Tiểu luận môn luật so sánh hệ thống pháp luật sharia - Pdf 34

Mục lục
I.

Lịch sử phát triển của hệ thống pháp luật sharia

II.

Nguồn gốc của Luật Đạo Hồi

III.

So sánh hệ thống cấu trúc nguồn luật của luật Hồi giáo với cấu
trúc

nguồn luật của Civil law và Common law.
IV.
V.
VI.

Các nguyên tắc của hệ thống pháp luật Sharia
Các đặc điểm cơ bản của pháp luật Hồi giáo
Hiến pháp - Vai trò của thẩm phán ( Role of Judges ) - Tổ chức tòa
án và hệ thống pháp luật Hồi giáo

VII. Giải thích pháp luật Sharia ( interpretation of Sharia law )
VIII. Các trường phái của pháp luật sharia ( Schools of Sharia law )
IX.

Xem xét tính hợp hiến của pháp luật (Judicial review )

X.

luật đã xem xét , pháp luật đạo hồi không phải là lĩnh vực khoa học độc lập. Đó
chỉ là những khía cạnh của đạo Hồi.(1)
Đặc điểm mấu chốt của sự khác biệt giữa hệ thống Luật Hồi giáo với các
hệ thống pháp luật thế giới khác là ở các quốc gia áp dụng Luật Hồi giáo không
có sự tách rời giữa nhà thờ và nhà nước (church and state). Ở đây, chính trị thần
quyền (chế độ cai trị của các tăng lữ, trong đó các luật lệ của nhà nước được tin
tưởng là luật lệ của Chúa Trời) bao trùm và điều chỉnh các vấn đề mang tính
chất công và tư. Cũng chính từ học thuyết này, Shari’ah là luật Thánh Alla ban
hành, không biến đổi và được nhà nước áp dụng cho mọi thời đại; nói khác đi,
nhà nước, luật pháp và tôn giáo chỉ là một. Khái niệm này có thể hiểu ở mức độ
khác nhau giữa các quốc gia, nhưng luật pháp, chính quyền đều dựa vào khái
niệm đó và là một phần của tôn giáo Đạo Hồi.(2)
Nền tảng của pháp luật đạo Hồi không chỉ mang tính chất tôn giáo . các
nhà luật học, thần học trong vòng nhiều thế kỷ đã tạo ra học thuật rộng lớn. Trên
nguyên tắc, pháp luật này được áp dụng chỉ với những ngườitheo đạo Hồi,
nguyên tắc tôn giáo làm cơ sở cho pháp luật : Đạo Hồi sẽ không có hiệu lực nếu
một trong các bên không phải là người theo đạo Hồi.
Trong đạo Hồi thống trị quan điểm về xã hội thần quyền, trong đó Nhà
nước có ý nghĩa chỉ phục vụ cho tôn giáo đang thống trị. Thay cho việc đơn giản
tuyên bố về những nguyên tắc đạo lý hay những giáo điều mà xã hội cần phải
điều chỉnh hệ thống pháp luật theo chúng, các luật gia và các nhà thần học đạo
Hồi xuất phát từ những lời của thượng đế, thảo ra hệ thống pháp luật rất chi tiết,


pháp luật của một xã hội lý tưởng vào một ngày nào đó sẽ được thiết lập trên
toàn thế gian và hoàn toàn tuân theo tôn giáo đạo Hồi.(1)
(1) Rene davis – Sđd trang 339
(2)Nguồn và bản chất của luật đạo hồi – Tiến sĩ Đổ Thị Mai Hạnh

II.

sắp xếp theo ý của nhà tiên tri . Các chương lại chia nhỏ thành 6.200 khổ thơ
(verse), các luật gia Đạo Hồi gọi chúng là “ Những khổ thơ pháp luật”. Chỉ có
khoảng 3% các khổ thơ đó là liên quan đến pháp luật. Ví dụ, Luật Gia đình được
quy định trong khoảng 70 khổ thơ; các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực luật tư
khác được quy định trong 70 khổ thơ; khoảng 30 khổ thơ được coi là đặc trưng
cho Luật Hình sự; các vấn đề về tài chính và hiến pháp thì được đề cập trong
khoảng 20 khổ thơ; các vấn đề liên quan đến Luật Quốc tế thì cũng được quy
định trong khoảng 20 khổ thơ.
Cách thức thể hiện những điều răn dạy và điều cấm trong Kinh Qu’ran
bao giờ cũng theo cùng một công thức: điều răn dạy đều bắt đầu bằng lời giới
thiệu, sau đó kết thúc bằng một lời cấm đoán. Đơn cử như điều răn sau:
Đoạn đầu tiên, lời giới thiệu là: “Người dân hỏi nhà tiên tri về rượu và bài
bạc. Hãy nói rằng, cả hai thứ đó đều xấu xa, dù rằng nó có một thuận lợi nào đó
cho đàn ông, nhưng sự xấu xa của nó thì to lớn hơn sự thuận lợi đó nhiều lần”.
Đoạn thứ hai, lời giới thiệu hướng đến điều cấm đoán: “Hỡi những tín đồ,
không được cầu nguyện khi người đang say”.
Đoạn thứ ba, lời giới thiệu đã chuyển thành điều cấm hoàn toàn: “ Hỡi
những tín đồ, uống rượu và chơi cờ bạc là những hành động xấu xa, là công việc
của quỷ dữ, vì vậy phải tránh xa nó”.
Trong Kinh Qu’ran, tín ngưỡng tồn tại bên cạnh một số nguyên tắc pháp
lý và hầu hết các nguyên tắc pháp lý liên quan đến luật gia đình (kết hôn, ly dị
và thừa kế), một số liên quan đến Luật Hình sự (ngoại tình, vu khống, uống
rượu), một số liên quan đến hợp đồng (hình thức hợp đồng, phương thức thanh
toán), một số liên quan đến vấn đề pháp luật về tài chính, hiến pháp, tòa án,
tranh chấp quốc tế... Các vấn đề liên quan đến tôn giáo, nghi lễ, nghi thức và
luật pháp rất ngắn gọn trong Qu’ran và hầu như mang tính nguyên tắc, không cụ
thể. Hơn thế nữa, vẫn có một số vấn đề bỏ ngỏ, chưa được đề cập. Vì vậy, về
nguyên tắc, vẫn rất cần sự giải thích và mô tả từ nhà tiên tri, hay nói cách khác,
bên cạnh Kinh Qu’ran vẫn cần có nguồn luật bổ trợ; đây chính là tiền đề để
nguồn luật quan trọng thứ hai của Luật Hồi giáo ra đời, đó là Kinh Sunna.

Hồi.[19]Trong thực tiễn, các thẩm phán có thể kiểm tra trong Idjmá để tìm kiếm
nhiều giải pháp khả thi để áp dụng trong xã hội hiện đại. Và họ hoàn toàn tự do
sáng tạo phương pháp mới để giải quyết các vấn đề tội phạm và vấn đề xã hội
dựa trên cơ sở những quan điểm được đề cập trong Idjimá. Do vậy thẩm phán có
quyền quyết định rất lớn trong việc áp dụng quan điểm nào trong Idjmá để giải
quyết một vụ việc cụ thể bất kỳ.
Thành tố thứ tư của Luật Hồi giáo là Qiyas, là án lệ được tuyên bởi thẩm
phán cấp cao. Nói một cách khác, Qiyas có thể gọi là “phương pháp suy xét theo
sự việc tương tự”. Các thẩm phán của các nước theo Luật Hồi giáo có thể sử
dụng tiền lệ pháp đó để giải quyết một vụ việc mới phát sinh sau này mà hướng
giải quyết vụ việc đó không được đề cập trong Kinh Qu’ran, Kinh Sunna và
Idjmá. Ví dụ như đó là một tội phạm về máy vi tính, trộm cắp phần mềm máy
tính, trong Kinh Qu’ran và Sunna không đề cập đến loại tội phạm này. Hành vi
này là cần thiết bị cấm nên thẩm phán phải dựa trên lý lẽ và logic để sáng tạo ra
án lệ, hay còn gọi là Qiyas.
Vậy ở các nước theo Luật Hồi giáo có tồn tại nguồn luật là các văn bản
pháp luật hay không? Có thể nói rằng, có văn bản pháp luật ở các quốc gia theo
Luật Hồi giáo cũng như việc có tồn tại án lệ trong hệ thống pháp luật của những
quốc gia này. Nhưng đây là sự chuyển hóa những quan điểm pháp luật, ý kiến
pháp luật được thống nhất bởi các học giả pháp lý Đạo Hồi vào các văn bản
pháp luật. Và sự chuyển hóa này bắt đầu vào khoảng thế kỷ 19, thời điểm lịch sử
các quốc gia theo Luật Hồi giáo có một sự thay đổi rất lớn lao, khi các quốc gia
Phương Tây tăng cường quyền lực toàn cầu và chinh phục một phần rộng lớn
của thế giới, trong đó có các vùng lãnh thổ của Luật Hồi giáo(2).
Luật pháp Sharia, được ghi lại trong kinh Qu’ran và kinh Sunna. Sharia quy
định rất rõ 5 điều bổn phận và trách nhiệm của một giáo dân. 5 điều ấy thường
được gọi là Ngũ-Trụ-Hồi (Five Pillars of Islam). Ngũ Trụ Hồi là:


1/ Shahadan - Xưng tụng đức tin: một người được coi là giáo dân khi và chỉ

(3)Tác giả Nguyễn Minh sưu tầm trên website: vnthuquan.net

III.

So sánh hệ thống cấu trúc nguồn luật của luật Hồi giáo với cấu
trúc

nguồn luật của Civil law và Common law.
1. Cấu trúc hệ thống nguồn luật của Luật Hồi giáo gồm những loại nguồn
không đồng nhất và khác biệt so với Common law và Civil law . Trong khi
Common law và Civil law đều có những loại nguồn cơ bản: án lệ (phán quyết
của toà án), pháp luật thành văn, tập quán. Do đó sẽ rất ngạc nhiên khi thấy luật
Hồi giáo không thừa nhận luật thành văn, án lệ và tập quán là nguồn luật như ở
Civil law và Common law. Nguồn luật cơ bản của luật Hồi giáo là kinh thánh.
Nguồn luật của luật Hồi giáo gồm: nguồn cơ bản (kinh Koran và Sunna); nguồn
phát sinh (Ijma và Qias), đây là bốn nguồn không đồng nhất và chỉ duy nhất có
ở luật Hồi giáo.
- Kinh Koran là cuốn thánh kinh của đạo Hồi gồm 114 chương (sura) và được
chia thành các tiết (ayah) với 6.237 đoạn thơ, nêu ra rất nhiều luật lệ mà các tín
đồ Hồi giáo phải tuân thủ. Những luật lệ này bao trùm một phạm vi rất rộng, từ
quy tắc ứng xử cá nhân tới gia đình, láng giềng và tới cả lĩnh vực chính trị quốc
gia,… Tuy nhiên, trong kinh Koran chỉ có rất ít đoạn có thể áp dụng như những
quy phạm pháp luật (3%). Những đoạn này thường không đủ độ chính xác và cụ
thể như những quy phạm pháp luật và điều chỉnh nhiều vấn đề như nhân thân
(70 đoạn), quyền dân sự (70 đoạn), hình sự (30 đoạn) , thủ tục tư pháp (13
đoạn),…. Đây chính là điểm độc nhất của nguồn luật của luật Hồi giáo. Trong
các nguồn luật của luật Hồi giáo, thì kinh Koran quan trọng nhất, được coi là
đạo luật gốc, cơ bản nhất, có thể coi là Hiến pháp của luật Hồi giáo.
- Nguồn cơ bản thứ hai là Sunna, Sunna nghĩa là “con đương quen đi ”, là lối
sống, cách hành xử trong cuộc đời của nhà tiên tri Mohammed. Sunna bao gồm

định những quy định của pháp luật phải được sự chỉ đạo, chỉ dạy của thánh
Alan, không ai được sáng tạo luật thay thánh Alan (điều này được viết trong
kinh Koran).
2. Những nguồn luật được ghi nhận trong luật Hồi giáo mang tính tôn giáo,
thể hiện ý chí của thánh Alan.
Nguồn của luật Hồi giáo do Thượng đế đặt ra, thể hiện ý chí của Thượng
đế hay thánh Alan, là thiêng liêng bất khả xâm phạm, tín đồ chỉ có thể tuân theo
chứ không được sửa đổi, vì luật Hồi giáo độc lập so với cơ quan nhà nước hay
quyền lực nhà nước. Điều này hoàn toàn khác với Civil law và common law, các
nguồn luật của hai dòng họ pháp luật này thể hiện ý chí của nhà nước, do các cơ
quan nhà nước ban hành, thừa nhận (pháp luật thành văn, án lệ, tập quán) và có
được sửa đổi.


3. Những nguồn luật phổ biến trong Common law và Civil law nhưng
không được thừa nhận trong luật Hồi giáo và những thay đổi của luật Hồi
giáo hiện nay
Như đã nêu ở trên, pháp luập thành văn, án lệ và tập quán được coi là
những nguồn luật cơ bản của Common law và Civil law, nhưng luật Hồi giáo lại
không thừa nhận và coi trọng những nguồn luật này. Ở dòng họ Common law,
thường thì các tác phẩm gồm các cuốn sách do tác giả có uy tín viết cũng được
coi là nguồn luật thì trong Luật Hồi giáo lại không được coi trọng. Ở dòng họ
Civil law, các nguyên tắc chung của pháp luật cũng được coi là nguồn của pháp
luật. trong khi đó ở luật hồi giáo không có loại nguồn này. Để phù hợp với thế
giới hiện đại, luật Hồi giáo đã có nhiều sự thay đổi. Tuy tập quán không phải
nguồn luật nhưng có lúc được dùng để lấp cho trống của pháp luật. Ở nhiều
nước Hồi giáo luật thành văn, đặc biệt là hiến pháp đã được thừa nhận và ngày
càng nâng cao vai trò tuy nhiên những nội dung của pháp luật thành văn không
được trái với các quy định của luật Hồi giáo như Iran, Afghanistan, Thổ Nhĩ
Kì,...

cách xử lý đôi phần đã lỗi thời trong thế giới hiện nay.
4 Nguyên tắc thứ bậc và kết hợp bổ trợ các nguồn luật khi áp dụng
Pháp luật Hồi giáo bao gồm bốn thành tố (bốn nguồn luật): Kinh Qu’ran,
Kinh Sunna, Idjmá và Qiyas; trong đó: Kinh Qu’ran có vai trò tối cao. Viết
những quy định ngắn gọn, chung chung và cần người dịch hoặc luật bổ trợ, Kinh
Sunna: nói về cách thực hành, ý kiến của Mohamed, Hadith, nội dung cụ thể
hơn. Kinh Qu’ran và Kinh Sunna là hai nguồn luật chủ đạo nhất, có giá trị pháp
lý cao nhất đồng thời thể hiện là nguồn luật mang tính thần thánh và tự nhiên.
Idjmá là do các luật gia Hồi giáo bổ sung thiếu sót, còn Qiyas là án lệnh của
thẩm phán tối cao tuyên bố, bổ sung những yếu tố mới theo thời đại, đóng vai
trò là nguồn luật bổ trợ cho hai nguồn luật trên nhưng không thể thiếu được
trong hệ thống pháp luật của các quốc gia theo Luật Hồi giáo và là nguồn luật
thể hiện cho sự điều chỉnh pháp luật bằng việc kết hợp những tư tưởng thần
thánh tự nhiên với lý trí và sự thông thái của con người.
V.

Đặc điểm của hệ thống pháp luật Sharia

1. Pháp luật hồi giáo có tính bền vững cao:
Về nguyên tắc luật Hồi giáo không thay đổi, ổn định, có tính bền vững cao
mà chỉ có các quan hệ xã hội thay đổi nên nó phải được áp dụng mềm dẻo. Và
khó có thể phân biệt giữa các quy định của pháp luật và các quy định của tôn
giáo.
Luật Hồi giáo có quan niệm về hành vi không giống các hệ thống pháp luật
khác. Theo đó luật Hồi giáo chia hành vi của con người thành 5 loại sau: hành vi
buộc phải làm (obligatoire); hành vi nên làm (recommandes); hành vi làm cũng
được không làm cũng được (indiffrerentes); hành vi bị khiển trách (blamables);
hành vi cấm (interdites). Đây là nguyên tắc đánh giá hành vi của con người vể
cả phương diện pháp luật và đạo đức.


Đặc điểm nổi bật của luật Islam giáo là qui định có tính chất đạo đức, ít có
qui định về thương mại hoặc quan hệ giữa các quốc gia. Mặc dù vậy, cũng có
một số nguyên tắc pháp luật của hệ thống Dân luật và hệ thống luật chung. Ví dụ
trong dân luật 1953 của Libya, có nói đến việc áp dụng tập quán, luật tự nhiên,
lẽ công bằng như trong hệ thống dân luật và luật chung.
Tập quán không thể khuyên làm theo những hành vi bị cấm đoán, hoặc
cấm đoán những gì pháp luật coi là bắt buộc, nhưng tập quán có quyền bắt buộc


những gì mà theo pháp luật được làm, cũng như cấm đoán những gì mà pháp
luật cho là đáng chê trách hoặc cho phép
Đây được coi là nguyên tắc cơ bản để đánh giá hành vi của con người về
phương diện pháp luật cũng như đạo đức..

VI.

Hiến pháp - Vai trò của thẩm phán ( Role of Judges ) - Tổ chức tòa
án và hệ thống pháp luật Hồi giáo

1. Hiến pháp ( Constitution )
Luật Hồi giáo có nguồn gốc thần thánh. Quyền lực của nguồn luật này là
ở chỗ chúng thể hiện mệnh lệnh của đấng tối cao, chứ không phải quyền lực của
nhà nước. Bản chất thần thánh này là: pháp luật là ý chí của thượng đế, không có
gì trên đời có thể thay đổi được luật là ý chí của thượng đế, không có gì trên đời
có thể thay đổi được các điều Thánh Kinh đã dạy, các tín đồ chi có quyền tuân
thủ chúng.
Luật Hồi giáo có hệ thống nguồn luật như sau: nguồn cơ bản bao gồm
Kinh Coran và Sunna; nguồn phát sinh bao gồm Ijma và Qias. Ngay ở đây
chúng ta có thể thấy nét đặc biệt của luật Hồi giáo: bổn nguồn – “bốn gốc rễ”
của nó bao gồm những yếu tố cấu thành không đồng nhất.

đế. Trong đó, Mohammed luôn vận dụng những tập quán phổ biến của các bộ
tộc Ả rập.
Trong các nguồn luật của luật Hồi giáo, thì kinh Koran quan trọng nhất,
được coi là đạo luật gốc, cơ bản nhất, có thể coi là Hiến pháp của luật Hồi
giáo.
Đọc thêm tại: http://luatsosanh.blogspot.com/2015/07/su-hinh-thanh-va-phattrien-cua-luat.html
2. Vai trò của thẩm phán ( Role of Judges )
Thẩm phán có quyền quyết định rất lớn trong việc áp dụng quan điểm nào
trong Idjmá để giải quyết một vụ việc cụ thể bất kỳ.
Thành tố thứ tư của Luật Hồi giáo là Qiyas, là án lệ được tuyên bởi thẩm
phán cấp cao[20]. Nói một cách khác, Qiyas có thể gọi là “phương pháp suy xét
theo sự việc tương tự”[21]. Các thẩm phán của các nước theo Luật Hồi giáo có
thể sử dụng tiền lệ pháp đó để giải quyết một vụ việc mới phát sinh sau này mà
hướng giải quyết vụ việc đó không được đề cập trong Kinh Qu’ran, Kinh Sunna
và Idjmá. Ví dụ như đó là một tội phạm về máy vi tính, trộm cắp phần mềm máy
tính, trong Kinh Qu’ran và Sunna không đề cập đến loại tội phạm này. Hành vi
này là cần thiết bị cấm nên thẩm phán phải dựa trên lý lẽ và logic để sáng tạo ra
án lệ, hay còn gọi là Qiyas.
Vậy ở các nước theo Luật Hồi giáo có tồn tại nguồn luật là các văn bản
pháp luật hay không? Có thể nói rằng, có văn bản pháp luật ở các quốc gia theo
Luật Hồi giáo cũng như việc có tồn tại án lệ trong hệ thống pháp luật của những
quốc gia này. Nhưng đây là sự chuyển hóa những quan điểm pháp luật, ý kiến
pháp luật được thống nhất bởi các học giả pháp lý Đạo Hồi vào các văn bản


pháp luật[22]. Và sự chuyển hóa này bắt đầu vào khoảng thế kỷ 19, thời điểm
lịch sử các quốc gia theo Luật Hồi giáo có một sự thay đổi rất lớn lao, khi các
quốc gia Phương Tây tăng cường quyền lực toàn cầu và chinh phục một phần
rộng lớn của thế giới, trong đó có các vùng lãnh thổ của Luật Hồi giáo[23].
[20] http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm



Khác với các hệ thống pháp luật khác, thông thường coi tội phạm giết
người là tội phạm nặng nhất, trong pháp luật Hồi giáo, các tội phạm chống lại
Chúa là tội phạm nặng nhất, còn tội phạm giết người và gây thương tích được
coi là các tội phạm chống lại cá nhân chứ không phải chống lại Chúa, nên được
coi là ít nghiêm trọng hơn Hudud. Nếu các tội trộm cắp, cướp của bị hình phạt
chặt tay, chân; người vợ ngoại tình bị xử tử hình, thì hình phạt ở đây được quan
niệm là phải trả bằng thân thể hoặc cuộc sống của mình, vì vậy không thể chuộc
bằng tiền. Nhưng nếu phạm tội giết người thì tuỳ theo tình tiết tăng nặng hoặc
giảm nhẹ mà xử tử hình hoặc chuộc tiền, tài sản. Theo luật Hồi giáo, giết một
người đàn ông có thể chuộc bằng 100 con lạc đà, giết một người đàn bà có thể
chuộc bằng 50 con lạc đà. Ngay cả thời hiện đại, ở Arập Xê -út (cho đến năm
1988) để được chuộc tội, người phạm tội phải trả 32.000 USD cho mạng một
người đàn ông Hồi giáo, 16.000 USD cho mạng một người đàn bà Hồi giáo và
một người đàn ông không phải là dân Hồi giáo; 8.000USD cho mạng một người
đàn bà không phải là người Hồi giáo.
c. Các tội Taazir: bao gồm các tội như ăn thịt lợn, đưa ra lời khai man trá, hối lộ,
làm gián điệp, nói năng tục tĩu, mặc quần áo khiêu dâm, vi phạm luật lệ giao
thông… Việc truy tố và trừng phạt các tội Taazir thuộc quyền tự quyết của toà
án và các vị chức sắc trong tôn giáo. Hình phạt có thể là tù, phạt tiền và thường
là nhẹ hơn các tội Hudud và Quesas.
4.2. Luật dân sự.
Hệ thống luật nghĩa vụ rất phát triển. Nghĩa vụ xuất phát từ hợp đồng chia
làm 2 loại. Sự phân biệt hai loại này được xác định trên cơ sở có hay không sự
chuyển giao tài sản (là đối tượng hợp đồng).
a) Nhóm thứ nhất liên quan đến việc có chuyển giao tài sản là đối tượng của
giao dịch dân sự:
– Hợp đồng trao đổi.
– Hợp đồng cho vay.

khước từ. Trên thực tế, cô gái có thể thỏa thuận ngầm với người con trai để cho
việc “cướp dâu” đó có thể tiến hành trót lọt.
Cũng như ở nhiều nước theo các tôn giáo khác, các nước Hồi giáo thường
cho rằng hôn nhân phải môn đăng hộ đối, nghĩa là gia đình cô dâu, chú rể phải
tương xứng nhau về mặt địa vị và tài sản. Nếu không tìm được người môn đăng
hộ đối, ở một số nước Hồi giáo người ta cho phép con cô, con cậu có thể kết hôn
với nhau để giữ tài sản cho dòng họ (mẹ của chú rể là chị (hoặc em) của bố cô
dâu hoặc ngược lại).
4.4. Luật tố tụng (hình sự và dân sự)
Các toà án ở các nước theo đạo Hồi là các toà án Hồi giáo truyền thống giải
quyết các vụ án hình sự cũng như dân sự. Các thẩm phán trong các toà án
Chariat gọi là Quadis được trải qua một khoá đào tạo tôn giáo cũng như pháp
luật. Thủ tục tố tụng được quy định trong kinh Coran. Trước toà, đương sự phải
có hai người đàn ông hoặc một người đàn ông và hai người đàn bà làm chứng.
Nếu chỉ có một người làm chứng thì đương sự có thể thề trước đấng Allah. Lời
thề trước đấng Allah được coi là bằng chứng trung thực.
4.5. Luật Nhà nước
Cho đến ngày nay, một số quốc gia theo đạo Hồi như Arập Xê -út vẫn còn
tồn tại chế độ quân chủ chuyên chế. Một số quốc gia Hồi giáo trong bộ máy nhà
nước chỉ có hai nhánh: hành pháp và tư pháp, không có Nghị viện lập pháp. ở
những nước này, quan niệm chỉ có đấng Allah mới có quyền làm ra luật để quy
định cách ứng xử của dân chúng trong xã hội. Nhà vua là người duy nhất nắm
trong tay quyền lực chính trị và là lãnh tụ tôn giáo tối cao của vương quốc. ở
Arập Xê -út không có đảng chính trị và lập pháp được thực hiện bởi các sắc lệnh
do vua ban hành. Vua bổ nhiệm các thẩm phán, các quan chức cao cấp trong
chính phủ, các thống đốc và các sĩ quan cao cấp trong quân đội (từ đại tá trở
lên). Nhà vua là người có quyền xét xử (tư pháp) cao nhất, là người có quyền ân
xá.



Tổng tham mưu trưởng và Bộ trưởng các bộ: Nội vụ, Ngoại giao, Thông tin, Kế
hoạch và ngân sách).
VII. Giải thích pháp luật Sharia ( interpretation of Sharia law )
Sharīʿah (tiếng Ả Rập: ‫ شريعة‬šarīʿah, IPA: [ʃaˈriːʕa], "đường" hay "đạo") là luật
hành vi hoặc luật tôn giáo của Hồi giáo. Phần lớn tín đồ Hồi giáo tin rằng Sharia
bắt nguồn từ hai nguồn của luật Hồi giáo cơ bản:
Giới được quy định trong Kinh Koran, và ví dụ do nhà tiên tri Hồi
giáo Muhammad đưa ra trong Sunnah. Người Hồi giáo tin rằng Sharia là Thiên
Chúa của pháp luật, nhưng chúng khác nhau như chính xác những gì đòi hỏi.
Hiện đại, truyền thống và trào lưu, tất cả đều giữ những quan điểm khác nhau
của Sharia, cũng như tín đồ các trường phái khác nhau của tư tưởng Hồi giáo và


học bổng. Quốc gia khác nhau và các nền văn hóa đã thay đổi cách diễn giải của
Sharia là tốt.
Sharia đề ra nhiều chủ đề giải quyết bằng luật pháp thế tục, trong đó có tội
phạm, chính trị và kinh tế, cũng như các vấn đề cá nhân như vệ sinh, chế độ ăn
uống, cầu nguyện và ăn chay. Trường hợp được hưởng tình trạng chính thức,
Sharia được áp dụng bởi các thẩm phán Hồi giáo, hoặc qadis. Các thầy tế có
trách nhiệm khác nhau tùy thuộc vào việc giải thích của Sharia, trong khi thuật
ngữ này thường được dùng để tham khảo các lãnh đạo của lời cầu nguyện xã,
các thầy tế cũng có thể là một học giả, lãnh đạo tôn giáo, hoặc lãnh đạo chính
trị.
Nội dung Luật Sharia
Với đàn ông:


Hành lễ 5 lần 1 ngày, nhịn chay trọn tháng Ramadhan, đóng Zakat (bố
thí);


Không được phép ăn cắp nếu không sẽ bị chặt tay;
Nghiêm cấm đánh vợ và có những hành vi xúc phạm đến danh dự và nhân
phẩm của vợ, nhưng trường hợp muốn dạy người vợ ngang bướng thì hãy chỉ
bảo nhẹ nhàng nếu không được thì đánh nhẹ tay cấm được dùng gậy gộc để
dạy vợ nếu người vợ chịu nghe lời thì không được kiếm chuyện rầy rà với
vợ;
Khi cưới vợ cần tặng quà cưới bằng 1 khoản tiền tuỳ theo khả năng.
Khi cảm thấy không thể chung sống được với nhau thì giải phóng người
vợ một cách thỏa đáng và giữ lại tiền cưới nếu người vợ không đòi lại;




Không được phép ăn thịt lợn, chó, các loại động vật bị săn bắn, bị thắt cổ
chết,... nói chung là không ăn những loại động vật không được cắt cổ theo
đúng nghi thức nhưng nếu trong trường hợp bất khả kháng thì được phép ăn
những thứ trên để duy trì sự sống;



Phải dùng những thực phẩm đã được cấp chứng chỉ Halal;



Không được uống rượu bia hay những loại đồ uống có cồn.

Với phụ nữ




Các trẻ em gái khi đến trường học phải được xếp lớp học chỉ toàn học
sinh nữ, không được cho học sinh nữ ngồi cạnh học sinh nam; luật nầy củng
ảnh hưởng bên mình đến khoảng 1960 thì mới xoá đi. Hiện nay ở các nước
châu Âu vẩn còn giử luật nầy.



Phụ nữ nên chăm lo công việc nội trợ ở nhà trong khi chồng đi làm nhưng
nếu cần thiết có thể đi làm để trang trải cho cuộc sống;




Nếu bị bắt gặp ngoại tình bị đánh 100 roi cả 2 người nam và nữ chứ
không ném đá như kinh Coran đả phán ở câu "24.2. Administrez à la femme
et à l'homme coupables de fornication cent coups de fouet chacun. Le respect
de la loi de Dieu exige que vous n'ayez aucune pitié pour eux, si vous croyez
en Dieu et au Jugement dernier. Ce châtiment devra être exécuté en présence
d'un groupe de croyants."

Luật ném đá người ngoại tình chỉ có trong kinh sách Cựu ước của người Thiên
Chúa giáo mà thôi.

VIII. Các trường phái của pháp luật sharia ( Schools of Sharia law )
Hồi giáo dòng Sunni và Hồi giáo dòng Shia.
Trong quá trình phát triển của mình, Hồi giáo ngày càng vươn xa tới
nhiều vùng, miền khác nhau trên thế giới và qua mỗi thời kỳ, tôn giào này đã có
những điều chỉnh nhất định để thích nghi với bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa
tại các địa phương. Dù vậy, một trong những biến động lớn của Hồi giáo là sự
kiện Nhà tiên tri Mohammed mất (năm 632) và các tranh cãi về quyền kế thừa

madh’hab) được chấp nhận rộng rãi bao gồm: Trường phái Hanefit; Trường
phái Malekit; Trường phái Hafecit và Trường phái Hanbal.
Cả 4 trường phái này đều nghiên cứu về các tập quán tôn giáo, việc thực
thi các nghi lễ tín ngưỡng và về các Hadith do vị Imam thứ 6 là Jaffar Al-Sadiq
(cháu nội của nhà tiên tri Mohammed) kể lại. Hồi giáo dòng Sunni chỉ chấp
nhận 4 vị Caliph đầu tiên là người kế thừa chính trị hợp pháp của Mohammed
và chấp nhận các Hadith do những Sahabah của Mohammed kể lại
- Trường phái Sunnit lớn nhất – trường phái Hanefit do Abu Hanif
thành lập ở Iraq vào thế kỷ thứ nhất. Trường phái này có tính chất tương đối duy
lý trong phương pháp nghiên cứu các quy tắc thượng đế và thái độ cẩn trọng đối
với các truyền thống. Trường phái Hanefit xâm nhập vào Ai Cập, Syria, Ba Tư,
Ấn Độ, Trung Quốc và Trung Á. Hôm nay nó có mặt ở Thổ Nhĩ Kỳ, các nước
cộng hòa đạo Hồi của Liên Xô cũ, Jordan, Syria, Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ
và Bengal.
- Trường phái Sunnit đáng chú ý tiếp theo là trường phái Malekit do
Malik Ibn Anas sáng lập. Trường phái Malekit là trường phái tôn thờ những tập
quán của Medina chú ý tập trung đến đạo luật tôn giáo. Trường phái này phổ
biến ở Ai Cập, Mahrib, Sudan, Koweit, Quatar, Bahrein, các Tiểu Vương Quốc
Ả Rập và bờ đông bán đảo Arab. Trường phái Malekit cũng có mặt ở các nước
Tây Phi.
- Trường phái Hafecit do El Hafei thành lập vào thế kỷ thứ II. Học
thuyết của ông về nguồn pháp luật theo đuổi lý tưởng tôn giáo chứ không dựa
trên việc nghiên cứu sáng tạo thực tế. Do đó, trường phái không có đủ những
khái niệm cần thiết để phân tích thực trạng pháp lý – điều đã không cho phép
phát triển ngành khoa học pháp lý riêng biệt. Trường phái Hafecit có môn đồ tại
Palestin, Aden và Nam bán đảo Arad, Pakistan, Ai Cập, Indonesia, Malaysia,
Seilon, Philippines, Ấn độ và Đông Phi.
- Trường phái Hanbal do Ahmad Ibn Hanbal thành lập là trường
phái trung thành nhất với truyền thống. Trường phái này được phổ biến rộng rãi
chỉ sau thế kỷ thứ IV, còn ở Ai Cập vào thế kỷ thứ VII. Hiện nay nó có mặt ở Ả

rằng Ali sẽ là người kế thừa vị trí lãnh đạo cộng đồng Hồi giáo sau khi ngài mất.
Ali với tư cách người kế thừa của Mohammed không chỉ nắm quyền lãnh đạo
mà còn có quyền diễn giải Luật Sharia và những hàm ý bí truyền của luật này.
Ali được coi là vị Imam đầu tiên, là người “hoàn hảo” và tín đồ Hồi giáo Shia
chỉ chấp nhận các Hadith về Mohammed và các Imam (chứ không chấp nhận
các Hadith của người đồng hành Sahabah như đối với Hồi giáo Sunni)
Sự khác biệt trong chấp nhận các Hadith được coi là một trong những
khác biệt và mâu thuẫn lớn giữa Hồi giáo Sunni và Hồi giáo Shia.


1

Smit W.C. Étude L’lslam dans le monde moderne. 1962

2

Chehata C. Étude de droit musulman, 1970, P.19
IX.

Xem xét tính hợp hiến của pháp luật (Judicial review )

Bảo đảm sự tôn trọng đối với hiến pháp là điều kiện cốt lõi cho sự hình thành
Nhà nước pháp quyền. Chắc chắn không thể có một xã hội thượng tôn luật
pháp chừng nào hiến pháp, đạo luật gốc của toàn bộ hệ thống pháp luật, ở
trong tình trạng dễ bị tổn thương bởi hành vi của các chủ thể trong đời sống
chính trị, pháp lý. Xem xét tính hợp hiến của một đạo luật, quyền lực xã
hội, thậm chí quyền lực tôn giáo như ở các nước theo đạo Hồi. Đối với các
nước thừa nhận tính tối cao của luật Hồi giáo thì bị chi phối mạnh.
Luật Hồi giáo được chia làm hai bộ phận:
+ Học thuyết tôn giáo: Chứa đựng các giáo điều mà tín đồ phải tin.

mật thiết với hai phạm trù được trình bày trên (là tính hợp hiến và tính hợp
pháp), bởi lẽ, khi văn bản pháp luật đã bảo đảm tính hợp hiến và hợp pháp thì
giữa chúng đã đạt được sự thống nhất nhất định, cả về nội dung và hình thức.
Có thể nói tính thống nhất là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất
lượng của một đạo luật, pháp lệnh. Tiêu chí này chủ yếu là để đánh giá mối
liên hệ gắn bó nội tại giữa các yếu tố nội dung của đạo luật, pháp lệnh cũng
như giữa đạo luật, pháp lệnh đó với toàn bộ hệ thống pháp luật. Ngoài ra,
tính thống nhất của hệ thống pháp luật cũng bao hàm cả sự thống nhất về mặt
hình thức. Tuy nhiên, về cơ bản, tính thống nhất về mặt nội dung luôn có vai
trò quyết định.
Khi xem xét tính thống nhất của hệ thống pháp luật, cần phải nghiên cứu
ở cả hai khía cạnh: Tính thống nhất trong chính đạo luật, pháp lệnh và tính
thống nhất trong toàn bộ hệ thống pháp luật.
Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất trong hoạt động của
bộ máy nhà nước nói chung, trong các văn bản quy phạm pháp luật và văn
bản áp dụng pháp luật nói riêng là một nguyên tắc, yêu cầu khách quan, tất
yếu của mọi Nhà nước.
Đạo Hồi chính là lời răn dạy của thánh Allah mà Mohammed đã tìm ra và
truyền lại cho người đời, điều đó đã được khái quất thông qua lời cầu
nguyện: “ Không có chúa trời khác nào ngoài Allah và Mohammed là tiên tri
của Ngài ” Luật Hồi giáo chính là hệ thống các quy định mang tính tôn giáo
của những người theo đạo và các quy định này hoàn toàn độc lập, không chịu
sự chi phối của nhà nước, không có quyền lực nào có thể thay thế luật Hồi
giáo.


Về nguyên tắc luật Hồi giáo không thay đổi, ổn định mà chỉ có các quan
hệ xã hội thay đổi nên nó phải được áp dụng mềm dẽo. và khó có thể phân
biệt giữa các quy định của pháp luật và các quy định của tôn giáo. Nhà cầm
quyền dù quốc vương hay nghị viện đều không phải là ông chủ của pháp luật

đứng đầu một quốc gia Hồi giáo (Califate, Emirates)
- Ommal là người đứng đầu Hồi giáo ở tỉnh
- Hakim (giáo cả) là người cai quản thánh đường
- Naib Hakim (phó giáo cả), người phụ tá cho giáo cả
- Ahly, người đứng đầu thôn ấp Hồi giáo



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status