm chủ nhà và
người thuê nhà, người hàng xóm này với người hàng
xóm khác, và cho đến gần đây là giữa chồng và vợ.
Tuy nhiên, trong trường hợp cuối này, nhận thức
được đề cao về bạo lực trong gia đình có ảnh hưởng
cực kỳ quan trọng đến các thủ tục của cảnh sát.
Hãm hiếp và quấy rối trẻ em cấu thành một hạng mục
tội phạm quan trọng khác mà đối với chúng thường
không có bắt giữ vì nạn nhân sẽ không hoặc không
thể hợp tác với cảnh sát. Thông thường, về mặt cá
nhân nạn nhân quen biết với, hoặc liên quan đến, kẻ
phạm tội và nỗi sợ bị trả đũa hay công khai thù địch
ngăn cản nạn nhân khởi kiện.
Nạn nhân cũng tham gia vào hành vi sai trái. Khi
“phải được cảnh báo trước bất kỳ câu hỏi nào rằng
anh ta có quyền giữ im lặng, rằng bất cứ điều gì anh
ta nói đều có thể dùng làm bằng chứng chống lại anh
ta ở tòa án, rằng anh ta có quyền thuê luật sư, và rằng
nếu anh ta không có khả năng thuê luật sư thì sẽ có
một người được chỉ định thay mặt anh ta trả lời bất
kỳ câu hỏi nào”. (Những cảnh báo như vậy cũng phải
được viên cảnh sát bắt giữ thông báo nếu viên cảnh
sát đó là người đặt câu hỏi về tội phạm cho kẻ bị tình
nghi). Ở một số bang, bị cáo phải được thông báo về
những quyền khác nêu trong Hiến chương nhân
quyền của bang, như quyền được xét xử nhanh và
quyền đối chất với những nhân chứng đối nghịch.
Thứ hai, thẩm phán tiểu hình sẽ xác định bị cáo có
được bảo lãnh tại ngoại hay không, và trong trường
hợp đó thì số tiền bảo lãnh là bao nhiêu. Về mặt Hiến
pháp, yêu cầu duy nhất đối với số tiền bảo lãnh là nó
không được “quá lớn”. Bảo lãnh được coi là một đặc
quyền - chứ không phải quyền lợi - và nó có thể bị từ
chối trong những vụ án tử hình mà bằng chứng phạm
tội có tính thuyết phục cao hoặc nếu thẩm phán tiểu
hình tin rằng bị cáo sẽ lẩn trốn khỏi bị kiện tụng mà
không cần quan tâm số tiền bảo lãnh là bao nhiêu.
Một biện pháp thay thế bảo lãnh là giải phóng bị đơn
bằng cam kết trước tòa, về cơ bản là một lời hứa của
bị đơn sẽ quay lại tòa án vào ngày xét xử được chỉ
định.
Trong những vụ án nhỏ, bị cáo có thể được yêu cầu