Báo cáo tốt nghiệp: Các giải pháp truyền tải IP trên mạng quang - Pdf 19


TRƯỜNG …………………
KHOA………………………
[\[\

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

Đề tài: Các giải pháp truyền
tải IP trên mạng quang i

Nội dung khoá luận tốt nghiệp
Từ yêu cầu của đề tài “Các giải pháp truyền tải IP trên mạng quang” thì luận
văn đã nêu lên được các vấn đề liên quan. Đó là giới thiệu một cách khái quát về
yêu cầu của đề tài, nói lên được tổng quan về công nghê IP. Công nghệ mà đang trở
thành chuẩn phổ biến của nhiều dịch vụ mạng mới. Đã nêu lên công nghệ IP đang
sử dụng hiện nay và xu hướng phát triển công nghệ IP trong tương lai. Luận văn
cũng đã nêu các giải pháp truyền tải IP trên mạng quang hiện nay. Các cách thức
truyền tải dựa trên các phương pháp đã làm chủ, các giải pháp mới có tính khả thi
cho tương lai. Đưa ra vấn đề không thể thiếu và rất quang trọng là vấn đề vê cách
thức điều khiển, báo hiệu trong truyền tải IP trên mạng quang cũng đã được đề cập.
2.2.4.2 DTM (Dynamic Transfer Mode) 31
2.2.4.3 Sử dụng MPLS hỗ trợ chức năng định tuyến IP (IP-MPLS) 32
2.2.5 Chuyển mạch kênh quang WDM 36
2.2.5.1 Kỹ thuật WDM 36
2.2.5.2 Chuyển mạch kênh quang: Định tuyến bước sóng 36
2.2.6 Chuyển mạch gói quang. 38
2.2.6.1Các kỹ thuật chuyển mạch gói quang 39
2.2.4.2 Định tuyến lệch 45
2.2.7 Kết luận 45
2.3 Phương thức điều khiển trong mạng truyền tải tích hợp IP over WDM 46
2.3.1 Quá trình phát triển mặt điều khiển 47
2.3.2 G-MPLS 48
2.3.2.1 Giới thiệu 48
2.3.2.2 Hoạt động và nền tảng của MPLS 49
2.3.2.3 Quá trình phát triển MPLS đến GMPLS 50 iii

2.3.2.4 Bộ giao thức G-MPLS 51
2.3.2.5 Mục tiêu và các chức năng mặt điều khiển GMPLS 53
2.3.2.6 Kiến trúc các thành phần của mặt điều khiển GMPLS 54
2.3.2.6.1 Yêu cầu của mặt điều khiển 54
2.3.2.6.2 Mạng thông tin số liệu hỗ trợ mặt điều khiển GMPLS 55
2.3.2.7 Báo hiệu trong GMPLS 57
2.3.2.7.1 Các chức năng cơ bản 58
2.3.2.7.2 Hỗ trợ phục hồi 59
2.3.2.7.3 Hỗ trợ xử lý loại trừ 59
2.3.2.7.4 Phối hợp báo hiệu 60
2.3.2.8 Các lợi ích của G-MPLS 61

CBR
Constant Bit Rate Tốc độ bit không đổi
CIDR
Classless Inter-Domain Routing Định tuyến liên vùng không phân lớp
CLP
Cell Loss Priority Độ ưu tiên mất tế bào
CoS
Class of Services Lớp dịch vụ
CRC
Cyclic Redundancy Check Kiểm tra độ dư thừa theo chu kỳ
DPT
Dynamic Packet Transport Truyền tải gói động
DTM
Dynamic Transfer Mode Chế độ truyền tải động
DVMRP
Distance Vector Multicast Routing
Protocol
Giao thức định tuyến vecto khoảng
cách
DWDM
Density Wavelength Division
Multiplexing
Ghép kênh phân chia theo bước sóng
mật độ cao
DXC
Digital Cross-Connect Kết nối chéo kênh
EGP
Exterior Gateway Protocol Giao thức cổng ngoài
FCS
Frame Check Sequence Chuỗi kiểm tra khung

Intelligent Protection Switching Chuyển mạch bảo vệ thông minh
IPv4
IP version 4 Giao thức Internet phiên bản 4
IPv6
IP version 6 (=IPng) Giao thức Internet phiên bản 6
ISDN Integrated Services Digital Network Mạng số đa truy nhập
ISO
International Standards Organisation Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế
ISP
Internet Service Provider
Nhà cung c
ấp dịch vụ Internet
ITU International Telecommunication
Union
Hiệp hội viễn thông quốc tế
L2
Layer 2 Lớp 2
L3
Layer 3 Lớp 3
LAN
Local Area Network Mạng cục bộ
LAPS
LAN Adapter Protocol Support
Program

Hỗ trợ giao thức đáp ứng LAN
LCP
Link Control Protocol Giao thức điều khiển đường
LDP
Label Distribution Protocol Giao thức phân phối nhãn

Multi Protocol Label Switching Chuyển mạch nhãn đa giao thức
MPOA
Multi Protocol Over ATM Đa giao thức theo ATM
NGN
Next Generation Network
Mạng thế hệ mới
OADM
Optical Add Drop Multiplexer Bộ ghép xen rẽ quang
OAM
Operation, Administration and
Maintenance
Khai thác, Quản trị và Bảo dưỡng
OBS
Optical burst switching Chuyển mạch cụm quang
OC
Optical Carrier Sóng mang quang
OCH
Optical Channel Kênh quang
OCHP
Optical Channel Protection Bảo vệ kênh quang
OE
Opto-electronic conversion Chuyển đổi quang-điện
ODL
Optical Delay Line Trễ đường quang
OEO
Optical- Electronical- Optical Quang-Điện-Quang
OEXC
Opto-Electric Cross-Connect Kết nối chéo quang-điện
OL
Optical Label

OSPF
Open Shortest Path First Thuật toán tìm đường ngắn nhất
OTDM
Optical Time Division Multiplexing Ghép quang theo thời gian
OTN
Optical Transport Network Mạng truyền tải quang
PDH
Plesiochronous Digital Hierachy Phân cấp số cận đồng bộ
POL
Packet Over Lightwave Chuyển mạch gói qua bước sóng
POS
Packet Over SONET/SDH Gói qua SONET/SDH
PPP
Point-to-Point Protocol Giao thức điểm điểm
QoS
Quality of Service Chất lượng dịch vụ
QoSig
quality of signal Chất lượng tín hiệu
RSVP
Resource ReSerVation Protocol Giao thức dự trữ tài nguyên
SDH
Synchronous Digital Hierarchy Truyền dẫn đồng bộ
SDL
Simple Data Link Đường dữ liệu đơn giản
SDLC
Synchronous Data Link Control Điều khiển tuyến dữ liệu đồng bộ
SLA
Service Level Agreement Sự thỏa thuận mức dịch vụ
SNAP
Sub Network Access Point Điểm truy nhập mạng con

Wavelength Division Multiplexing Ghép kênh theo bước sóng
1

Lời mở đầu
Giao thức Internet (IP) đã trở thành giao thức chuẩn phổ biến cho
các dịch vụ mạng mới, do đó lưu lượng IP không ngừng tăng nhanh và dần
thay thế các loại giao thức khác. Hằng năm, lưu lượng số tăng hơn lưu
lượng thoại gấp 2 ÷ 4 lần. Đến năm 2010, lưu lượng số đã đạt đến gấp hàng
chục lần lưu lượng thoại.
Kiến trúc mạng IP ngày nay được xây dựng theo ngăn mạng xếp
chồng những công nghệ như ATM, SDH và WDM. Do có nhiều lớp liên
quan nên đặc trưng của kiến trúc này là dư thừa tính năng; và chi phí liên
quan đến vận hành khai thác cao. Hơn nữa, kiến trúc này trước đây sử dụng
để cung cấp chỉ tiêu đảm bảo cho dịch vụ thoại và thuê kênh, không được
thiết kế phù hợp cho mạng số liệu. Do đó nó không thật sự thích hợp đối
với các ứng dụng hoạt động dựa trên công nghệ chuyển mạch gói và đặc
biệt là những ứng dụng có nguồn gốc IP.
Một số nhà cung cấp và tổ chức tiêu chuẩn đang đề xuất những giải
pháp mới khai thác IP trên kiến trúc mạng đơn giản, ở đó lớp WDM là nơi
cung cấp băng tần truyền dẫn vô cùng lớn. Những giải pháp này cố gắng
giảm tối đa tính năng dư thừa, giảm mào đầu giao thức, đơn giản hoá công
việc quản lý và qua đó truyền tải IP trên lớp WDM (lớp mạng quang) càng
hiệu quả càng tốt. Hiện nay có nhiều kiến trúc mạng đã được nhận diện và
triển khai trong thực tế. Tất cả chúng đều liên quan đến việc đơn giản hoá
các ngăn giao thức nhưng trong số chúng chỉ có một số kiến trúc có nhiều
đặc tính hứa hẹn như DoS (Data over SONET/SDH), Gigabit Ethernet
(GbE) và Resilient Packet Ring (RPR) ngoài kiến trúc IP trên

thực sự là một tài nguyên.
Hàng chục triệu máy chủ trên hàng trăm nghìn mạng. Để địa chỉ không
được trùng nhau cần phải có cấu trúc địa chỉ đặc biệt quản lý thống nhất và một Tổ
chức của Internet gọi là Trung tâm thông tin mạng Internet - Network Information
Center (NIC) chủ trì phân phối, NIC chỉ phân địa chỉ mạng (Net ID) còn địa chỉ
máy chủ trên mạng đó do các Tổ chức quản lý Internet của từng quốc gia một tự
phân phối. (Trong thực tế để có thể định tuyến (routing ) trên mạng Internet ngoài
địa chỉ IP còn cần đến tên riêng của các máy chủ (Host) - Domain Name).
1.2 IPv4
Địa chỉ IPv4 gồm 32 bit, chia thành bốn octet, mỗi octet là một byte. Địa
chỉ IP được chia thành năm lớp A, B, C, D và E. Giả sử Net_ID và Host_ID lần
lượt là định danh mạng và trạm. Địa chỉ IP được biễu diễn dưới dạng
<Net_ID><Host_ID>. Với IPv4 chúng ta có 2
32
(4,3 tỷ) địa chỉ.
Kề từ khi chính thức đựơc đưa vào sử dụng và được định nghĩa trong kiến
nghị RFC791 năm 1981 đến nay, Ipv4 đã chứng minh được khả năng dễ triển 3

khai, dễ phối hợp và hoạt động và tạo ra sự phát triển bùng nổ của các mạng máy
tính. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại với sự phát triển công nghệ hiện nay, hầu
như tất cả tất cả các thiệt bị điện tử trong tương lai sẽ tích hợp dịch vụ IP, hơn nữa
sự tăng vọt ồ ạt các ứng dụng và công nghệ cũng như các thiết bị di động khác đã
làm cho không gian địa chỉ Ipv4 ngày càng chật hẹp và bộc lộ nhiều điểm yếu của
Ipv4:
- Thiếu địa chỉ IP do sự tăng quá nhanh của các host trên mạng Internet đã
dẫn đến tình trạng thiếu địa chỉ IP trầm trọng để gán cho các node. Trong
những năm 1990, CIDR đựơc xây dựng dựa trên khái niệm mặt nạ địa chỉ

Do các vấn đề đặt ra ở trên nên một phiên bản của giao thức mới đã được
giới thiệu. Xuất phát điểm của IPv6 có tên gọi là Ipng (Internet Protocol Next
Generation). Sau đó, IPng được gán với phiên bản 6 và lấy tên chính thức là IPv6.
Quan điểm chính khi thiết kế từng bước thay thế IPv4, không tạo ra sự biến đổi
quá lớn với các tầng trên và dưới.
- Mở rộng của không gian địa chỉ : Địa chỉ của IPv6 bao gồm 128bit so với
32bit của địa chỉ IPv4. Với phạm vi của địa chỉ IPv6, việc cung cấp địa chỉ
trở nên thoải mái hơn rất nhiều. Về mặt lý thuyết, 128bit địa chỉ có khả
năng cung cấp 2
128
địa chỉ, nhiều hơn địa chỉ IPv4 khoảng 8 tỷ tỷ tỷ lần. Số
địa chỉ này sẽ đáp ứng được sự bùng nổ của các thiết bị IP trong tương lai.
Ngoải ra IPv6 còn cung cấp phương thức mới tự động cấu hình địa chỉ và
xây dựng một phép kiểm tra tính duy nhất của địa chỉ IP.
- Kết cấu địa chỉ định tuyến được phân cấp hiệu quả: Địa chỉ IPv6 được thiết
kết để tạo ra cơ sở định tuyến phân cấp, hiệu quả và có khả năng tập hợp lại
dựa trên sự phân cấp thành nhiều mức của các nhà cung cấp dịch vụ (ISP).
Như vậy các bảng định tuyến trên các router backbone sẽ gọn nhẹ hơn
nhiều.
- Dạng header mới: Phần Header của IPv6 được giảm xuống tới mức tối
thiểu bằng việc chuyển tất cả các trường phụ thuộc hoặc không cần thiết
xuống phần header còn lại nằm ngay sau phần header của IPv6. Việc tổ
chức hợp lý phần header này làm tăng hiệu quả xử lý tại các router trung
gian. IPv6 header và IPv4 header là không tương thích với nhau, do đó các
node phải được cài đặt 2 phiên bản IP mới có thể xử lý được các header
khác nhau này. 5



6

Một đặc tính mới của IPv6 so với IPv4 đó là khả năng hỗ trợ QoS tại lớp
mạng. Tuy nhiên, điều này được thực hiện gián tiếp qua nhãn luồng và chỉ thị ưu
tiên, và không có sự đảm bảo nào về QoS từ đầu đến cuối cũng như không thực
hiện chức năng dành trước tài nguyên mạng. Dù sao khi các tính năng của IPv6
được sử dụng với các giao thức dành trước tài nguyên mạng như RSVP chất lượng
dịch vụ từ đầu đến cuối được đảm bảo.
Đặc tính bảo mật của IPv6 hỗ trợ cho tính hợp pháp và bí mật cá nhân.
Chúng cũng cung cấp chức năng cơ bản cho việc tính cước dịch vụ và lưu lượng
tương lai theo cước phí.
Nhằm cải thiện vấn đề định tuyến, định dạng mào đầu (cơ sở) của IPv6 sẽ
được cố định; điều này cho phép giảm thời gian xử lý ở phần mềm do phần cứng
thực hiện nhanh hơn nên định tuyến cũng sẽ nhanh hơn. Nhiều thay đổi chủ yếu
tập trung ở phần phân tách số liệu. Trong IPv6, phân tách số liệu được thực hiện
tại phía nguồn và khác với IPv4, bộ định tuyến có dung lượng kích thước gói giới
hạn. Kết hợp với những thay đổi này bộ định tuyến IPv6 phải hỗ trợ tối thiểu 576
byte so với 68 byte của bộ định tuyến IPv4. Tất cả thông tin về phân tách được
chuyển từ mào đầu IP tới phần mào đầu mở rộng nhằm đơn giản hóa giao thức và
nâng tốc độ xử lý số liệu IP trong bộ định tuyến.
Kiểm tra lỗi ở mức IP không được thực hiện trong IPv6 để giảm khối lượng
xử lý và cải thiện định tuyến. Kiểm tra lỗi tiêu tốn nhiều thời gian, mất nhiều bit
mào đầu và dư thừa khi cả lớp định tuyến và lớp truyền tải đều có chức năng kiểm
tra tin cậy.
1.4 Sử dụng IPv4 hay IPv6.
Đến bây giờ chúng ta có thể khẳng định rằng IPv6 chưa thể thay thế IPv4
ngay được. Hai phiên bản IP này sẽ cùng tồn tại trong nhiều năm nữa. Về nguyên
lý, có thể thực thi IPv6 bằng cách nâng cấp phần mềm thiết bị IPv4 hiện thời và
đưa ra một giai đoạn chuyển đổi để giảm thiểu chi phí mua sắm thiết bị mới và bảo

một trong những điểm giá trị nhất của nó. Trong bất kỳ trường hợp nào, sự thích
ứng mới giữa IP và WDM cần được phát triển. Lớp thích ứng này phải có khả
năng dành trước tài nguyên.
Kịch bản này xem các bộ định tuyến IPv4 được thích ứng ở biên của mạng
WDM, điều này đồng nghĩa với việc tạo ra một quá trình chuyển đổi dần dần tại
biên giới giữa các thành phần mạng. Sử dụng IPv6 trong phần lõi của mạng WDM
sẽ đem lại hiệu quả, khả năng mở rộng lớn hơn so với IPv4. 8

CHƯƠNG 2: CÔNG NGHỆ IP TRÊN MẠNG
QUANG
2.1 Các thế hệ mạng WDM.
Thế hệ WDM đầu tiên được sử dụng trong mạng WAN. Cấu hình mạng
WAN WDM được cài đặt nhân công hoặc cố định. Đường truyền WDM cung cấp
các kết nối điểm nối điểm với tốc độ thấp. Kỹ thuật chính trong WDM thế hệ đầu
tiên là thiết kế và phát triển Laser WDM, các kỹ thuật khuếch đại quang, các giao
thức truy nhập và định tuyến tĩnh. Các thiết bị xen, ré bước sóng quang WADM
cũng được sử dụng trong mạng MAN. Các thiết bị đấu nối chéo quang DXC được
sử dụng để kết nối các vòng Ring WADM. Các kết nối này có thể là băng thông
rộng hoặc băng thông hẹp. Ứng dụng của các hệ thống WDM thế hệ đầu tiên là
các trung kế chuyển mạch cho tín hiệu thoại, các đường truyền E1, T1.
Thế hệ WDM thứ hai có khả năng thiết lập các kết nối từ đầu cuối đến đầu
cuối trên lớp quang bằng cách sử dụng WSXC. Các đường quang này có cấu trúc
(topology) ảo trên topology vật lý của cáp sợi quang. Cấu hình các bước sóng ảo
này được cài đặt mềm dẻo hơn theo yêu cầu sử dụng. Kỹ thuật chính WDM thế hệ
thứ hai là xen, rẽ bước sóng quang, các thiết bị đấu nối chéo, bộ biến đổi bước
sóng quang tại các bộ đấu nối chéo, định tuyến động và phân bổ bước sóng quang,
các giao diện để kết nối với các mạng khác.

Đã có nhiều phương pháp để cung cấp dịch vụ gói IP trên mạng WDM
được đề nghị: IP/ATM/SDH over WDM, IP/SDH over WDM, v.v.v. Tuy nhiên
việc quản lý mạng theo các phương pháp trên gặp không ít khó khăn. Nguyên
nhân chủ yếu gây nên sự phức tạp trong quản lý chính là sự phân lớp theo truyền
thống của giao thức mạng. Các mạng truyền thống có rất nhiều lớp độc lâp, do đó 10
có nhiều chức năng chồng chéo nhau ở các lớp và thường xuyên có sự mâu thuẩn
lẫn nhau. Vì vậy, một trong những giải pháp để giảm chi phí xây dựng và quản lý
mạng một cách triệt để đó là số lớp giao thức.
Hơn nữa, khi dung lượng và khả năng kết nối mạng trong cả công nghê IP
và WDM tăng lên thì càng cần thiết tối ưu mạng IP và bỏ qua tất cả các công nghệ
lớp trung gian để tạo nên mạng Internet quang thật sự hiệu quả và mềm dẻo. Tuy
nhiên, các lớp trung gian cung cung cấp một số chức năng có giá trị như lưu lượng
(Traffic Engineering) và khôi phục. Những chức năng này cần được giữ lại trong
mạng IP/WDM bằng cách đưa chúng lên lớp IP hoặc xuống lớp quang.
Từ đó người ta mới nghĩ đến công nghệ IP over WDM. Đây là một công
nghệ mới tuy rằng còn nhiều vấn đề chưa giải quyết nhưng với lợi ích của nó, thị
trường rộng lớn và tương lai sáng sủa, các tổ chức viễn thông quốc tế đang triển
khai công tác nghiên cứu công nghệ này. IP over WDM cung cấp khả năng truyền
dẫn trực tiếp gói số liệu IP trên kênh quang, giảm sự lặp chức năng giữa các lớp
mạng, giảm bộ phận trung tâm dư thừa tại các lớp SDH/SONET, ATM, giảm thao
tác thiệt bị, dẫn đến giảm chi phí bảo dưỡng và quản lý. Do không phải qua lớp
SDH và ATM nên gói số liệu có hiệu suất truyền dẫn cao nhất, đồng nghĩa với chi
phí thấp nhất. Ngoài ra còn có thể phối hợn với đặc tính lưu lượng không đối xứng
của IP, tận dụng băng tần nhằm giảm giá thành khai thác. Từ đó gián tiếp giảm chi
phí cho thuê bao. Rõ ràng đây là một kết cấu mạng trực tiếp nhất, đơn giản nhất,
kinh tế nhất, rất thích hợp sử dụng cho các mạng đường trục.


WDM
IP
MAPOS
WDM
SDL
RPR Ethernet SDH
SDH (VCnc)/LAPS
IP ATM
ATM
Cell Based SDH
WDM
ATM
IP ATM
DTM
SDH frame
DTM frame
based
WDM
DTM
Líp
m¹ng
quang
ATM
RSP
Ethernet SDH
Hình 3: Các mô hình phân lớp mạng
Trong đó lớp thích ứng ATM (ALL 5) sẽ đóng vai trò cung cấp dịch vụ và
chức năng định tuyến lớp 3.
Chức năng Lớp 2 được xây dựng dựa trên các công nghệ hiện đã trưởng
thành như SDH, ATM, Ethernet, DTM và WDM. Một số giao thức như

 IP/GbE/WDM
 IP/RPR/SDH(khung)/WDM
 IP/MAPOS /SDH(khung)/WDM 13
 IP/GFP/SDH/WDM
 IP/DTM/WDM
 IP/DTM/SDH(khung)/WDM
 IP/LAPS/SDH(khung)/WDM
 IP-MPLS/SDH(khung)/WDM
 IP-MPLS/quang (Digital Wrapper -G.907)
 IP-GMPLS/quang
Cần biết rằng nguyên lý hoạt động của khung SDH (kỹ thuật ghép kênh
SDH) có thể ứng dụng trong các thiết bị độc lập hoặc được tích hợp trong thiết bị
khác mà có chung phần điều khiển với công nghệ khác. Đó là lý do người ta phân
thành hai giải pháp sử dụng khung SDH trong thiết bị độc lập và thiết bị tích hợp
(SDH (khung)), phù hợp theo hai mô hình xếp chồng và đồng cấp đang được ứng
dụng trong mạng ngày nay.
2.2.3 Thích ứng IP trên WDM
2.2.3.1 IP/ATM/SDH cho truyền dẫn WDM
Bảng 1: Ngăn giao thức sử dụng tích hợp cho IP/ATM/SDH
IP
Được đóng thành các gói kích thước 250 đến 65535 byte.
LLC/SNAP
Điều khiển tuyến logic thêm 8 byte mào đầu vào gói IP để tạo
thành khối dữ liệu giao thức (PDU) ATM.
AAL5
Lớp thích ứng ATM5 thêm 8 byte mào đầu (trường độ dài và 4
byte CRC) cộng với trường nhồi (0 đến 47 byte) để tạo thành

ATM
switch
IP
router
IP
router
e.g. 32 WDM
STM16c/ATM
interface
IP
router
STM16c/ATM interface
STM16c
interfaces
STM1/ATM
interface

Hình 4: Biểu diễn kiến trúc mạng khả thi sử dụng IP/ATM/SDH over WDM.
Theo cách này, các gói IP được phân tách trong các tế bào ATM và được
gán vào các Kết nối ảo (VC) qua Card đường truyền SDH/ATM trong bộ định
tuyến IP. Tiếp đến các tế bào ATM được đóng trong khung SDH và được gửi tới
chuyển mạch ATM hoặc trực tiếp tới bộ Transponder WDM để truyền tải qua lớp
mạng quang (biểu diễn đơn giản như trong Hình 4 cho ring OADM).
Hiện tại, một cách thực hiện đảm bảo QoS cho dịch vụ IP là cung cấp một
băng tần cố định giữa các cặp thiết bị định tuyến IP cho từng khách hàng (quản lý
QoS Lớp 2). ATM cung cấp tính năng thực hiện điều này với tính hạt băng tần 15
thay đổi nhờ các Kênh ảo cố định (PVC) qua hệ thống quản lý ATM hoặc thiết lập

kỹ thuật này không hỗ trợ cho bất kỳ giao thức nào ngoài những giao thức thiết kế
cho ATM. 16
Một số ưu điểm của việc sử dụng tế bào dựa trên giao diện SDH như trình
bày ở trên:
 Kỹ thuật truyền dẫn đơn giản đối với tế bào ATM cũng như các tế bào được
gửi trực tiếp trên môi trường vật lý sau khi trộn.
 Mào đầu lớp vật lý ít hơn (khoảng 16 lần so với SDH)
 ATM là không đồng bộ nên không đòi hỏi cơ chế định thời nghiêm ngặt với
mạng.
Tuy nhiên, nhược điểm của giải pháp này là phần mào đầu (thuế tế bào)
cũng lớn tương tự như đối với truyền tải SDH; công nghệ này không được các nhà
công nghiệp phát triển rộng rãi, và kỹ thuật truyền dẫn này chỉ có thể mang riêng
các tế bào ATM.
Tế bào ATM dựa trên các lớp vật lý được định nghĩa trong một số tổ chức
tiêu chuẩn, 155 Mbit/s và 622 Mbit/s của ITU, và hiện tại thì Diễn đàn ATM đã
hoàn thành chỉ tiêu cho tốc độ 622 Mbit/s và 2488 Mbit/s.
2.2.3.3 IP/PDH/SDH cho truyền dẫn WDM
Truyền tải IP qua môi trường PDH có thể thực hiện dựa trên giao thức PPP
và khung HDLC ở lớp 2. Hiện nay, ITU cũng đã chuẩn hoá giải pháp đóng gói IP
trong khung PDH qua giao thức LAPS (X.85/Y.1321).
Lớp vật lý bao gồm các bước sóng WDM và sợi quang. Để tăng cải thiện
chức năng mạng (bảo vệ và khôi phục mạng) cho PDH thì các khung của nó sau
đó sẽ được đóng trong các khung SDH trước khi truyền trên bước sóng quang.
Ngày nay, do sự bùng nổ lưu lượng số liệu nên giới hạn tốc độ và phương
pháp ghép kênh của PDH đã làm cho nó không thể tồn tại trong mạng truyền tải
mới. Và sử dụng PDH sẽ làm giảm hiệu quả khai thác của mạng truyền tải quang.
Giải pháp kết nối này chỉ còn hiện diện trong những mạng số liệu mà dung lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status