Đặt vấn đề
Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (TSLT/TTL) là bệnh lành tính của
tuyến tiền liệt, nó được coi là bệnh tiến triển chậm [42]. Bệnh có tỷ lệ mắc
tăng dần theo lứa tuổi. Hiện tượng tăng sản bắt đầu xuất hiện từ tuổi 30 - 40,
nhưng biểu hiện triệu chứng đường tiểu dưới mức độ nhẹ từ tuổi 50 [30],
[89], [111]. Tỷ lệ mắc TSLT/TTL có xu hướng ngày một gia tăng trên toàn
thế giới. Nó đang trở thành gánh nặng cho cá nhân và cho toàn xã hội [129].
Hiện nay số người mắc đứng sau bệnh lý mạch vành, tăng mỡ máu, tăng
huyết áp, và tiểu đường [63], [110]. Theo Ricardo, từ 1/2000 đến 5/2007 đã
có 1968 bài báo đề cập tới TSLT/TTT [115]. Tại Việt Nam, số người mắc
bệnh ngày một tăng, nguyên nhân do tuổi thọ của người dân ngày một cao; áp
dụng rộng rãi các phương tiện chẩn đoán đặc biệt là siêu âm; mạng lưới y tế
phát triển rộng rãi; dân trí cải thiện tốt hơn, người dân đi khám bệnh sớm khi
mới xuất hiện triệu chứng rối loạn tiểu tiện [21]. Theo GS Nguyễn Bửu Triều,
TSLT/TTL đã được biết đến từ thời Hipocrate, được mô tả chính xác nhờ
Morgani (1760), nhưng chưa bao giờ được quan tâm nh hiện nay trong các
hội nghị khoa học cũng nh trong đời sống xã hội của người dân [30].
Chi phí điều trị đối với bệnh lý này cũng là vấn đề đang được xã hội
quan tâm. Tại Brazin, năm 2003, ước tính chi phí điều trị bệnh lý này khoảng
2,26-3,83 tỷ đô la [79]. Tại Hoa Kỳ năm 2000, ước tính chi phí điều trị bệnh
lý này khoảng 1,1 tỷ đô la, chưa bao gồm các trường hợp điều trị ngoại trú
bằng thuốc, trung bình mỗi một người dân mất 7,3 giê / năm cho việc khám
và điều trị. Đánh giá kinh tế của bệnh lý này được phân tích dùa vào 3 lĩnh
vực: trực tiếp liên quan đến chi phí y tế với điều trị; chi phí do phải nghỉ việc,
công việc bị hạn chế; những chi phí không thể tính được đó là những khó chịu
do bệnh gây ra mà người bệnh phải gánh chịu [89].
1
Do nguyên nhân bệnh sinh của TSLT/TTL chưa được làm sáng tỏ,
nên có nhiều phương pháp điều trị, mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng.
Những năm 80 của thế kỷ XX, phẫu thuật nội soi qua niệu đạo đã trở thành
lựa chọn hàng đầu để điều trị bệnh lý này. Năm 1994 tại Mỹ có khoảng
và một đỉnh:
+) Mặt trước: Phẳng, dựng đứng, nằm ngay sau xương mu. Giữa mặt
trước TTL và mặt sau xương mu là đám rối tĩnh mạch Santorini.
+) Mặt sau: Nằm ở phía trước trực tràng, được ngăn cách với thành
trước của trực tràng bởi cân Denonvillier. Giữa hai thuỳ của TTL có một rãnh
3
phân cách, gọi là rãnh liên thùy. Rãnh này sẽ mất đi khi TTL tăng sản. Khi
thăm khám TTL qua trực tràng dễ ràng nhận thấy rãnh này.
+) Hai mặt bên: Lồi ra bên ngoài, liên quan tới bó mạch thần kinh sinh
dục tại gần đỉnh của TTL. Ở phía ngoài trên của hai mặt bên là lỗ bịt, trong đó có
dây thần kinh bịt chạy qua. Dây thần kinh này có thể bị kích thích trong quá
trình cắt nội soi, nhất là cắt u bàng quang và gây giật chi dưới của bệnh nhân.
+) Nền: Liên quan chặt chẽ với nền bàng quang, gồm phần trước là
phần niệu đạo bàng quang, và phần sau là phần sinh dục có túi tinh.
+) Đỉnh: Liên tiếp với niệu đạo màng, có cơ thắt vân bao quanh.
Niệu đạo TTL được chia thành 2 đoạn: Đoạn gần và đoạn xa tạo
thành một góc 135
o
. Mỗi đầu niệu đạo được bao quanh bởi một cơ thắt. Cơ
thắt trơn tại cổ bàng quang và cơ thắt vân tại đỉnh niệu đạo - ụ núi. Ô núi là
một phần tổ chức nhô lên trên bề mặt niệu đạo, là mốc quan trọng trong quá
trình phẫu thuật cắt TTL nội soi qua niệu đạo. Nếu cắt quá ụ núi sẽ phạm phải
cơ thắt vân niệu đạo, gây tiểu tiện không tự chủ [31].
1.1.2. Sự phân chia các vùng của tuyến tiền liệt.
Mc. Neal, chia TTL thành 5 vùng:
- Vùng đệm xơ-cơ phía trước. Chất đệm xơ-cơ chiếm tới gần 1/3 tổng
khối lượng của TTL nhưng lại không chứa các phần tử tuyến. Khi tăng sinh
nó góp phần quan trọng gây ra TSLT/TTL và những rối loạn tiểu tiện (đái
khó, đái đêm, tia tiểu yếu, tồn đọng nước tiểu trong bàng quang ).
- Vùng ngoại vi là tổ chức mô tiết. Chính vùng này chứa gần như toàn
a) Điểm triệu chứng tuyến tiền liệt
Điểm triệu chứng TTL (IPSS - International Prostate Symptom
Score), do Barry và cộng sự đề xuất và được Hiệp hội tiết niệu Quốc tế chuẩn
hóa vào năm 1991 [43]. Bảng thang điểm gồm 7 câu hỏi với tổng số điểm là
35 điểm (phụ lục 1). Mức độ của bệnh dựa vào thang điểm này được phân
loại nh sau: Nhẹ (0-7 điểm); Trung bình (8-19 điểm); Nặng (20-35 điểm).
Có thể dựa vào thang điểm IPSS đÓ lựa chọn phương pháp điểu trị.
Một số tác giả gợi ý rằng những bệnh nhân với điểm triệu chứng mức độ nhẹ,
lựa chọn tốt nhất là quản lý theo dõi và chờ đợi (watchful waiting). Bệnh nhân
với điểm triệu chứng mức độ trung bình sử dụng chữa trị bằng thuốc
(pharmaco therapy). Đối với bệnh nhân có điểm triệu chứng mức độ nặng, tốt
nhất là chọn phương pháp phẫu thuật (surgical treatment) [111], [134].
Có thể dựa vào thang điểm IPSS để dự báo kết quả điều trị. Điểm
triệu chứng có ưu thế là dự báo diễn biến của triệu chứng, và dự báo kết quả
điều trị. Sau phẫu thuật, những trường hợp có điểm triệu chứng mức độ nhẹ
thường không cải thiện nhiều hơn những trường hợp điểm triệu chứng mức độ
nặng. Ở người đàn ông trước phẫu thuật điểm IPSS lớn hơn 17 điểm thì sau
phẫu thuật điểm IPSS có thể cải thiện khoảng 87% [111].
Việc đánh giá mức độ triệu chứng dựa vào thang điểm IPSS, qua các
câu hỏi và cho điểm, cho phép lượng hóa mức độ triệu chứng chủ quan của
bệnh nhân, nhưng tính chính xác của các kết quả thu được không thực sự cao
và đôi khi không khách quan. Theo Pupca, số bệnh nhân hiểu rõ các câu hỏi chỉ
là 84% [102]. Gee W. F và cộng sự (1995), tiến hành đánh giá khả năng thực
hành chẩn đoán và theo dõi TSLT/TTL của nhân viên Y tế trong 514 khoa Tiết
6
niệu tại Hoa Kỳ, kÕt quả cho thấy 99% số người được kiểm tra có kiến thức và
sử dụng được thang điểm triệu chứng, tuy nhiên trong số này có 21% số người
thay đổi chẩn đoán trong quá trình quản lý và theo dõi bệnh [70].
Triệu chứng đường tiểu dưới không hoàn toàn đặc trưng cho
TSLT/TTL. Bàng quang tăng thúc tính và TSLT/TTL có những triệu chứng
chọn lọc, nam giới từ 40-79 tuổi, xác định tỷ lệ mắc dựa vào điểm triệu chứng
IPSS, thấy tỷ lệ mắc ở nhóm tuổi 40-49 là 13%, ở nhóm tuổi 70-79 là 28%
với điểm triệu chứng ở mức độ vừa và nặng [111]. Theo một nghiên cứu tại
Tunisia (2007), điều tra cắt ngang 4.602 đối tượng nam giới, dựa vào điểm
IPSS cã 72,6% số trường hợp điểm triệu chứng ở mức độ trung bình (IPSS: 8-
19 điểm); 26,4% số trường hợp điểm triệu chứng ở mức độ nặng (IPSS: 20-35
điểm), trong khi đó dựa vào điểm QoL có 10,3% dưới 2 điểm, có 52,2% từ 3-
4 điểm, có 37,5% từ 5-6 điểm [82]. Theo một nghiên cứu tại Trung Quốc
(1997), được tiến hành điều tra tại 187 bệnh viện thuộc 26 tỉnh và 4 trung tâm
nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra tỷ lệ mắc TSLT/TTL tại Trung Quốc là
16,1% (15.495 người mắc trong tổng số 95.749 đối tượng điều tra) [72].
Roehrborn Claus G và cộng sự (2002), đã thống kê một số nghiên cứu điều tra
tình hình mắc bệnh dựa vào thang điểm IPSS của các tác giả: Garraway
(1991), Chute (1993), Hunter (1994), Bosch (1995), Sagnier (1996), Overland
(2001), điều tra 7588 nam giới thuộc các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Đài
loan, Triều Tiên, Philippin, Thái Lan, Singapo, Pakistan, Ên Độ và Australia,
có tỷ lệ mắc bệnh : Tuổi 40 là 18%, Tuổi 50 là 29%, Tuổi 60 là 40%, Tuổi 70
là 56% với các triệu chứng trung bình và nặng [106]. Theo Horchani A và
cộng sự (2007), tiến hành điều tra cắt ngang 4.602 trường hợp nam giới từ 50
tuổi trở lên, thấy số trường hợp có điểm IPSS ở mức độ trung bình và nặng
chiếm tỷ lệ 72,6% [82]. Theo Swen-Olof Andersson và cộng sự (1992),
nghiên cứu trên 40.000 người Thụy Điển, thuộc nhóm tuổi 45-70 tuổi, sử
dụng thang điểm IPSS và QoL để đánh giá tuổi đặc hiệu mắc bệnh ở mức
nặng của triệu chứng đường tiểu dưới. Nhóm nghiên cứu nhận thấy, 18,5% ở
mức độ trung bình, 4,8% ở mức độ nặng, trường hợp có Ýt nhất một triệu
chứng là 83%. Triệu chứng đường tiểu dưới phụ thuộc mật thiết với tuổi, với
8
1,8% triệu chứng mức độ nặng trong số tuổi đời 45-49, và tăng dần tới 9,7%
trong số những người 75-79 tuổi. Tiểu tiện nhiều lần là triệu chứng gặp nhiều
nhất ở đàn ông dưới 70 tuổi, và tiểu đêm nhiều gặp ở đàn ông trên 70 tuổi.
V
t
Tuy là số liệu đáng tin cậy để chẩn đoán sự tắc nghẽn đường tiểu
dưới, nhưng đây là biện pháp không dễ gì thực hiện được tại các bệnh viện
tuyến tỉnh và đặc biệt là trong nghiên cứu điều tra tại cộng đồng.
d) Đo lượng nước tiểu tồn dư.
Theo Rosette J và cộng sự (2006), siêu âm để đo lượng nước tiểu tồn
dư (Post-void residual - PVR), là một phương pháp đơn giản không xâm lấn
(non-invasive). Lượng nước tiểu tồn dư lớn (>200-300 ml) có nghĩa là bàng
quang kém chức năng và dự báo kết quả điều trị kém thuận lợi hơn. Lượng
nước tiểu tồn dư lớn chống chỉ định đối với theo dõi và chờ đợi hoặc điều trị
bằng thuốc [111]. Faruk Turgut và cộng sự (2006), đã tiến hành siêu âm
đường thành bụng bằng đầu dò 4,0 MHz, cho 100 đối tượng thuộc nhóm
TSLT/TTL (nhóm Bệnh) và 53 đối tượng thuộc nhóm không có bệnh (nhóm
Chứng). Các đối tượng được đo khối lượng TTL và nước tiểu tồn dư. Đo
lượng nước tiểu tồn dư được tiến hành ngay sau khi đi tiểu. Khối lượng TTL
trung bình ở nhóm Bệnh và nhóm Chứng khác nhau rất có ý nghĩa (25,9 ± 2,8
ml và 9,3 ± 1,4 ml). Nước tiểu tồn dư ở nhóm Bệnh là 49,2 ± 5,6 ml [64].
Theo Francois Desgrandchamps và cộng sự (2006), những trường hợp
TSLT/TTL, lượng nước tiểu tồn dư trên 39 ml, được xếp vào nhóm nguy cơ
cao, biện pháp lựa chọn tốt nhất là can thiệp y tế [51].
10
e) Bí tiểu tiện.
Một biến chứng quan trọng thường gặp trong quá trính phát triển của
TSLT/TTL là bí đái cấp tính (AUR - acute urinary retention). Roehrborn
Claus G (2001), nghiên cứu theo dõi dọc nhóm đối tượng có hội chứng đường
tiểu dưới do TSLT/TTL nằm trong nhóm theo dõi và chờ đợi. Nghiên cứu sử
dụng định lượng nước tiểu trong bàng quang để xác định bí đái. Nếu điểm
triệu chứng ở mức độ nhẹ: Nam giới 50 tuổi sống đến 80 tuổi thì tỷ lệ bị bí
đái cấp là 20%; nếu 60 tuổi sống đến 80 tuổi thì tỷ lệ bí đái cấp là 23%; và 70
bàng quang, thăm trực tràng, chụp UIV, chụp MRI và biện pháp thăm dò khác
[111]. Khối lượng TTL qua thăm trực tràng thường nhỏ hơn so với siêu âm,
đặc biệt với trường hợp TTL trên 30
– 40 cm
3
[111], [112].
c) Một số phương pháp khác.
Chụp cắt lớp vi tính khó phân biệt được các vùng khác nhau của TTL.
Chụp cắt lớp vi tính chỉ giúp cho việc xác định khối lượng TTL, khó khăn xác
định khối bất thường trong tuyến khi mà vỏ bao tuyến vẫn còn nguyên vẹn,
nhưng nó có tác dụng đánh giá sự phát triển lan rộng của tuyến trong trường
hợp ung thư.
Chụp cộng hưởng từ (Imagerie résonante magnétique - IRM): Hiện
nay, là một phương pháp thăm dò khá hiệu quả trong trường hợp ung thư
TTL. Hình ảnh IRM có khả năng phân biệt được những vùng khác nhau của
TTL và cho những hình ảnh theo không gian ba chiều. Theo Kellogg J. P và
cộng sự đã tiến hành chụp 1100 phim IRM cho 540 nam để đo khối lượng
TTL ở các thời điểm nghiên cứu. Dựa vào kết quả số đo IRM xác định tổng
khối lượng TTL. Nhóm tác giả đưa ra mốc để kết luận: Nếu TTL ≥40 cm
3
12
được coi là có hiện tượng tăng sản; Nếu TTL < 40cm
3
được coi là không có
hiện tượng tăng sản. Theo tác giả, khối lượng 40cm
3
là ngưỡng đối với người
đàn ông không điều trị bằng thuốc hoặc phẫu thuật sẽ trải qua tiến triển xÊu
đi các triệu chứng và những dấu hiệu nặng lên của đường tiểu dưới trong
ml, nhóm nghiên cứu không thấy có mối liên quan giữa khối lượng TTL và
lượng nước tiểu tồn dư [64].
Simpson R.J và cộng sự (1996), xác định tỷ lệ mắc dựa vào khối
lượng TTL trên 20 cm
3
, tốc độ dòng tiểu, và điểm IPSS. Tỷ lệ mắc của 1000
đàn ông theo nhóm tuổi: 40-49 tuổi là 615 trường hợp; 50-59 tuổi là 776
trường hợp; 60-69 tuổi là 889 trường hợp; Đối với tất cả các nhóm tuổi là 765
trường hợp [118]. Theo Rosette J và cộng sự (2006), khối lượng TTL được
ước lượng bởi thăm trực tràng (Digital rectal examination- DRE) từ 40 cm
3
trở lên được coi là có hiện tượng TSLT/TTL [111]. Theo Francois
Desgrandchamps và cộng sự (2006), khối lượng TTL> 31cm
3
; PSA>1,6
ng/ml; Nước tiểu tồn dư >39 ml; tốc độ dòng tiểu tối đa < 10,6 ml/s, cần phải
can thiệp y tế không nên lựa chon phương pháp theo dõi và chờ đợi [51].
Theo Kellogg J. P và cộng, xác định khối lượng TTL bằng phim chụp MRI,
khối lượng TTL ≥ 40cm
3
được coi là có hiện tượng tăng sản. Theo tác giả,
khối lượng TTL 40 cm
3
là ngưỡng nếu không điều trị bằng thuốc hoặc phẫu
thuật các triệu chứng của đường tiểu dưới sẽ nặng dần lên trong khoảng thời
gian 4 năm hoặc lâu hơn [100].
Theo Đỗ Thị Khánh Hỷ, tại Việt Nam, đến tận năm 1989, sự điều tra
chính thức ở cộng đồng về bệnh lý này mới được bắt đầu. Trần Đức Thọ và
cộng sự tiến hành điều tra tại 4 vùng dân cư thuộc Hà Nội, Thanh Hóa, Bắc
Thái, cho nam giới từ 50 tuổi trở lên. Tuy nhiên, mỗi lần chỉ khám trên dưới
có chứa các nhú bên trong. Khác với phần mô tuyến bình thường, có thể tìm
15
thấy ở đây những điểm nhồi máu , dãn các chùm nang, dị sản tế bào biểu mô.
Có thể tìm thấy hình ảnh tân sản nội biểu mô TTL (Prostatic Intraepithelil
Neoplasia - PIN) [21], [31].
Tỷ lệ mắc dựa vào tế bào và mô bệnh học cao hơn nhiều so với khối
lượng TTL và điểm IPSS. Theo Gu F (2000), tỷ lệ mắc TSLT/TTL qua số liệu
xét nghiệm tế bào học là: 25% nhóm tuổi 40-50; 50% nhóm tuổi 50-60; 65%
nhóm tuổi 60-70; 80% nhóm tuổi 70-80; 90% nhóm tuổi 80-90. Tuy nhiên
trong số này chỉ có 25-50% có triệu chứng lâm sàng [72]. Manzar S (1997),
đã tổng hợp tỷ lệ mắc theo triệu chứng lâm sàng và triệu chứng tế bào mô
bệnh học của mét số tác giả được trình bày tại bảng 1.2 [94].
Bảng 1.2: Tỷ lệ mắc TSLT/TTL của một số tác giả.
Tỷ lệ mắc
dựa vào
Tác giả
Nhóm tuổi
40-49 50-59 60-69 ≥70
Triệu chứng
Lâm sàng
Manzar
(n=661, tại Pakistan)
16% 40% 29% 14%
Lytton và cộng sự
(n=6975, tại Mỹ)
8% 20% 35% 43%
Tế bào
Mô bệnh học
Moore
(n=304, tại Áo)
khối lượng TTL. Sự tăng của PSA đánh giá sự phát triển của TTL. Đối với
TTL 30 cm
3
hoặc lớn hơn phản ánh nồng độ PSA vào khoảng 1,5 ng/ml hoặc
lớn hơn [95]. Theo Jane Perry (2007), nồng độ PSA bình thường của từng
nhóm tuổi: 40-49 là 2,5 ng/ml; 50-59 là 3,0 ng/ml; 60-69 là 4,0 ng/ml; 70-79
là 5,0 ng/ml. Nồng độ PSA 0,5-2,5 ng/ml không phát hiện thấy trường hợp
nào bị ung thư. Nồng độ PSA 3-10 ng/ml thì có khoảng 20% trường hợp bị
ung thư. Nồng độ PSA trên 10 ng/ml thì có khoảng 50% trường hợp bị ung
thư [85]. Theo Đào Thị Hồng Nga (2001), nghiên cứu nồng độ PSA huyết
thanh ở 3 nhóm đối tượng: Không mắc TSLT/TTL; Có mắc TSLT/TTL; và
nhóm mắc ung thư TTL. Tác giả nhận thấy nồng độ PSA ở người bình thường
tăng theo tuổi (từ 0 đến 6 ng/ml). Nồng độ PSA ở nhóm mắc TSLT/TTL dao
17
động rất lớn không có mối liên quan rõ rệt với tuổi. Nồng độ PSA ở nhóm
ung thư TTL tăng rất cao, đặc biệt gần một nửa tăng trên 200 ng/ml [18].
Tuy nhiên trên thực tế không có nghiên cứu nào dựa vào nồng độ
PSA để xác định tỷ lệ mắc TSLT/TTL. Các nghiên cứu đều lấy xét nghiệm
này để sàng lọc và chẩn đoán phân biệt với ung thư TTL. Theo Ian M.
Thompson và cộng sự (2005), tiến hành nghiên cứu với đối tượng nam giới từ
50 tuổi trở lên được xét nghiệm PSA ≤3,0 ng/ml, thăm trực tràng không có
dấu hiệu bất thường. Tất cả các đối tượng này được xét nghiệm và thăm trực
tràng hàng năm, kéo dài 8 năm, nếu PSA=4 ng/ml sẽ được chọc sinh thiết để
xác định ung thư TTL. Nhận thấy PSA nhậy với việc phát hiện ung thư TTL.
Việc xét nghiệm PSA định kỳ giúp cho việc phát hiện sớm ung thư TTL [83].
Theo Rosette J (2001), nồng độ PSA trong khoảng 4-10 ng/ml và thăm trực
tràng thấy TTL bình thường được gọi là vùng “xám”, cần phải được theo dõi
thường xuyên [111]. Catalona WJ và cộng sự (1993), Nghiên cứu 10251
trường hợp, tuổi từ 50 trở lên, tuổi trung bình 63, lấy máu tĩnh mạch xét
nghiệm PSA, kéo dài 6 đến 37 tháng, xác định TTL qua siêu âm và Biopsy
độ tuổi 40 bắt đầu xuất hiện TSLT/TTL, nhưng về mặt lâm sàng, ở độ tuổi 50
bắt đầu xuất hiện các triệu chứng của đường tiểu dưới ở mức độ nhẹ, tuổi
càng cao mức độ triệu chứng càng nặng.
1.2.2.2: Vai trò của nội tiết.
Quan trọng nhất là Testosteron. Nã có nguồn gốc trên 95% từ tinh
hoàn. Sự tăng trưởng và phát triển của TTL dưới tác dụng của nội tiết tố tinh
hoàn theo sơ đồ sau :
19
Testosterone 5α reductase Dihydrotestosterone (DHT)
Liên bào đệm xoang niệu sinh dục (Coffey).
DHT tác dụng lên tế bào mô đích thông qua cơ chế hoạt hoá hệ gen [46], [88].
Các trường hợp cắt tinh hoàn sẽ không xảy ra hiện tượng TSLT/TTL
kể cả trên thực nghiệm và trên người. Huggins (1941) nhận thấy những con
chó cắt tinh hoàn không bị TSLT/TTL, đã áp dụng cắt tinh hoàn để điều trị
tăng sản TTL (ít hiệu quả). Walls Wilson (1976) nhận thấy sự thay đổi
oestrogen và androgen (thực nghiệm trên chó) thấy gây to TTL. Gloyna,
Garnet (1989) tiêm Dihydrotestosteron cho chó thực nghiêm còn tinh hoàn
gây TSLT/TTL [11].
1.2.2.3: Yếu tè di truyền.
Theo Barry (1997), TSLT/TTL có liên quan đến yếu tố di truyền, mặc
dù tính đặc hiệu không cao [42]. Theo Hoke G (2008), có sự liên quan giữa
yếu tố di truyền và tỷ lệ mắc TSLT/TTL. Theo tác giả, yếu tố di truyền có liên
quan đến Androgen receptor tại cấu trúc của tế bào TTL, và chính lý do này
tác động đến sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa các dân tộc, chủng tộc [81].
1.2.2.4: Yếu tố nhân trắc học.
Theo Kellogg J. P và cộng sự (2002), tiến hành nghiên cứu điều tra
cắt ngang và theo dõi dọc từ năm 1993 đến năm 2002, cho đối tượng là nam
giới từ 27 tuổi trở lên. Kết quả cho thấy trọng lượng cơ thể, chỉ số BMI khác
nhau có ý nghĩa thống kê giữa nhóm khối lượng TTL < 40cm
3
và nhóm không có triệu chứng đường tiểu dưới. Các yếu tố nơi ở hiện nay,
tuổi đời, tình trạng việc làm, khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa nhóm có
triệu chứng đường tiểu dưới và nhóm không có triệu chứng đường tiểu dưới.
Như vậy, với cùng yếu tố gia đình như nhau, vị trí địa lý hiện đang sinh sống
cũng là một yếu tố nguy cơ TSLT/TTL [117]. Theo Hoke G và công sự, yếu
tố chủng tộc có tác động ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc TSLT/TTL [81]. Theo một
nghiên cứu tại Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc TSLT/TTL người ở châu Mỹ cũng tương tự
như ở người châu Âu qua so sánh với kết quả điều tra tại Scotland và Hà Lan,
21
tỷ lệ mắc người ở châu Mỹ thấp hơn so với người ở châu Á, qua so sánh với
các nghiên cứu ở châu Á, mặc dù khối lượng TTL người ở Nhật có vẻ nhỏ
hơn người ở Mỹ [111].
Ngược lại, theo nghiên cứu của Đỗ Thị Khánh Hỷ [17], khi tiến hành
điều tra tại 3 vùng dân cư thuộc miền Bắc, niềm Trung và niềm Nam với tổng
số đối tượng nghiên cứu là 828 người, thì tỷ lệ mắc bệnh tại 3 vùng dân cư
khác nhau không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
1.2.2.6: Một số yếu tố khác.
Theo Shvartzman P. MD và cộng sự (2001), biểu hiện triệu chứng
đường tiểu dưới càng nặng lên khi tuổi của họ tăng lên. Tất cả những trường
hợp có biểu hiện triệu chứng đường tiểu dưới đều có nhiều hơn các bệnh mạn
tính và các vấn đề về y tế so với nhóm không có triệu chứng đường tiểu dưới.
Phân tích ảnh hưởng của một số hoạt động thường ngày ở những trường hợp
có biểu hiện triệu chứng đường tiểu dưới với mức độ bệnh cho thấy, việc đi
tiểu theo một giờ nhất định, kể cả khi đi ngủ cũng chủ động thức dậy để đi
tiểu, ảnh hưởng không rõ ràng đến mức độ nặng nhẹ của triệu chứng đường
tiểu dưới [117].
Theo Philip M. Ullrich và cộng sự (2005), nghiên cứu cắt ngang về
những yếu tố Stres trong cuộc sống với các thông số bệnh lý của 83 trường
hợp được chẩn đoán TSLT/TTL. Nhóm nghiên cứu kết luận, yếu tố tâm lý có
ảnh hưởng đến các thông số bệnh lý TSLT/TTL [103].
TTL đến khi phải điều trị tăng TSLT/TTL là 9,8 năm [87]. Theo Trần Quán
Anh, viêm tuyến tiền liệt ở Việt Nam Ýt được phát hiện, có thể do người thày
thuốc chưa có một lưu ý đúng mức vào định hướng chẩn đoán bệnh này [2]
23
Theo Jennifer L. St và cộng sự (2006), nghiên cứu tác động của nhóm
thuốc kháng viêm Nonsteroid đối với sự phát triển TSLT/TTL. Kết quả
nghiên cứu cho thấy: thuốc kháng viêm Nonsteroid có tác dụng làm hạn chế
sự phát triển TSLT/TTL [86].
Theo Kenneth M và cộng sự (2000), có mối liên quan giữa
TSLT/TTL và bệnh lý mạch vành ở người đàn ông cao tuổi. Bệnh nhân ở
nhóm không có TSLT/TTL giảm đáng kể nguy cơ nhồi máu cơ tim so với
nhóm có TSLT/TTL [91].
Theo Gass R (2002), nhóm không hút thuốc lá có nguy cơ mắc
TSLT/TTL lớn hơn nhóm hút thuốc lá. Không có mối liên quan giữa trọng lượng
cơ thể và tỷ lệ mắc TSLT/TTL. Các thành phần Cà phê làm tăng nồng độ
Cholesterol trong huyết thanh, nhân tố tham gia vào quá trình sinh lý bệnh của
TSLT/TTL [67]. Theo Richard B và cộng sự (1996), không có bằng chứng rõ
ràng thói quen uống rượu là yếu tố nguy cơ của ung thư TTL và TSLT/TTL
[105].
1.3: Điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt.
Cho đến nay, nguyên nhân bệnh sinh chưa được làm sáng tỏ, khái
niệm có bệnh và không có bệnh cũng chưa được thống nhất. Khái niệm mắc
bệnh, tỷ lệ mắc bệnh của các nghiên cứu phụ thuộc vào cách chọn mẫu, tiêu
chuẩn đánh giá, địa bàn nghiên cứu, thời gian nghiên cứu. Theo Barry MJ và
cộng sự (1997), mặc dù triệu chứng đường tiểu dưới do TSLT/TTL nhìn
chung tiến triển theo thời gian, sù tăng sản không nhất thiết phải điều trị, theo
dõi từ 1 đến 5 năm thấy: Khoảng 18-32% bệnh nhân với triệu chứng lâm sàng
được cải thiện tốt dần lên; 15-52% với các triệu chứng không thay đổi; 16-
60% với các triệu chứng nặng lên. TSLT/TTL rất hiếm khi gây tử vong, nó
được coi là bệnh tiến triển chậm [42]. Theo Gu F (2000), tuỳ theo định nghĩa
1.3.1: Phẫu thuật nội soi qua niệu đạo.
25