KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN
KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN LÀ GÌ ?
Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ART) bao gồm các kỹ thuật giúp tăng khả năng sinh sản
của người. Theo định nghĩa, ART là những kỹ thuật trong đó có thực hiện đem tế
bào trứng người ra khỏi cơ thể. Đây là những kỹ thuật được phát triển cơ bản dựa
trên kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) trên người.
Nguyên tắc cơ bản của TTTON là tinh trùng và trứng được đem ra khỏi cơ thể
người, sau đó được xử lý và nuôi cấy trong điều kiện phòng thí nghiệm. Quá trình
tạo phôi và nuôi cấy phôi trong những ngày đầu cũng diễn ra bên ngòai cơ thể. Sau
đó, phôi hình thành sẽ được chọn lựa để cấy trở lại vào buồng tử cung của người
vợ. Sự phát triển và làm tổ của phôi, sự phát triển của thai sau đó diễn ra tương tự
như những trường hợp có thai tự nhiên.
Vào năm 1978, em bé đầu tiên từ TTTON, Louis Brown, ra đời tại Anh đánh dấu
bước đầu cho sự phát triển của TTTON trên người. Đến nay, TTTON và các kỹ
thuật hỗ trợ sinh sản nói chung, đã được thực hiện thành công ở hầu hết các nước
trên thế giới.
THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM CỔ ĐIỂN VÀ CHUYỂN PHÔI (IVF/ET)
Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) có nghĩa là cho trứng và tinh trùng
kết hợp với nhau trong phòng thí nghiệm (thay vì trong vòi trứng người phụ nữ).
Sau đó phôi hình thành sẽ được chuyển trở lại vào buồng tử cung. Quá trình phát
triển của phôi và thai sẽ diễn ra hoàn toàn bình thường trong tử cung người mẹ.
Kỹ thuật này được thực hiện thành công trên thế giới lần đầu tiên năm 1978 và
thành công lần đầu tiên ở Việt nam năm 1998.
Phác đồ thực hiện TTTON và chuyển phôi hiện nay
- Trong phác đồ kích thích buồng trứng tiêu chuẩn, bệnh nhân được tiêm thuốc
kiểm soát nội tiết khoảng 2 tuần. Sau đó, tiêm thuốc FSH để kích buồng trứng
(khoảng 2 tuần). Với phác đồ kích thích buồng trứng mới hiện nay, thời gian kích
thích buồng trứng giảm từ khỏang 4 tuần xuống còn dưới 2 tuần. Các phác đồ mới
này giúp đem lại sự tiện lợi và giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân.
- Chọc hút trứng được thực hiện dưới hướng dẫn của siêu âm đầu dò âm đạo. Một
xem là một cuộc cách mạnh trong điều trị vô sinh do nguyên nhân ở nam giới. Kỹ
thuật này được thực hiện thành công đầu tiên trên thế giới vào năm 1993 và thành
công đầu tiên ở Việt nam năm 1999.
Ở các trung tâm hỗ trợ sinh sản lớn, kỹ thuật ICSI hiện đang thay thế dần kỹ thuật
TTTON cổ điển. Ở một số trung tâm, 100% các chu kỳ HTSS đều thực hiện ICSI.
Kỹ thuật này thường cho tỉ lệ thụ tinh cao hơn, làm số phôi có được nhiều hơn,
nhiều khả năng chọn lọc được phôi tốt để chuyển vào buồng tử cung, dẫn đến tỉ lệ
có thành công cao hơn và tránh được một số trường hợp không có phôi để chuyển
do thất bại thụ tinh. Mặc dù có một số quan ngại, cho đến nay, ICSI được xem là
một kỹ thuật điều trị an toàn và đang được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới.
Kỹ thuật ICSI hiện nay có thể thực hiện với tinh trùng tươi hoặc sau trữ lạnh; tinh
trùng trong tinh dịch hoặc tinh trùng sinh thiết từ mào tinh và tinh hoàn. Nhờ đó,
một số trường hợp các cặp vợ chồng vô sinh do chồng không có tinh trùng, vẫn có
có con bằng cách mổ để tìm tinh trùng trong tinh hoàn hoặc mào tinh hoàn
XIN TRỨNG
Xã hội ngày càng phát triển, người phụ nữ càng lập gia đình muộn và tuổi bắt đầu
mong con cũng muộn hơn. Sau 30 tuổi, buồng trứng của người phụ nữ bắt đầu suy
giảm chức năng và khả năng có thai cũng giảm dần. Sau 35 tuổi khả năng có thai
giảm càng nhanh hơn và đến 40 tuổi, hơn 1/3 phụ nữ đã không còn khả năng có
thai tự nhiên, chủ yếu do sự suy giảm chức năng buồng trứng. Ngoài ra, một số
bệnh lý hoặc các phẫu thuật trên buồng trứng khiến buồng trứng suy giảm hoặc
mất hẳn chức năng sớm hơn.
Với kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, các phụ nữ bất hạnh trên có thể mang thai, sinh nở và
làm mẹ bằng cách xin trứng của những người hiến tặng. Các phụ nữ hiến tặng
trứng sẽ được tiêm thuốc, theo dõi và chọc hút trứng như một trường hợp TTTON
bình thường. Sau đó, trứng được hiến tặng sẽ được cho thụ tinh với tinh trùng
chồng của người xin trứng. Phôi sau đó sẽ được cấy vào tử cung của người xin
trứng. Người phụ nữ này có thể tiếp tục mang thai và sinh đẻ bình thường.
Kỹ thuật này được thực hiện thành công trên thế giới năm 1986 và thành công đầu
tiên ở Việt nam năm 2000. Cho đến nay, ở Việt nam đã có hàng nghìn trẻ được ra
cũng đã được báo cáo tại các hội nghị khoa học khu vực và thế giới. Tuy nhiên,
người ta cũng ghi nhận một số bất thường hoặc bệnh lý có liên quan đến nguyên
nhân gây hiếm muộn, vô sinh ở bố mẹ có thể truyền sang cho con.