Lồng ruột cấp tính ở trẻ còn bú - Pdf 19

Lồng ruột cấp tính ở trẻ còn bú

I. Đại cương:
1. Lồng ruột là hiện tượng đoạn ruột phía trên chui vào lòng của đoạn ruột
phía dưới theo chiều nhu động hoặc ngược lại. Tuỳ theo diễn biến chia làm 3
loại: lồng ruột cấp tính ở trẻ còn bú (dưới 24 tháng tuổi), lồng ruột bán cấp ở
trẻ lớn và lồng ruột mạn tính ở người lớn.
2. Lồng ruột cấp tính ở trẻ còn bú là một cấp cứu ngoại khoa hay gặp nhất ở
lứa tuổi này, cần được phát hiện và xử trí sớm, tránh hoại tử ruột gây tử vong.
3. Những năm gần đây, nhờ được Chẩn đoán và điều trị sớm hơn, nhờ những
tiến bộ về gây mê hồi sức trẻ em, đặc biệt ở nước ta nhờ áp dụng rộng rãi
phương pháp tháo lồng bằng bơm hơi vào đại tràng, tỉ lệ tử vong của lồng
ruột cấp đã giảm đi rõ rệt. Tại khoa phẫu thuật trẻ em bệnh viện Việt đức, tỉ lệ
tử vong do lồng ruột cấp từ 25,4% (1957 – 1967) đã giảm xuống còn 1,71%
(1980 – 1984) và 5 năm gần đây (1999 – 2003) không có tử vong.
II. Nguyên nhân sinh bệnh: Lồng ruột cấp có nhiều nguyên nhân gây ra:
1. Nguyên nhân thực thể: Chỉ có 2 – 8% lồng ruột cấp tìm được nguyên nhân
khi mổ:
- Manh tràng và đại tràng lên di động, không dính hoặc chỉ dính lỏng lẻo
vào thành bụng sau.
- Một số trường hợp lồng ruột cấp có khởi điểm là túi thừa Meckel,
polyp, u, ruột đôi hay búi giun.
2. Nguyên nhân không rõ ràng: Phần lớn lồng ruột cấp có nguyên nhân
không rõ ràng. Có nhiều cách giải thích khác nhau giải thích cơ chế lồng ruột.
1) Thuyết virus: Các tác giả theo thuyết này cho rằng do một nhóm virus
gây viêm hạch mạc treo, đã gây kích thích và gây rối loạn các phản xạ thần
kinh thực vật, làm thay đổi nhu động ruột gây nên lồng ruột. Trên thực tế:
- Lồng ruột cấp thường vào mùa virus phát triển.
- Đa số các trường hợp lồng ruột cấp khi mổ ra thấy viêm hạch mạc treo
rõ.
- Đã tìm thấy bằng chứng cho thấy viêm hạch mạc treo liên quan đến

3. Thương tổn giải phẫu bệnh: Các thương tổn giải phẫu bệnh của lồng ruột
cấp do 2 yếu tố gây ra: cản trở lưu thông ruột do khối lồng làm tắc lòng ruột
vf cản trở tuần hoàn mạch máu nuôi dưỡng đoạn ruột lồng. Mức độ thương
tổn tuỳ thuộc vào thời gian điều trị bệnh sớm hay muộn và cổ khối lồng rộng
hay hẹp. Khi mổ có thể thấy:
- ổ bụng: có dịch trong hay đục.
- Ruột trên chỗ lồng: giãn chứa hơi, dịch ứ đọng.
- Mạc treo ruột: nhiều hạch viêm, phù dày hay lấm chấm xuất huyết.
- Khối lồng: Khi tháo ra đoạn ruột lồng có thể chỉ phù nề hơi tím, hồng
lại nhanh. Có trường hợp khối lồng chặt không tháo ra hết được, hoặc khi
tháo ra đoạn ruột đã thủng, hoại tử.
4. Phân loại:
1) Dựa vào vị trí lồng:
- Lồng ruột non: chỉ có ruột non lồng vào ruột non (lồng hồi – hồi tràng,
hỗng – hồi tràng). Hiếm gặp và khó Chẩn đoán.
- Lồng đại tràng: chỉ có đại tràng lồng vào đại tràng (lồng manh – đại
tràng, đại - đại tràng). Cũng ít gặp.
- Lồng ruột non vào đại tràng: hay gặp nhất, chiếm 90 – 95% (lồng hồi –
manh tràng, hồi đại tràng)
2) Trên thực tế hay gặp 3 loại:
- Lồng ruột hồi – manh tràng: Đầu khối lồng là van Bauhin, cổ khối lồng
là manh tràng rộng nên dễ tháo.
- Lồng ruột hồi đại tràng: đầu khối lồng là hồi tràng, cổ khối lồng là van
Bauhin là nơi hẹp nhất nên nhanh dẫn đến hoại tử ruột và rất khó tháo.
- Lồng ruột manh - đại tràng: đầu khối lồng là đáy manh tràng, cổ khối
lồng là đại tràng nên cũng rộng và dễ tháo.
IV. Lâm sàng:
1. Triệu chứng sớm:
1) Cơ năng: Thường ở trẻ bụ bẫm, đang ăn chơi bình thường, đột nhiên:
- Khóc thét từng cơn: là biểu hiện sớm và nổi bật nhất. Cơn khóc xuất

1. Xquang bụng không chuẩn bị: ít có giá trị chẩn đoán, có giá trị tiên lượng
(đánh giá bệnh nhân đén sớm hay muộn).
- Hình khối mờ hố chậu phải hay trên rốn tương ứng với vị trí khối lồng.
- Hình không có hơi ở hố chậu phải: do manh tràng di chuyển lên trên.
- Mức nước hơi ở ruột non do tắc ruột.
- Liềm hơi: do ruột bị hoại tử và thủng. Chống chỉ định bơm hơi hay thụt
baryt vào đại tràng.
2. Xquang có bơm hơi hoặc thụt baryt đai tràng:
- Nhằm 2 mục đích là Chẩn đoán vừa điều trị (tháo lồng).
- Xquang bơm baryt: cho thấy rõ tổn thương đặc hiệu của lồng ruột.
Nhưng ngưòi chụp và được chụp bị ăn tia, hơn nữa nếu baryt vào ổ bụng do
thủng ruột thì rất nguy hiểm.
- Bơm hơi: Tiến hành dễ hơn, ít bị ăn tia hơn, ít nguy hiểm hơn nếu hơi
vào ổ bụng cho dù tồn thưoing nhìn không rõ bằng). Thường được chỉ định
khi vừa chẩn đoán vừa tháo lồng.
- Các hình ảnh thường gặp:
+ Hình đáy chén.
+ Hình càng cua.
+ Hình vòng bia.
- Chống chỉ định: khi đã có dấu hiệu viêm phúc mạc.
3. Siêu âm:
- Không độc và có thể thay cho Xquang. Tuy nhiên có khó khăn là trẻ
quấy khóc, giãy giụa và phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của người làm
siêu âm.
- Hình ảnh khối lồng:
+ Cắt ngang: Hình vòng bia là một vòng tròn đường kính > 3cm, vùng
trung tâm đậm âm, vòng ngoài giảm âm.
- Cắt dọc: Hình bánh Sandwich là một khối đậm âm ở giữa, được viền
quanh bởi một vành ít âm.
- Vị trí khối lồng: đặc hiệu khối lồng nằm ngoài khung đại tràng (lồng

bệnh nhân có thể tử vong.
VIII. Điều trị: Khi đã chẩn đoán xác định lồng ruột cấp thì điều trị càng sớm
càng tốt (lồng ruột cấp không thể tự tháo được. Lồng ruột mạn có thể tự
tháo được). Có 2 phương pháp:
1. Tháo lồng hoặc bơm hơi hoặc thụt baryt vào đại tràng: đơn giản, dễ thực
hiện, cho kết quả tốt và ít tốn kém.
a. Chỉ định:
- Đến sớm trước 48h.
- Chưa có viêm phúc mạc.
b. Kỹ thuật:
- Tiền mê bằng atropin + aminazin hoặc gây mê tĩnh mạch.
- Bơm hơi với áp lực P < 10cmHg (hoặc thụt baryt) vào đại tràng.
- Theo dõi trên lâm sàng, dưới màn huỳnh quang hay siêu âm.
c. Tiêu chuẩn tháo lồng:
- Dựa vào lâm sàng:
+ áp lực bơm hơi đột ngột tụt xuống (do hơi sang ruột non).
+ Bụng chướng đều.
+ Không còn sờ thấy khối lồng.
- Chưa chắc chắn: chụp Xquang bụng thấy hình ảnh hơi sang ruột non lỗ
chỗ như tổ ong ở giữa bụng, hoặc siêu âm bụng kiểm tra thấy mất hình ảnh
khối lồng nếu lồng ruột đã được tháo.
- Theo dõi dưới màn huỳnh quang tăng sáng hay siêu âm:
+ Manh tràng ngấm đầy hơi hay baryt.
+ Mất hình ảnh khối lồng.
+ Hơi hoặc baryt đột ngột tràn sang ruột non.
d. Theo dõi sau tháo lồng:
- Bình thường: sau tháo lồng trẻ ngủ yên, tỉnh dậy chơi ngoan, bú tốt,
không nôn, sau 6 – 8h ỉa phân màu vàng.
- Phát hiện các biến chứng:
+ Sốt cao sau tháo lồng: chỉ cần điều trị thuốc hạ sốt, chườm lạnh.

+ Nối ngay 2 đầu ruột tận tận bằng chỉ liền kim 4.0 – 5.0.
+ đưa 2 đầu ruột ra ngoài kiểu Mikulicz.
c. Chăm sóc sau mổ:
- ống thông dạ dày, kháng sinh, bù nước điện giải.
- Phát hiện các biến chứng sau mổ: sốt cao co giật, viêm phổi, hoại tử
ruột, bục miệng nối, biến chứng của hậu môn nhân tạo…


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status