ĐẶT VẤN ĐỀ
Động kinh là bệnh lý mạn tính do tổn thương ở não gây nên . Ngoài hậu quả
biểu hiện trực tiếp và rõ ràng là các cơn động kinh, động kinh còn có thể gây
tổn thương các chức năng cao cấp của não trong đó có chức năng nhận
thức[48]. Rối loạn nhận thức mà mức độ nặng hơn là sa sút trí tuệ là hội
chứng rối loạn chức năng của vỏ não bao gồm trí nhớ, tư duy, định hướng, sự
hiểu biết, tính toán, khả năng học tập, ngôn ngữ và sự phán đoán [ 32] Các
ảnh hưởng của rối loạn nhận thức đến cuộc sống hàng ngày tiến triển dần dần,
tuỳ theo mức độ trầm trọng của bệnh mà người bệnh có thể bị phụ thuộc vào
người thân một phần hay toàn bộ. Rối loạn nhận thức không những ảnh
hưởng lớn đến chất lượng sống của người bệnh mà còn là gánh nặng cho cộng
đồng cũng như toàn xã hội[2].
Trên thế giới tỷ lệ động kinh dao động hiện mắc từ 5/1000 đến 10/1000 . Ở
Việt nam tỷ lệ hiện mỏc đụng kinh 4, 5/1000 đến 5, 4/1000 tùy theo từng tác
giả [1]
Về những đặc điểm cơn lâm sàng và phân loại động kinh cho đến nay vẫn
còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu. Hiện nay hai bảng phân loại động kinh
được nhiều người áp dụng trên thế giới là phân loại quốc tế cơn đông kinh
1981 và phân loại quốc tế hội chứng động kinh và bệnh động kinh năm 1989
của liên hội quốc tế chống động kinh. Phân loại động kinh theo cơn cục bộ và
côn toàn bộ giúp phân biệt rỏ cơn co giật toàn thể. Cơn đông kinh được gọi là
toàn thể khi biểu hiện lâm sàng- điện nóo liờn quan tới sự phóng lực quá mức
và lan rộng của các tế bào thần kinh tại vừ nóo hoặc ở vùng dưới vỏ của cả
hai bán cầu não.
Những năm gần đây nhờ có sự tiến bộ về y học, các nghiên cứu đã cho
thấy sự liên quan rõ rệt về rối loạn nhận thức và động kinh. Cụ thể Aikia M
và cộng sự (2001) nghiên cứu trên quần thể động kinh với tất cả các thể động
1
kinh cho kết quả đến 18,5% bệnh nhân động kinh trong quần thể động kinh
có biểu hiện về rối loạn nhận thức ở các mức độ khác nhau.
Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu về động kinh nói chung,
hoặc những người xung quanh cảm nhận được. Các rối loạn chức năng vỏ não
này có thể cấp tính và thường tạm thời (trường hợp này nhiều khi chỉ là một
cơn động kinh đơn độc).
1.1.2 Động kinh:
Là sự tái diễn từ hai cơn động kinh trở lên trên 24 giờ, không phải do
sốt cao và các nguyên nhân cấp tính khác như rối loạn chuyển hoá, ngừng
thuốc hay rượu đột ngột gây nên.
1.1.3 Phân loại động kinh
Phân loại động kinh có vai trò quan trọng không những trong thực hành
lâm sàng thần kinh mà còn góp phần tạo nên sự thống nhất trong nghiên cứu
động kinh trên toàn thế giới. Hiện nay Liên hội Chống Động kinh quốc tế đưa
ra hai cách phân loại động kinh là:
- Phân loại động kinh theo cơn (1981).
- Phân loại động kinh theo hội chứng (1989).
1.1.4. Phân loại quốc tế về các cơn động kinh 1981
3
a. Cơn động kinh toàn bộ
- Cơn vắng ý thức: đặc hiệu và không đặc hiệu
- Cơn lớn còn gọi là cơn co cứng - co giật.
- Cơn giật cơ.
- Cơn co giật.
- Cơn mất trương lực.
- Cơn trương lực.
b. Các cơn động kinh cục bộ
- Các cơn động kinh cục bộ đơn thuần với những dấu hiệu vận động,
cảm giác thân thể hoặc giác quan, thực vật, tâm trí.
- Các cơn động kinh cục bộ phức hợp : khởi đầu là cơn cục bộ đơn giản
tiếp theo là những rối loạn về ý thức và/hoặc các biểu hiện tự động. Rối loạn
ý thức ngay lúc bắt đầu có cơn có hoặc không có động tác tự động kèm theo.
- Các cơn động kinh cục bộ toàn bộ hoá thứ phát: các cơn động kinh
+ Giai đoạn doãi cơ : Bệnh nhân nằm yên bất động, các cơ duỗi, phản
xạ gân xương mất hẳn hoặc giảm nặng, bệnh nhân vẫn mất ý thức hoàn toàn,
đồng tử giản, sau đó hô hấp trở lại, thở bù mạnh và nhanh, thở dốc, thở phì
phì, bọt mép có thể lẩn ớt mỏu do cắn phải lưỡi, dần dần vài phút sau sắc mặt
hồng hào trở lại, ý thức u ám rồi tỉnh hẳn. Bệnh nhân không nhớ gì về cơn của
mình, mệt mỏi và có thể ngủ thiếp đi giai đoạn nầy có thể kéo dài vài phút.
+ Giai đoạn hồi phục :Bệnh nhân có thể phàn nàn đau đầu, đau toàn
thân, có thể ngủ thiếp đi. Có người bị liệt nhẹ hoặc tờ bỡ cỏc chi. Một số bệnh
5
nhân có thay đổi hành vi tác phong, sợ hãi kích động hoặc tự kỷ, giai đoạn
nầy kéo dài vài phút đến vài giờ.
+ Điện não đồ trong cơn : Trong cơn lâm sàng do có cơn giật nờn trờn
điện não đồ thấy xuất hiện nhiểu điện của các cử động co giật
Điện não đồ ghi ngoài cơn lâm sàng : Hoạt động kịch phát kiểu động
kinh có thể ghi được trên điện não đồ mặc dù khi đó bệnh nhân không có cơn
lâm sàng.
1.1.6 Điều trị động kinh : Sử dụng thuốc kháng động kinh
+ Thuốc cổ điển : Phenobarbital, phenytoin
Giá thành rẻ
Tác dụng phụ :
- Trên hệ thần kinh thay đổi hành vi, gà gật và rối loạn nhận thức.
- Các tác dụng không mong muốn trờn mỏu, xương, da, mô liên kết
+ Thuốc thế hệ mới : Levetiracetam
Giá thành đắt
Tác dụng phụ : Ít tác dụng phụ .
1.2. ĐẠI CƯƠNG VỀ RỐI LOẠN NHẬN THỨC
1.2.1 Cơ sở sinh bệnh học của rối loạn nhận thức
Hoạt động tâm thần con người là một chức năng phức tạp liên quan đến
nhiều thành phần bao gồm các yếu tố cấu thành là ý thức, hành vi, cảm xúc và
trí tuệ. Cơ sở vật chất là não bộ đặc biệt là vỏ não và vùng dưới vỏ có mối quan
7
Ở những bệnh nhân có tổn thương thần kinh trung ương vĩnh viễn hay
những tổn thương có tính chất lặp lại có chu kỳ và ở những người người cao
tuổi do thoái hóa não có thể có sự suy giảm về chất lượng các chất dẫn truyền
thần kinh theo ba con đường trên và hậu quả là ảnh hưởng tới chức năng thần
kinh nói chung, chức năng nhận thức nói riêng. Nói chung nhiều người bắt
đầu ở độ tuổi 50-60 tự nhận thấy có khó khăn khi ghi nhớ thông tin mới và
khó nhắc lại các từ ngữ hoặc tên quen thuộc. Nhiều người cao tuổi thấy có sự
suy giảm trong các lĩnh vực khác nhau của nhận thức như ngôn ngữ, thị giỏc-
khụng gian cũng bị chậm. Các biến đổi đó không phải nhất thiết liên quan đến
một bệnh lý thần kinh nào đó mà phải được coi là sinh lý bình thường của quá
trình lão hóa [41].
1.2.2. Biểu hiện lâm sàng rối loạn nhận thức
a.Mất nhận thức thị giác và không gian
. Các rối loạn nhận thức hình ảnh của đồ vật
+ Rối loạn tri giác
+ .Mất nhận thức liên hợp
1.1. Rối loạn nhận thức hình ảnh của không gian
+ Các rối loạn khả năng xác định vị trí của đồ vật
+ Các rối loạn khả năng xác định vị trí bản thân
b Mất nhận thức thị giác
1.2.3 Các trắc nghiệm thần kinh - tâm lý áp dụng trong việc đánh giá
chức năng nhận thức Hiện nay để đánh giá về chức năng nhận thức của các
nghiên cứu cũng như thực hành lâm sàng, ngoài việc thăm khám lâm sàng và
cận lâm sàng trong đó các trắc nghiệm thần kinh - tâm lý đóng một vai trò
quan trọng trong đánh giá chức năng nhận thức, cho phép đánh giá, phát hiện,
chẩn đoán và theo dõi tình trạng rối loạn nhận thức và sa sút trí tuệ. Các trắc
nghiệm thần kinh - tâm lý được chấp nhận như các thủ thuật chẩn đoán thần
8
kinh (American Academy of Neurology Task Force, 1996) và là các phương
nhớ, ngôn ngữ và vẽ hình, với mức độ phức tạp đủ để đánh giá suy giảm nhận
thức từ nhẹ đến tương đối nặng. Thời gian làm trắc nghiệm mất khoảng 30
đến 45 phút. Bộ Trắc nghiệm của Liên Hiệp Đăng ký Bệnh Alzheimer gồm
nhiều trắc nghiệm nhỏ đánh giá từng lĩnh vực nhận thức khác nhau như:
- Chức năng nhận thức tổng quát: dùng MMSE.
- Khả năng tiếp thu thông tin mới: học danh sách 10 từ.
- Trớ nhớ: Dùng trắc nghiệm nhớ từ muộn, nhận biết từ nhớ các hình vẽ.
- Ngụn ngữ: Dùng trắc nghiệm nói lưu loát các từ theo nhóm, trắc
nghiệm gọi tên Boston phiên bản 15 từ.
- Vẽ hình: Vẽ lại những hình học đơn giản.
b. Đánh giá chức năng thực hiện nhiệm vụ
Đó là các khả năng như tổ chức, lên kế hoạch và theo dõi các hành vi
giải quyết vấn đề. Để đánh giá các khả năng này, người ta thường dùng các
trắc nghiệm về kỹ năng giải quyết vấn đề. Được sử dụng nhiều nhất là Trắc
nghiệm xếp quân bài của Wisconsin (Heaton, 1981), Trắc nghiệm nhóm từ
(Reitan và Wolfson 1985) và gần đây là Trắc nghiệm chức năng thực hiện
nhiệm vụ của Delis – Kaplan (Delis – Kaplan, 2001). Các trắc nghiệm này đòi
hỏi bệnh nhân tạo ra và kiểm tra các giả thuyết trong khi sử dụng những phản
hồi (feedback) đỳng-sai để làm thay đổi một cách linh hoạt những câu trả lời
với sự thay đổi nhu cầu nhiệm vụ.
10
Một số trắc nghiệm khác như Nói lưu loát từ hoặc Trắc nghiệm nối các
điểm phần B (Reitan và Wolfson, 1985) cũng thường được sử dụng trong
đánh giá sa sút trí tuệ.
c. Đánh giá sự chú ý và sự tập trung
Trong Sa sút trí tuệ thường có mất sự cân bằng giữa khả năng nhận biết
những kích thích mới và tập trung vào những kích thích có liên quan. Sự chú
ý có chọn lọc bị suy giảm làm cho bệnh nhân hoặc xao nhãng hoặc tập trung
quá mức, do vậy bỏ sót những tín hiệu xung quanh. Ngoài ra, bệnh nhân cũng
thường có giảm khả năng duy trì hoặc phân chia sự chú ý (Butters và cộng sự,
giảm trí nhớ nhận biết thường liên quan đến sai sót trong khâu tìm lại hơn là
khâu ghi nhận thông tin. Bệnh nhân sa sút trí tuệ vỏ não như bệnh Alzheimer
thường khó khăn trong ghi nhận thông tin, nhớ tự do và trí nhớ nhận biết,
trong khi bệnh nhân trầm cảm và những rối loạn dưới vỏ thường chỉ giảm nhớ
tự do, trong khi trí nhớ nhận biết còn tương đối tốt.
Độ chính xác của các trắc nghiệm trí nhớ phụ thuộc vào bản chất và tính
phức tạp của các trắc nghiệm. Ví dụ: Trắc nghiệm nhớ lại ba từ trong MMSE
có thể phân biệt nhóm lớn bệnh nhân Sa sút trí tuệ với những người không bị
Sa sút trí tuệ, tuy nhiên kết quả thay đổi khá nhiều trong quần thể người bình
thường cũng như ở từng bệnh nhân (Cullum và cộng sự, 1993). Có nhiều yếu
tố có thể ảnh hưởng đến kết quả như hướng dẫn kỹ càng hay không, các từ
phức tạp hay đơn giản, có gợi ý hay không và số các mẩu thông tin cần nhớ…
Không có trắc nghiệm đơn giản nào có khả năng đánh giá tất cả các khía cạnh
12
của trí nhớ, hầu hết chỉ đánh giá được một phần. Mặc dù có những hạn chế,
nhưng các trắc nghiệm, đặc biệt là trắc nghiệm đánh giá sự nhớ lại lời nói sau
một thời gian, là những công cụ hữu hiệu nhất cho phép phân biệt bệnh nhân
sa sút trí tuệ với người bình thường (Welsh và cộng sự 1991).
Một số trắc nghiệm nhớ lời nói thường được sử dụng trong đánh giá
nhận thức bao gồm Trắc nghiệm học từ của California, Trắc nghiệm học từ
của Rey, Trắc nghiệm học từ của Hopkins… Những trắc nghiệm này có ưu
điểm là gồm nhiều bài tập học từ mới, độ dài thích hợp để có thể đánh giá trí
nhớ thứ phát (dài hạn), bài tập nhớ lại muộn và bài tập nhận biết từ.
Ngoài các trắc nghiệm học danh từ ở trên, người ta còn sử dụng Trắc
nghiệm trí nhớ logic của thang điểm trí nhớ Wechsler (WMS-III, 1997), trong
đó đánh giá sự nhớ lại một đoạn thông tin dài. Đọc cho bệnh nhân nghe hai
câu chuyện, mỗi lần một câu chuyện. Sau khi đọc xong yêu cầu bệnh nhân
nhớ lại càng nhiều thông tin càng tốt. Người ta cũng đánh giá khả năng nhớ
lại sau 30 phút để xem những thông tin đã được học ban đầu được nhớ lại như
thế nào.
bệnh nhân vẽ lại những hình vẽ chuẩn hoặc sắp xếp các khối lập phương theo
hình mẫu. Một số trắc nghiệm hay dùng là Trắc nghiệm vẽ đồng hồ [Phụ lục
4], vẽ hình chữ thập, hình khối vuụng, cỏc đường và hình giao nhau…
(Freedman và cộng sự, 1994; Kozora và Cullum, 1994). Một trắc nghiệm
khác là Trắc nghiệm vẽ hình phức tạp của Rey-Osterreith, trong đó bệnh nhân
14
phải vẽ những hình rất phức tạp. Trắc nghiệm này dùng để đánh giá trí nhớ thị
giác.
g. Đánh giá khả năng vận động
Khả năng vận động bao gồm các vận động cơ bản đến những động tác
đòi hỏi các kỹ năng phức tạp. Suy giảm các động tác đòi hỏi kỹ năng phức tạp
mà không phải do khó khăn vận động cơ bản gọi là mất sử dụng động tác
(apraxia). Bệnh nhân có thể không thực hiện được động tác theo yêu cầu mà
bình thường có thể thực hiện dễ dàng một cách tự phát, hoặc không thực hiện
được một chuỗi động tác cho một mục đích đặc biệt. Để đánh giá việc mất
thực hiện động tác ta yêu cầu bệnh nhân làm các động tác thông thường như
vẫy tay, đánh răng… cũng có thể người khám làm động tác mẫu để bệnh nhân
làm theo, thường hay dùng Trắc nghiệm gõ ngón tay [Phụ lục 4].
1.2.3 Các mức độ thường gặp của rối loạn nhận thức
1.2.3.1 Rối loạn các lĩnh vực nhận thức [41]
Nhận thức bao hàm rất nhiều lĩnh vực như đó nờu ở trên. Mỗi lĩnh vực
chịu sự chi phối của từng khu vực chức năng khác nhau của não bộ. Chính vì
vậy mà khi có tổn thương vào chức năng vùng nào thì sẽ gây ra rối loạn chức
năng vựng đú, ví dụ khi có một tổn thương nằm ở vùng chi phối cho ngôn
ngữ thì sẽ ảnh hưởng đến chức năng ngôn ngữ. Mặc dù vậy mỗi chức năng
chúng được liên hệ với nhau mật thiết qua các đường liên hệ ở vỏ não và nó
có thể được chi phối bởi nhiều vùng ở não, chẳng hạn như tốc độ vận động thị
giác chịu sự chi phối cả thựy trỏn và thùy thái dương. Thực tế trên lâm sàng
cũng có thể gặp rối loạn chỉ một lĩnh vực, nhưng thường kết hợp rối loạn
nhiều lĩnh vực do có sự chi phối xen kẽ nói trên. Mức độ rối loạn này thường
Tiêu chuẩn trên chủ yếu để chẩn đoán suy giảm nhận thức nhẹ về trí nhớ
(amnestic MCI). Tiêu chuẩn sau của Petersen bổ sung thêm về các phân nhóm
của suy giảm nhận thức nhẹ
c. Tiến triển của suy giảm nhận thức nhẹ
Ngày nay vẫn còn nhiều tranh luận về câu hỏi được đặt ra là liệu suy
giảm nhận thức có phải là tình trạng bệnh lý? Câu hỏi này hiện nay chưa có
câu trả lời thoả đáng. Tuy nhiên theo quan điểm của các chuyên gia về thần
kinh học thì suy giảm nhận thức là một tình trạng bệnh lý của hệ thống thần
kinh vì một số lý do:
+ Đây là một bệnh của não với nguyên nhân là do suy yếu về nhận thức
+ Sự sa sút về nhận thức này là một tình trạng bệnh lý và được coi như
là một loại bệnh tâm trí. Dù đứng trên quan điểm nào thỡ cỏc nhà y học đều
thống nhất rằng sa sút trí tuệ là hậu quả của suy giảm nhận thức mà nguyên
nhân trực tiếp của các quá trình tổn thương não hoặc thoái hóa thần kinh do
nhiều tác nhân khác nhau trong đó bệnh Alzheimer là nguyên nhân phổ biến
nhất
Suy giảm nhận thức nhẹ là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng,
vì chỉ khi phát hiện bệnh ở giai đoạn này chúng ta mới có thể ứng dụng các
biện pháp dự phòng và điều trị can thiệp sớm giúp bệnh nhanh chóng ổn định,
hoặc phục hồi, tránh biến chuyển thành sa sút trí tuệ.
1.2.3.3 Sa sút trí tuệ
a. Khái niệm sa sút trí tuệ
Sa sút trí tuệ là tình trạng rối loạn nhận thức với các biểu hiện không
những về rối loạn trí nhớ, ngôn ngữ, mà còn rối loạn nhiều chức năng khác
kèm theo như định hướng, các hoạt động hàng ngày cũng có bị ảnh hưởng ít
nhiều tùy theo mức độ sa sút trí tuệ. Khi đã bị sa sút trí tuệ chứng tỏ rối loạn
17
nhận thức đã biểu hiện rõ ràng. Chính vì thế việc chẩn đoán sa sút trí tuệ là
không phải quá khó khăn. Tuy nhiên, đến giai đoạn này thì vấn đề điều trị có
phần bị hạn chế về mức độ hồi phục cũng như sự tiến triển nặng lên của bệnh
- Than phiền mất nhận thức.
- Chứng minh sự thiếu hụt.
- Ít cố gắng để thành công.
- Duy trì sự tuyệt vọng
- Ít tăng thiếu hụt ban đêm
- Ít than phiền.
- Giấu sự thiếu hụt.
- Cố gắng nhiều.
- Xúc cảm thay đổi.
- Tăng thiếu hụt ban đêm.
Đánh giá lâm sàng
- “Tôi không biết”
- Mất trí nhớ sự kiện gần = sự kiện xa
- Thay đổi rõ rệt trong thực hiện một nhiệm
vụ giống nhau
- Trả lời gần đúng.
- Mất trí nhớ.
- Mất trí nhớ sự kiện gần
hơn sự kiện xa.
- Không thay đổi.
1.2.4. Các nguyên nhân thường gặp của rối loạn nhận thức
1.2.4.1. Những nguyên nhân do bệnh lý thần kinh
* Do bệnh lý thoái húa nóo
+ Bệnh Alzheimer
+ Các hội chứng thoỏi hoỏ vỏ không đối xứng
+ Phức hợp sa sút trí tuệ - xơ cứng cột bên teo cơ.
- Sa sút trí tuệ kiểu dưới vỏ
19
+ Bệnh Parkinson
+ Teo nhiều hệ
- Thuốc: Kháng cholin, an thần và gây ngủ, thuốc gây nghiện, thuốc
kháng H2, digoxin…
* Do một số nguyên nhân khác
- Thiếu oxy hay hạ đường huyết kéo dài.
- Lọc thận chu kỳ.
1.3 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ RỐI LOẠN NHẬN THỨC
1.3.1 Các nghiên cứu về rối loạn nhận thức trên bệnh nhân động kinh
Trong thế kỷ XX còn nhiều quan điểm cho rằng chỉ riêng bệnh động kinh
có thể gây ra sa sút trí tuệ, mặc dù được thay thế bằng các quan sát về các ảnh
hưởng do một số bệnh lý ở não, tổn thương vùng đầu do va chạm tái diễn khi
lên cơn và các ảnh hưởng không mong muốn do điều trị bệnh động kinh . Một
số nghiên cứu cho thấy rằng sự cải thiện trong các đối tượng lên cơn có liên
quan đến cải thiện các hoạt động kiểm tra (Kugelmass et al., 1938), tăng khả
năng giao động chỉ số IQ có thể liên quan đến tần số lên cơn. Vài nghiên cứu
đã giả định sự giảm nhẹ IQ với chu kỳ tăng số lượng cơn trong một khoảng
thời gian dài (Brown and Reynolds, 1981). Mặc dù những quan sát này là
chưa toàn diện, nhưng chúng có giá trị nhất định trong việc phát triển một mô
hình cơ bản về sự liên quan giữa tần suất, loại cơn và chức năng nhận thức.
Trong các quan sát của Broca và Wernicke. Vào năm 1861 Paul Broca đã
xác định nếp cuộn thứ ba của trán bên bán cầu nóo trỏi là vùng nếu bị tổn
thương, sẽ dẫn đến việc sa sút về khả năng diến đạt ngôn ngữ. Như vậy có
nghĩa rằng những cơn động kinh liên quan trực tiếp đến vùng này sẽ ảnh
hưởng đến vấn đề nhận thức mà thường là rối loạn về diễn đạt ngôn ngữ. Năm
1874 Karl Wernicke đã mô tả quá trình suy yếu khả năng diễn đạt ngôn ngữ
21
đi kèm theo việc vùng bán cầu não trái bị tổn thương mở rộng từ nếp cuộn thứ
nhất ở vùng thái dương vào đến thuỳ đỉnh. Việc công nhận những hội chứng
rối loạn thần kinh tâm lý có thể xác định bằng lâm sàng liên quan đến bệnh
học não riêng biệt còn tiếp tục phát triển cùng với những hiểu biết sâu rộng
hơn trong việc xác định vị trí của não. Việc xác định bệnh động kinh tâm thần
(Aldenkamp, 1995) trong nghiên cứu này đã cho thấy khi tần suất lên
cơn càng dày thì tỷ lệ rối loạn nhận thức càng cao và mức độ rối loạn nhận
thức càng nặng. Cụ thể với tần suất dưới 3 cơn/ 1 tuần tỷ lệ rối loạn nhận thức
xấp xĩ 1,5 lần so với những đối tượng động kinh có tần suấn cơn dưới 3 cơn,
trên 1 cơn/thỏng và gấp gần 2,8 lần so với tần suất dưới 3 cơn/năm khi so
sánh cùng nhóm tuổi và ông nhận thấy rằng ở nhúm cú cơn dày hơn tỷ lệ
bệnh nhân rối loạn nhận thức ở mức độ sa sút trí tuệ cao hơn rõ rệt so với
nhóm bệnh nhân có cơn thưa hơn hoặc các bệnh nhân đã cắt cơn, đặc biệt
những bệnh nhân trên 50 tuổi (15% so với 6,2%).
Nghiên cứu Jambaque et al. (2000) đã cho thấy trên những bệnh nhân
động kinh trẻ tuổi nhóm bệnh nhân cải thiện được cơn trên lâm sàng nhờ điều
trị tỷ lệ rối loạn nhận thức chỉ bằng 1/3 so với nhóm động kinh không kiểm
soát được cơn và mức độ về rối loạn nhận thức cũng ở mức độ nhẹ hơn [].
Sự khác biệt về tuần suất cơn và tỷ lệ rối loạn nhận thức được (Geddes et
al., 1999) giải thích rằng có mối liên quan chấn thương đầu tái diễn ở người
trẻ tuổi khi lên cơn nhiều lần thường kéo theo kèm theo trạng thái phức tạp về
tổn thương nóo. Khụng ngạc nhiên, khi sự cải thiện tần suất lên cơn có liên
quan đến việc cải thiện chức năng nhận thức (Seidenberg et al., 1981.
Carl B. Dodrill 1996 đã nghiên cứu trên một nhóm 94 bệnh nhân đang
điều trị động kinh toàn thể cơn lớn kết quả cho thấy có sự khác nhau rỏ rệt về
nguy cơ rối loạn nhận thức theo tần suất cơn, thời gian mắc, bệnh đáp ứng
điều trị
Stefan H, Pauli E. Trong bệnh động kinh mãn tính - cả hai triệu chứng và
nonsymptomatic - rối loạn chức năng nhận thức đến trước sự khởi đầu của
cơn động kinh. Rối loạn nhận thức nổi lên với sự tổn thương tiềm ẩn
23
CHƯƠNG II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
)1(
d
pp
Zn
−
=
−
α
Trong đó:
n: là cỡ mẫu tối thiểu cần có
Z
2
1-
α
/2
: 1,96 (trị số lấy từ phân phối chuẩn)
a: là xác suất sai lầm loại 1
d: là sai số cho phép là 0,1
p: tỷ lệ bệnh nhân động kinh có rối loạn nhận thức trong y văn là 0,2.
Số lượng trường hợp bệnh được chọn là : 61 trường hợp bệnh (theo
kết quả tính cỡ mẫu của phần mềm STATA 8.0).
2.2.3. Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu các đối tượng sẽ được tiến hành thông qua các
giai đoạn sau:
2.2.3.1. Đối với nhóm bệnh
Giai đoạn 1: Chẩn đoỏn xác định động kinh toàn thể cơn lớn :
Chẩn đoán cơn động kinh: Căn cứ vào thăm khám lâm sàng phối hợp
với điện não đồ (trong đó lâm sàng là chủ yếu) .
Chẩn đoán động kinh : phải có từ hai cơn động kinh trở lên cách nhau
trên 24 giờ, không liên quan đến các tổn thương cấp tính, rối loạn chuyển hóa