Nghiên cứu sự hài lòng của doanh nghiệp nộp thuế đối với chất lượng dịch vụ hành chính thuế tại chi cục thuế quận 3, hồ chí minh - Pdf 19

-Trang 1-

LI MỞ ĐẦU
1. L do chn đề tài
Ngày nay, nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà Nước vẫn là xác định quá trình xây
dựng và hoàn thiện hiệu lực của bộ máy Nhà nước là cải cách hành chính để đáp ứng
yêu cầu đổi mới, hội nhập quốc tế. Trong nền hành chính phục vụ, sự hài lòng của khách
hàng đối với các dịch vụ hành chính công vừa là cái đích cần hướng đến cũng đồng thời
là thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của mỗi cơ quan. Có thể nói, đề cao sự thõa
mãn của khách hàng đã trở thành mệnh lệnh phát triển chung của mỗi cơ quan hành
chính nhà nước.
Trong đó, thuế được coi là một trong những công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền
kinh tế. Thuế không những là nguồn thu quan trọng chủ yếu của ngân sách nhà nước mà
còn ảnh hưởng to lớn đến công cuộc phát triển kinh tế. Mỗi quyết định về thuế đều liên
quan đến tích luỹ, đầu tư, tiêu dùng, đến vấn đề phân bổ nguồn lực trong xã hội. Việc
quản lý thuế trong thời kì đổi mới, hội nhập không chỉ là đảm bảo nhu cầ chi tiêu của
bộ máy nhà nước và đầu tư phát triển kinh tế xã hội mà còn là dịch vụ hành chính công
phục vụ cho các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh.
Chi cục Thuế Quận 3 – TP Hồ Chí Minh cung cấp các dịch vụ hành chính thuế cho
khách hàng bao gồm: đăng ký thuế, gia hạn nộp hồ sơ kê khai thuế, gia hạn nộp thuế,
miễn, giảm thuế, hoàn thuế, hỗ trợ khách hàng,… Mục tiêu của ngành là phục vụ khách
hàng một cách tốt nhất, đảm bảo sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thuế.
Tuy nhiên, đến nay chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về chỉ số hài lòng của người nộp
thuế đối với dịch vụ thuế ở Chi cục Thuế Quận 3. Do đó chưa đánh giá được mong muốn
của người nộp thuế, những nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng và mức độ hài lòng của
người nộp thuế.
Với những lý do trên, tôi xin chọn đề tài: “Nghiên cứu sự hài lòng của doanh nghiệp
nộp thuế đối với chất lượng dịch vụ hành chính thuế tại chi cục thuế Quận 3 – Hồ Chí
Minh” làm khóa luận tốt nghiệp.

-Trang 2-

5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của Luận văn gồm
5 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ.
Chương 2: Thực trạng cung ứng dịch vụ thuế tại chi cục thuế Quận 3.
Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu.
Chương 4: Phân tích kết quả.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị.

-Trang 4-

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ
CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CÔNG
1.1. Tổng quan về chất lượng dịch vụ công
1.1.1. Dịch vụ hành chính công
1.1.1.1. Khái niệm dịch vụ hành chính công
Theo Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ, dịch vụ
hành chính công: là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không
nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân
dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước
đó quản lý. Mỗi dịch vụ hành chính công gắn liền với một thủ tục hành chính để giải
quyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân.
Đây là loại hình dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu
cầu của người dân. Do vậy, cho đến nay, đối tượng cung ứng duy nhất các dịch vụ công
này là cơ quan công quyền hay các cơ quan nhà nước thành lập được ủy quyền thực hiện
cung ứng dịch vụ hành chính công. Đây là một phần trong chức năng quản lý nhà nước.
Để thực hiện chức năng này nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp
như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch… (ở một số
nước, dịch vụ hành chính công được coi là một loại hoạt động riêng, không nằm trong
phạm vi dịch vụ công. Ở nước ta, một số nhà nghiên cứu cũng có quan điểm như vậy).

kinh doanh được cấp cho chủ thể kinh doanh khi chủ thể này thành lập doanh
nghiệp hoặc cơ sở kinh doanh của mình. Giấy phép hành nghề là một loại giấy tờ
chứng minh chủ thể này có đủ khả năng về điều kiện hoạt động theo quy định của
pháp luật đối với một nghề nhất định nào đó.
 Hoạt động thu các khoản đóng góp vào ngân sách và các quỹ của nhà nước. Các
hoạt động này gắn với nghĩa vụ mà Nhà nước yêu cầu các chủ thể trong xã hội
phải thực hiện.
 Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và xử lý các vi phạm hành
chính. Hoạt động này nhằm bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong mối quan
hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với công dân.
1.1.1.3. Chủ trương xã hội hóa trong cung ứng dịch vụ hành chính công
“Cung ứng dịch vụ công”: từ cung ứng hiểu đầy đủ có nghĩa là cả sản xuất và phân phối
dịch vụ công (hoặc cung ứng và hưởng thụ dịch vụ công).
Tại Đại hội Đảng tòan quốc lần thứ VIII (1996), Đảng ta khẳng định: “Thực hiện phương
châm xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, y tế, dân số, kế
-Trang 6-

hoạch hóa gia đình, giáo dục và các mặt xã hội khác, hướng vào nâng cao chất lượng
cuộc sống vật chất, tinh thần và thể lực của nhân dân.
Chủ trương này tiếp tục được khẳng định tại Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng, tại
một số Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng, tại Chương trình tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ và được cụ thể hóa tại nhiều văn
bản pháp luật của Nhà nước. Đáng chú ý là:
 Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ
trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa tạo cơ sở pháp lý cơ bản
cho họat động xã hội hóa trong lĩnh vực này.
 Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách khuyến
khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa và
thể thao theo quy định cụ thể về chính sách khuyến khích xã hội hóa….
 Nghị định 73 dành cả Chương III để quy định về quản lý tài chính của các cơ sở

kịp thời theo yêu cầu không?; khoảng thời gian giải quyết công việc trong bao lâu?;
những văn bản, giấy tờ hành chính giải quyết công việc cho người dân có chính
xác hay không?
 Tiêu chí đánh giá kết quả của đầu ra. Kết quả đầu ra thể hiện ở hai tiêu chí: Thứ
nhất, có đạt được mục tiêu của quản lý hay không?. Thứ hai, kết quả dịch vụ có
tác dụng gì đối với người dân trong tương lai.
1.2. Sự hài lòng của khách hàng và mối quan hệ với chất lượng dịch vụ công
1.2.1. Khái niệm sự hài lòng khách hàng
Sự hài lòng khách hàng là tâm trạng/ cảm giác của khách hàng về một công ty khi sự
mong đợi của họ được thỏa mãn hay được đáp ứng vượt mức trong suốt vòng đời của
sản phẩm hay dịch vụ. Khách hàng đạt được sự thỏa mãn sẽ có được lòng trung thành
và tiếp tục mua sản phẩm của công ty (Trích Đo lường mức độ hài lòng của khách hàng
về dịch vụ giao nhận hàng không tại công ty cổ phần giao nhận vận tải và thương mại
VinaLink, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường ĐH Kinh tế TP.HCM – Nguyễn Thái Tuyết
Hân (2008))
Lý thuyết thông dụng đã xem xét sự hài lòng của khách hàng là lý thuyết “Kỳ vọng –
Xác nhận”. Lý thuyết được phát triển bởi Oliver (1980) và được dùng để nghiên cứu sự
hài lòng của khách hàng đối với chất lượng của các dịch vụ hay sản phẩm của một cơ
quan. Lý thuyết đó bao gồm hai quá trình nhỏ có tác động độc lập đến sự hài lòng của
khách hàng: kỳ vọng về dịch vụ trước khi mua và cảm nhận về dịch vụ sau khi đã trải
nghiệm.
-Trang 8-

1.2.2. Ý nghĩa của sự hài lòng khách hàng
Về mặt vĩ mô, hài lòng khách hàng là cơ sở quan trọng phản ánh tình trạng kinh tế quốc
gia, giúp Chính phủ xây dựng hệ thống luật kinh tế và điều chỉnh các hoạt động kinh tế,
xây dựng các chiến lược marketing địa phương và truyền thông đối với quốc gia.
Về mặt vi mô, hài lòng khách hàng nhận diện nhân tố tác động đến sự thõa mãn của
khách hàng cùng với những thông tin tương tự về đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp.
Về quyền lợi khách hàng, hài lòng khách hàng tư vấn và hỗ trợ khách hàng lựa chọn sản

trong công tác cải cách hành chính. Hơn nữa, với chủ trương “Đẩy mạnh cải cách hành
chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước” theo tinh thần của
Nghị quyết số 53/2007/NQ-CP ngày 07 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ, việc đánh
giá mức độ hài lòng của công dân và tổ chức về dịch vụ hành chính công cần phải được
tiến hành một cách nghiêm túc và khoa học.
Cần xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của dịch vụ hành chính công. Vì nó
là cơ sở để tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ. Những yếu tố đó, gồm:
 Khả năng tiếp cận dịch vụ: những yếu tố như vị trí của cơ quan cung ứng dịch vụ,
thời gian mở cửa có phù hợp với thời gian của làm việc của công dân và tổ chức,
sự chờ đợi trả kết quả, hoặc thời gian sử dụng dịch vụ, chi phí dịch vụ có phù hợp
với nguồn lực tài chính của công dân và tổ chức hay không.
 Một hệ thống hành chính dễ hiểu: Tuy ngôn ngữ hành chính phải phù hợp với các
yêu cầu pháp lý của nó nhưng cũng cần phải dễ hiểu. Các văn bản hướng dẫn phải
sử dụng ngôn ngữ phù hợp với trình độ của công dân. Thủ tục và qui trình phải
đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu. Sự đa dạng của các công việc hành chính có thể làm
cho nó khó hiểu nhưng nhằm đảm bảo hài lòng của khách hàng phải đơn giản hóa
các quy trình hoặc tái tổ chức các quy trình.
 Khả năng cung cấp linh hoạt và nhanh chóng: công dân và tổ chức yêu cầu tổ chức
cung ứng đáp ứng nhu cầu thực sự và cụ thể của họ. Điều quan trọng cần nhấn
-Trang 10-

mạnh rằng dịch vụ căn cứ vào kết quả thương lượng giữa các bên liên quan. Ý kiến
của công dân và tổ chức phải được xem xét và tôn trọng. Thủ tục hành chính phải
linh hoạt đủ để thích ứng nhanh chóng và với chi phí tối thiểu khi công dân và tổ
chức yêu cầu thay đổi.
 Công khai minh bạch: Chắc chắn, công dân và tổ chức phải biết người phụ trách
hồ sơ, tập tin của họ Nói cách khác, công dân và tổ chức có thể liên hệ để nhận
được hỗ trợ hoặc khiếu nại (López và Gadea 1995). Khả năng nhận được thông tin
hành chính của công dân và tổ chức có ảnh hưởng rất lớn đến tính công bằng và
bình đẳng trong cung ứng dịch vụ (Epstein 1991).

nếu chất lượng và giá trị cảm nhận cao hơn sự mong đợi sẽ tạo nên lòng trung thành đối
với khách hàng, trường hợp ngược lại, đấy là sự phàn nàn hay sự than phiền về sản phẩm
mà họ tiêu dùng.

Hình 1.2: Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mĩ (ACSI)
Tuy nhiên đối với dịch vụ hành chính công, dù cho giá trị cảm nhận có cao hơn hay
thấp hơn sự mong đợi thì doanh nghiệp vẫn phải thực hiện, sử dụng các dịch vụ công
vì hầu hết các dịch vụ công đều mang tính bắt buộc.
1.3.2. Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Châu Âu (ECSI)
Mô hình chỉ số hài lòng châu Âu (ECSI) có một số khác biệt nhất định. So với ACSI,
hình ảnh của sản phẩm, thương hiệu có tác động trực tiếp đến sự mong đợi của khách
hàng. Khi đó, sự hài lòng của khách hàng là sự tác động tổng hòa của 4 nhân tố hình
ảnh, giá trị cảm nhận, chất lượng cảm nhận về cả sản phẩm hữu hình và vô hình. Thông
-Trang 12-

thường, chỉ số ACSI thường áp dụng cho lĩnh vực công còn chỉ số ECSI thường ứng
dụng đo lường các sản phẩm, các ngành.

Hình 1.3: Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Châu Âu (ECSI)
Rõ ràng, điểm mạnh của cách tiếp cận này là nó làm dịch chuyển ngay tức khắc kinh
nghiệm tiêu dùng, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu mối quan hệ nhân quả đối giữa các
yếu tố cấu thành sự hài lòng và sự trung thành của khách hàng. Do vậy, mục tiêu đầu
tiên của việc tiếp cận theo cấu trúc CSI là việc giải thích chỉ số hài lòng khách hàng khi
chịu sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp bởi hình ảnh, sự mong đợi, chất lượng cảm
nhận (về sản phẩm hoặc dịch vụ) và giá trị cảm nhận đối với sản phẩm và dịch vụ đó.
Trong trường hợp dịch vụ công thì ECSI chỉ phân tích sự tác động của hình ảnh, sự
mong đợi, chất lượng cảm nhận về sản phẩm dịch vụ và từ đó đưa ra sự hài lòng của
khách hàng chứ không chuyển đến nghiên cứu mối quan hệ giữa sự hài lòng và lòng
trung thành như các dịch vụ, sản phẩm thông thường khác.
1.3.3. Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Việt Nam (VCSI)

Hình 1.4: Mô hình lý thuyết chỉ số quốc gia về hài lòng khách hàng của Việt Nam
(VCSI)
1.3.4. Mô hình chất lượng SERVQUAL
Dựa vào mô hình chất lượng dịch vụ Parasuraman & ctg (1985) được sử dụng rất phổ
biến và được kiểm định nhiều trong các lĩnh vực khác nhau ở Châu Á, Châu Âu, Châu
-Trang 14-

Mỹ và ngay cả Việt Nam. Thang đo SERVQUAL gồm 5 thành phần với 20 biến quan
sát, cụ thể bao gồm:
 Phương tiện hữu hình (Tangibles): sự thể hiện bên ngoài của cơ sở vật chất, thiết
bị, nhân viên và vật liệu, công cụ thông tin.
 Tin cậy (Reliability): khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và chính xác với những
gì đã cam kết, hứa hẹn.
 Đáp ứng (Responsiveness): mức độ mong muốn và sắn sàng phục vụ khách hàng
một cách kịp thời.
 Năng lực phục vụ (Assurance): kiến thức, chuyên môn và phong cách lịch lãm của
nhân viên phục vụ; khả năng làm cho khách hàng tin tưởng.
 Cảm thông (Empathy): thể hiện sự ân cần, quan tâm đến từng cá nhân khách hàng.
1.3.5. Mô hình đề xuất đánh giá mức độ hài lòng của công dân và tổ chức đối với dịch
vụ hành chính công
Hiện nay, các nhà nghiên cứu quan tâm rất nhiều trong việc đo lường chất lượng dịch
vụ. Tuy nhiên, họ gặp không ít khó khăn trong việc định nghĩa và đo lường chất lượng
dịch vụ. Tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu, chất lượng dịch
vụ được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau. Chất lượng dịch vụ là mức độ mà một
dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng (Lewis & Mitchell, 1990;
Asubonteng & ctg, 1996; Wisniewski & Donnelly, 1996). Theo Parasuraman & ctg
(1985, 1988), mức độ hài lòng về chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi
của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng dịch vụ.
Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng xây dựng mô hình đo lường chất lượng dịch vụ, trong
đó phổ biến là mô hình SERVQUAL. Tuy nhiên, ở Việt Nam xuất phát từ những yếu tố

 Về thủ tục, quy trình làm việc: Qui trình giải quyết hồ sơ hiện hành như thế nào;
trong khi giải quyết, các qui trình có được giải quyết sai so với qui định không; thủ
-Trang 16-

tục hồ sơ hiện hành như thế nào; thủ tục hồ sơ hiện hành có cần bổ sung thêm giấy
tờ gì không.
 Về phí, lệ phí: Các loại phí và lệ phí có phù hợp với nguồn tài chính của công dân
hay không, các loại phí và lệ phí có công khai đầy đủ tại nơi làm việc không; công
dân có phải đóng phí và lệ phí ngoài qui định không.
 Về cơ chế giám sát và góp ý: Số điện thoại đường dây nóng, hòm thư góp ý có
công khai nơi làm việc không; cơ quan và cán bộ có tiếp thu các phản ánh, kiến
nghị, góp ý không; cơ quan và cán bộ công chức phản hồi các kiến nghị, góp ý.
Kết lun chương 1:
Chương 1 đã trình bày cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ công bao gồm tổng quan về
chất lượng dịch vụ công, sự hài lòng của khách hàng và mối quan hệ với chất lượng dịch
vụ công, các mô hình về chỉ số hài lòng của khách hàng. Dựa vào các mô hình nghiên
cứu trước đây ta có thể xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của chất
lượng dịch vụ hành chính công bao gồm: cán bộ, công chức; cơ sở vật chất; công khai
công vụ; thời gian làm việc, thủ tục, quy trình làm việc; phí, lệ phí; cơ chế giám sát, góp
ý,…
-Trang 17-

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ THUẾ TẠI
CHI CỤC THUẾ QUẬN 3
2.1 Đc đim kinh tế x hội Qun 3
Quận 3 là một quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh. Quận 3 là quận trung tâm
của Thành phố Hồ Chí Minh, cũng thuộc khu vực Sài Gòn, Bến Nghé trước đây. Phía
Bắc giáp quận Phú Nhuận, phía Đông Bắc giáp quận 1, ranh giới là đường Hai Bà Trưng.
Đông Nam giáp quận 1, ranh giới là đường Nguyễn Thị Minh Khai. Tây Nam giáp quận
10 qua đường Cách Mạng Tháng 8. Nam giáp đại lộ Lý Thái Tổ ngăn cách với quận 10.

động trong Thành phố. Hoạt động văn hóa văn nghệ Quận 3 với các chủ đề đậm đà bản
sắc dân tộc, chủ đề về nguồn, phát huy phong trào văn nghệ quần chúng qua các hội
diễn đã có nhiều tiếng vang ở thành phố, được sự hưởng ứng rộng rãi trên nhiều miền
đất nước tạo nên sự giao tiếp, giao lưu giữa các đơn vị trong và ngoài quận.
Nhn xt: Quận 3 có diện tích tương đối rộng, là kênh giao lưu, cầu nối quan trọng ở
thành phố Hồ Chí Minh, có cơ sở hạ tầng phát triền, văn hóa đời sống đa dạng, từ đó
góp phần ảnh hưởng đến việc xây dựng và phát triển kinh tế, thành lập các cơ sở sản
xuất kinh doanh. Vì vậy, số lượng DN mà CCT Quận 3 quản lý là tương đối lớn và đa
dạng trong cơ cấu.

-Trang 19-

2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy qun l thuế  Chi cục thuế Qun 3

Hình 2.1: Sơ đ bộ máy t chức của Chi cục thuế Qun 3
CHI CỤC
TRƯỞNG
CHI CỤC PHÓ 1
ĐỘI KIỂM TRA 1
Quản lý DN, quyết toán thuế
TNDN
ĐỘI KIỂM TRA 2
Quản lý DN, quyết toán thuế
TNDN
ĐỘI QUẢN LÝ NỢ
& CƯỠNG CHẾ
NỢ
Quản lý, đôn đốc thu nợ DN
CHI CỤC PHÓ 2
ĐỘI KIỂM TRA 4

TNDN Tổng hợp báo cáo,
quyết toán thuế T NCN
ĐỘI THUẾ LIÊN
PHƯNG SỐ 1
Quản lý hộ kinh doanh cá thể
ĐỘI THUẾ LIÊN
PHƯNG SỐ 2
Quản lý hộ kinh doanh cá thể
ĐỘI ẤN CH
-Trang 20-

Số cán bộ công nhân viên chức trong CCT Quận 3 (tính đến 31/12/2013) là 163 cán bộ.
Trong đó:
Số công chức, viên chức thuế trong biên chế: 154
Số lao động hợp đồng theo Nghị định 68: 9
Nhìn chung tình hình nhân sự tại CCT Quận 3 tương đối tốt. Với số cán bộ công chức
có trình độ Đại học cao (khoảng 65%). Chứng tỏ tình hình nhân sự đang thay đổi theo
chiều hướng tích cực. Bên cạnh đó trình độ nghiệp vụ và đạo đức của cán bộ cũng không
ngừng được bồi dưỡng và nâng cao, luôn có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác.
Do đó trong những năm qua, Chi cục luôn hoành thành nhiệm vụ của đơn vị cấp trên và
đạt danh hiệu đơn vị trong sạch vững mạnh.
2.3 Thực trạng cung ứng dịch vụ thuế tại Chi cục thuế Qun 3
2.3.1 Cơ cấu mẫu theo loại hình doanh nghiệp
Hình 2.2: Cơ cấu loi hình doanh nghiệp thuộc qun lý của CCT Qun 3 năm
2012

(Ngun:Văn phng CCT Quận 3 – Tp H Chí Minh.)
Vào năm 2012, số lượng doanh nghiệp mà CCT Quận 3 quản lý tại lên đến gần 5500
DN, và có sự đa dạng trong cơ cấu loại hình doanh nghiệp. Trong đó loại hình Công ty
TNHH và công ty cổ phần chiếm tỷ trong cao (số lượng công ty TNHH và công ty CP

(Ngun:Văn phng CCT Quận 3 – Tp H Chí Minh.)
Từ khi thực hiện cơ chế DN tự tính, tự khai, tự nộp thuế, ngành thuế đã có nhiều cải tiến
trong hoạt động đăng ký, kê khai, nộp thuế, tạo điều kiện tốt nhất cho người nộp thuế
thực hiện nghĩa vụ khai, nộp thuế; cập nhật thường xuyên kịp thời dữ liệu hồ sơ khai
thuế, hình thành nguồn dữ liệu thông tin cơ bản về người nộp thuế phục vụ công tác
quản lý thuế.
2.3.2.2 Công tác thanh tra, kiểm tra
Các doanh nghiệp bị xử lý vi phạm pháp luật thuế qua công tác thanh tra, kiểm tra có
giảm qua các năm nhưng không đáng kể, đặc biệt có sự gia tăng về số thuế thu hồi và
xử lý qua thanh tra, kiểm tra. Điều này cho thấy, có một bộ phận không nhỏ các doanh
nghiệp chưa chấp hành tốt pháp luật thuế, làm phát sinh nhiều khoản chi phí lẽ ra không
đáng có như: bị phạt chậm nộp thuế, bị phạt do sử dụng hoá đơn, chứng từ bất hợp pháp
để kê khai khấu trừ, hoàn thuế ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.
2.3.2.3 Công tác tuyên truyền, hỗ trợ
Trong giai đoạn từ 2008-2013, bên cạnh nhiệm vụ thu ngân sách, công tác tuyên truyền
hỗ trợ người nộp thuế cũng được CCT Quận 3 đẩy mạnh và nâng cao công tác tuyên
truyền hỗ trợ người nộp thuế qua nhiều hình thức, đáp ứng với những nhu cầu tiếp cận
thông tin hỗ trợ đa dạng của người nộp thuế như: trực tiếp hướng dẫn, hướng dẫn trả lời
qua điện thoại, hướng dẫn trả lời bằng văn bản,… đã đem lại rất nhiều tiện ích và thuận
lợi cho người nộp thuế. Nhờ vậy, đã tạo được sự đồng thuận của các doanh nghiệp trong
việc thực hiện các chính sách thuế mới và giải pháp quản lý thu của Ngành để có thể
hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.
-Trang 22-

Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế ngày càng được nâng cao chất lượng giúp
NNT thực hiện đúng các qui định của pháp luật về thuế, trong đó đảm bảo về quyền và
nghĩa vụ của NNT trong thực thi pháp luật về thuế; các khó khăn vướng mắc được cơ
quan thuế tiếp nhận và giải quyết kịp thời qua bộ phận một cửa tạo sự hài lòng cho người
nộp thuế khi họ được tiếp cận ngay các thay đổi về chính sách thuế.
2.3.2.4 Công tác quản lý và cưỡng chế nợ

Kết lun chương 2:
Chương 2 đã khái quát cơ bản nhất về thực trạng cung ứng dịch vụ tại CCT Quận 3.
Trên cơ sở xác định chức năng và nhiệm vụ của cơ quan hành chính thuế tại CCT Quận
3, việc cung ứng dịch vụ công theo cơ chế 1 cửa, một cửa liên thông, ứng dụng công
nghệ thông tin trong công tác quản lý thời gian qua đã cho thấy sự phù hợp và thuận tiện
cho việc xây dựng hệ thống các dịch vụ thuế. Tuy nhiên, việc cung ứng dịch vụ hành
chính thuế vẫn còn nhiều mặt tồn tại từ con người trong thực thi công việc, những qui
định pháp luật đến những phát sinh theo nhu cầu xã hội cần có qui định của pháp luật
để điều chỉnh.
Trước những ý kiến khác nhau trong việc đánh giá về chất lượng dịch vụ, bài nghiên
cứu này thực hiện nhằm đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp nộp thuế đối với
dịch vụ thuế tại CCT Quận 3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là doanh nghiệp thường
xuyên sử dụng hầu hết các dịch vụ thuế và có hiểu biết về pháp luật thuế. Kết quả nghiên
cứu sẽ giúp cho việc cung ứng dịch vụ thuế tại CCT Quận 3 trở nên tốt hơn. -Trang 24-

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
3.1.1 Quy trình nghiên cứu

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu sự hài lòng của người nộp thuế
3.1.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu dựa trên lý thuyết
Từ mô hình chỉ số quốc gia về hài lòng khách hàng của Mĩ (ACSI), mô hình chỉ số quốc
gia về hài lòng khách hàng của các quốc gia EU (ECSI), mô hình lý thuyết chỉ số quốc
gia về hài lòng khách hàng của Việt Nam (VCSI). Bên cạnh đó, căn cứ vào đặc điểm
của dịch vụ hành chính công, mô hình đánh giá mức độ hài lòng đối với dịch vụ hành
chính công của thành phố Đà Nẵng và mô hình đánh giá sự hài lòng khách hàng đối với
dịch vụ hành chính công cấp quận (Tiến sĩ Lê Dân – Đại Học Đà Nẵng). Ngoài ra, cũng

hợp lý hơn. Mô hình nghiên cứu được điều chỉnh thành mô hình bao gồm các biến sau:
Độ tin cậy, điều kiện vật chất, sự đáp ứng, năng lực phục vụ, thái độ ứng xử.

Trích đoạn Phân tích hồi quy tuyến tính Kết luận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status