MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu
Danh mục các đồ thị, hình vẽ
QUYẾT ĐỊNH VỀ VIỆC GIAO ĐỀ TÀI
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BIDV : Bank for Investment and Development of Vietnam
(Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam)
BIDV Đà Nẵng: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển – Chi nhánh Đà Nẵng
BQ : Bình quân
DN : Doanh nghiệp
VHDN : Văn hóa doanh nghiệp
KH : Kế hoạch
TH : Thực hiện
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu 5 năm 2006 – 2010 30
Bảng 2.2. Số liệu huy động vốn, tín dụng của 10 ngân hàng lớn trên địa bàn
TP Đà Nẵng năm 2008 – 31/12/2010 33
Bảng 2.3. Thị phần của 4 Ngân hàng TMNN trên địa bàn 34
Bảng 2.4. Hiệu quả hoạt động của 4 Ngân hàng TMNN trên địa bàn 35
Bảng 2.5. Các phong trào nghi lễ, nghi thức được tổ chức 39
Bảng 2.6. Mức độ hài lòng về triết lý quản lý và kinh doanh của Ngân hàng.43
Bảng 2.7. Mức độ hài lòng về Động lực của cá nhân và tổ chức 44
Bảng 2.8. Thái độ hài lòng đối với môi trường làm việc 45
Bảng 2.9. Thái độ sẵn sàng gắn bó với Ngân hàng lâu dài 45
triệu kết quả, bao gồm những bài viết liên quan, bài lý luận cho đến những ví
dụ điển hình. Có thể nhận thấy rằng văn hóa doanh nghiệp đang là đề tài rất
được quan tâm, nhất là vào thời điểm kinh tế khó khăn như hiện nay, khi
doanh nghiệp phải cạnh tranh khốc liệt để giữ nhân tài hay huy động nguồn
vốn để duy trì, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh. E. Heriot từng nói:
“Cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị lãng quên – cái đó là văn hóa”.
Điều đó khẳng định rằng, văn hóa doanh nghiệp là một giá trị tinh thần và
hơn thế nữa, là một tài sản vô hình của doanh nghiệp.
Song song đó, việc xây dựng hình ảnh của doanh nghiệp cần được bắt
đầu từ bên trong, vì bên trong có chiều sâu thì những gì thể hiện ở bên ngoài
mới có tính chân thực. Nhân viên được xem như là khách hàng nội bộ và sự
hài lòng, ủng hộ của họ đối với doanh nghiệp là tiền đề cho sự ủng hộ từ bên
ngoài. Nhà quản trị cần xây dựng những giá trị cốt lõi dựa trên lợi ích chung
giữa ông chủ, nhân viên và khách hàng. Những giá trị cốt lõi đó trước tiên cần
được quán triệt từ những vị trí cao nhất trong doanh nghiệp và sau đó lan tỏa
dần đến các nhân viên. Nếu kiên trì với cách làm này thì giá trị cốt lõi sẽ từng
bước được nâng lên thành chuẩn mực mang tính bất khả xâm phạm, tạo ra sự
cống hiến hết mình của nhân viên.
Qua đó, tiềm năng của doanh nghiệp sẽ được đánh thức bằng chính
niềm tự hào trong quá trình làm việc và mỗi nhân viên sẽ trở thành sứ giả cho
việc quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, những thương
2
hiệu thành công thường không tuyên bố theo kiểu “bán những sản phẩm hay
dịch vụ chất lượng cao” mà họ sẽ bán cái "giá trị văn hoá kết tinh trong sản
phẩm đó”. Những công ty tồn tại hàng trăm năm luôn đặt văn hóa doanh
nghiệp là "sản phẩm hàng đầu” mà họ theo đuổi, còn sản phẩm mà doanh
nghiệp bán ra là "sản phẩm thứ hai". Hay nói cách khác, nếu xây dựng thương
hiệu là mở tài khoản tình cảm thật sự trong tim của khách hàng thì xây dựng
văn hoá doanh nghiệp là nền tảng bền vững cho sự phát triển thương hiệu.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Đà Nẵng (BIDV Đà Nẵng)
chứng minh bằng điều tra, khảo sát).
- Trên cơ sở đó sẽ tiến hành xây dựng, Xây dựng và phát triển văn hóa
doanh nghiệp sao cho phù hợp với hoàn cảnh và mang đậm “dấu ấn” BIDV
Đà Nẵng.
4. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Luận văn với đề tài “Xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp
tại BIDV Đà Nẵng” đã:
- Khái quát hóa được những nội dung trong văn hóa doanh nghiệp.
- Tổng hợp về tình hình thực tế văn hóa doanh nghiệp tại BIDV ĐN.
- Đề xuất một số nội dung nhằm duy trì, Xây dựng và phát triển văn
hóa doanh nghiệp tại BIDV Đà Nẵng.
5. NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại BIDV Đà Nẵng
Chương 3: Xây dựng và phát triển VHDN tại BIDV ĐN.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
1.1. KHÁI NIỆM VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm về văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác
nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Nghĩa ban đầu của văn hóa trong tiếng Hán là những nét xăm mình qua
đó người khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác, biểu
thị sự quy nhập vào thần linh và các lực lượng bí ẩn của thiên nhiên, chiếm
lĩnh quyền lực siêu nhiên
1
. Theo bộ Từ Hải (bản năm 1989) thì văn hóa vốn là
một cách biểu thị chung của hai khái niệm văn trị và giáo hóa
Văn hóa liên kết với sự tiến hóa sinh học của loài người và nó là sản
phẩm của người thông minh (homo sapiens). Trong quá trình phát triển, tác
động sinh học hay bản năng dần dần giảm bớt khi loài người đạt được trí
thông minh để định dạng môi trường tự nhiên cho chính mình. Đến lúc này,
bản tính con người không còn mang tính bản năng mà là văn hóa. Khả năng
sáng tạo của con người trong việc định hình thế giới hơn hẳn bất kỳ loài động
vật nào khác và chỉ có con người dựa vào văn hóa hơn là bản năng để đảm
bảo cho sự sống còn của chủng loài mình. Con người có khả năng hình thành
văn hóa và với tư cách là thành viên của một xã hội, con người tiếp thu văn
hóa, bảo tồn nó đồng thời truyền đạt nó từ thế hệ này sang thế hệ khác. Việc
cùng có chung một văn hóa giúp xác định nhóm người hay xã hội mà các cá
thể là thành viên.
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy,
văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn
ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các
phương tiện, v.v Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một
phần của văn hóa.
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa
phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Ngay từ năm 1952, hai
nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống
kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng
thế giới
5
. Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân
tộc học, nhân loại học (theo cách gọi của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo
4
Macionis, trang 82
5
Lương Văn Kế, trang 313
6
dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập
quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống
9
.
- Các định nghĩa chuẩn mực: nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị,
chẳng hạn William Isaac Thomas (1863 - 1947), nhà xã hội học người Mỹ coi
6
Lương Văn Kế, trang 322
7
Phạm Khiêm Ích, tập I, trang 7-17
8
Edward B. Tylor, Văn hóa học
9
Lý thuyết văn hóa những năm 1920
7
văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết
chế, tập tục, phản ứng cư xử, )
10
.
- Các định nghĩa tâm lý học: nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với
môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người.
Một trong những cách định nghĩa như vậy của William Graham Sumner
(1840 - 1910), viện sỹ Mỹ, giáo sư Đại học Yale và Albert Galloway Keller,
học trò và cộng sự của ông là: Tổng thể những thích nghi của con người với
các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh Những sự
thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như
biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa
11
.
- Các định nghĩa cấu trúc: chú trọng khía cạnh tổ chức cấu trúc của văn
.
Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và
phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn
hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự
xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá
trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động
và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con
người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời
sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần
mà do con người tạo ra.
1.1.2. Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp
Mọi tổ chức đều có văn hóa và những giá trị độc đáo riêng của nó. Hầu
hết các tổ chức đều không tự ý thức là phải cố gắng để tạo ra một nền văn hóa
nhất định của mình. Văn hóa của một tổ chức thường được tạo ra một cách vô
thức, dựa trên những tiêu chuẩn của những người điều hành đứng đầu hay
những người sáng lập ra tổ chức đó.
Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên
trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các
giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của
doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành
viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích.
Văn hóa doanh nghiệp được xem là một nhận thức chỉ tồn tại trong một
tổ chức chứ không phải trong một cá nhân. Vì vậy, các cá nhân có những nền
tảng văn hóa, lối sống, nhận thức khác nhau, ở những vị trí làm việc khác
nhau trong một tổ chức, có khuynh hướng hiển thị văn hóa tổ chức đó theo
cùng một cách hoặc ít nhất có một mẫu số chung.
14
Tuyên bố chung của UNESCO về tính đa dạng văn hóa
9
Văn hóa doanh nghiệp có liên quan đến cách nhận thức và lối hành xử
hướng xung đột lẫn nhau thì văn hoá chính là yếu tố giúp mọi người hoà nhập
và thống nhất.
- Điều phối và kiểm soát: Văn hoá doanh nghiệp điều phối và kiểm
soát hành vi cá nhân bằng các câu chuyện, truyền thuyết; các chuẩn mực, thủ
tục, quy trình, quy tắc Khi phải ra một quyết định phức tạp, văn hoá doanh
nghiệp giúp ta thu hẹp phạm vi các lựa chọn phải xem xét.
- Tạo động lực làm việc: Văn hoá doanh nghiệp giúp nhân viên thấy rõ
mục tiêu, định hướng và bản chất công việc mình làm. Văn hoá doanh nghiệp
còn tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp giữa các nhân viên và một môi trường làm
việc thoải mái, lành mạnh. Văn hoá doanh nghiệp phù hợp giúp nhân viên có
cảm giác mình làm công việc có ý nghĩa hãnh diện vì là một thành viên của
doanh nghiệp. Điều này càng có ý nghĩa khi có tình trạng “chảy máu chất
xám”. Lương và thu nhập chỉ là một phần của động lực làm việc. Khi thu
nhập đạt đến một mức nào đó, người ta sẵn sàng đánh đổi chọn mức thu nhập
thấp hơn để được làm việc ở một môi trường hoà đồng, thoải mái, được đồng
nghiệp tôn trọng.
- Lợi thế cạnh tranh: Tổng hợp các yếu tố gắn kết, điều phối, kiểm soát,
tạo động lực làm tăng hiệu quả hoạt động và tạo sự khác biệt trên thị trường.
Hiệu quả và sự khác biệt sẽ giúp doanh nghiệp cạnh tranh tốt trên thị trường.
1.3. ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
Cũng như văn hoá nói chung, văn hoá doanh nghiệp có những đặc
trưng cụ thể riêng biệt. Trước hết, văn hoá doanh nghiệp là sản phẩm của
những người cùng làm trong một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu giá trị bền
vững. Nó xác lập một hệ thống các giá trị được mọi người làm trong doanh
nghiệp chia sẻ, chấp nhận, đề cao và ứng xử theo các giá trị đó. Văn hoá
doanh nghiệp còn góp phần tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và
được coi là truyền thống của riêng mỗi doanh nghiệp.
11
Để dễ hình dung, chúng ta có thể hiểu văn hóa của doanh nghiệp giống
như “cá tính” của doanh nghiệp đó. Ở mỗi cá nhân, cá tính giúp phân biệt
giá trị tạo nên tính ổn định của văn hoá.
1.4. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
Văn hóa doanh nghiệp được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau. Cấp dễ
thấy nhất đó là thực thể hữu hình như những đồ vật: báo cáo, sản phẩm, bàn
ghế, phim hoặc công nghệ: máy móc, thiết bị, nhà xưởng hoặc ngôn ngữ:
chuyện cười, truyền thuyết, khẩu hiệu hoặc các chuẩn mực hành vi: nghi
thức, lễ nghi, liên hoan hoặc các nguyên tắc, hệ thống, thủ tục, chương trình
Cấp thứ hai đó là các giá trị được thể hiện, Giá trị xác định những gì mình
nghĩ là phải làm, nó xác định những gì mình cho là đúng hay sai. Giá trị được
phân chia làm 2 loại. Loại thứ nhất là các giá trị tồn tại sẵn ngay trong doanh
nghiệp một cách khách quan và hình thành tự phát. Loại thứ hai là các giá trị
mà lãnh đạo mong muốn doanh nghiệp mình có và phải xây dựng từng bước
Cấp thứ ba là các ngầm định nền tảng. Đó là các niềm tin, nhận thức,
suy nghĩ và xúc cảm được coi là đương nhiên ăn sâu trong tiềm thức mỗi cá
nhân trong doanh nghiệp. Các ngầm định nền tảng này là nền tảng cho các giá
trị và hành động của mỗi thành viên.
Như vậy những giá trị, ngầm định nền tảng là khó thấy nhưng nó lại là
nền tảng cho mỗi hành động, đặc biệt là các ngầm định nền tảng. Vậy để xây
dựng được những giá trị, các ngầm định nền tảng phù hợp ta phải xác định
đâu là phương tiện để những tiềm năng, nền tảng đó trở thành những hành
động cụ thể. Các phương tiện thể hiện đó được chia thành 4 loại: phong cách
làm việc; quá trình ra quyết định; phong cách giao tiếp; cách đối xử với nhau.
Trên cơ sở đó, ta có thể phân cấu trúc của văn hóa doanh nghiệp gồm 5
lớp:
13
- Triết lý quản lý và kinh doanh: Đây là lớp trong cùng và quan trọng
nhất của VHDN, bao gồm những triết lý quản lý và kinh doanh cốt lõi nhất,
căn bản nhất. Đây là cơ sở xây dựng định hướng hoạt động của doanh nghiệp
và chi phối các quyết định quản lý; là niềm tin, là giá trị bền vững không thay
đổi bất chấp thời gian và ngoại cảnh. Vì vậy, điều kiện tiên quyết để quá trình
nhân, cán bộ quản lý cấp cao, các nhà lãnh đạo và quản lý các cấp khác
phải nhất thiết tham gia vào quá trình xây dựng văn hoá của tổ chức
mình.
1.5. KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA TRONG
DOANH NGHIỆP
Thực tế, văn hoá tồn tại khách quan và doanh nghiệp nào cũng có văn
hoá của riêng mình. Chỉ có điều văn hoá được thể hiện như thế nào và doanh
nghiệp đó có phát hiện ra những giá trị tốt để phát huy và những giá trị chưa
tốt để thay đổi hay không. Văn hóa doanh nghiệp bắt nguồn từ những gì nhỏ
nhất, cụ thể, không chung chung
Văn hóa doanh nghiệp có vô vàn hình thức biểu hiện, nhưng muốn xây
dựng văn hóa doanh nghiệp không phải thực hiện trong ngày một ngày hai, nó
có thể là một chặng đường kéo dài hàng thập kỷ. Việc xây dựng VHDN
không phải là một khẩu hiệu, nó phải được sự vun đắp của từng cá nhân trong
tổ chức doanh nghiệp đó, xây dựng văn hóa là chìa khóa để doanh nghiệp
được trường tồn. Có thể nói nôm na xây dựng văn hóa trong doanh nghiệp
bằng cách thức như sau:
XÂY DỰNG VHDN = THIẾT LẬP CHUẨN MỰC + TẠO THÓI QUEN
15
Tuy nhiên trên thực tế, việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp cần phải
trải qua những giai đoạn khác nhau. Có nhiều mô hình trong việc xây dựng
văn hóa doanh nghiệp được các nhà nghiên cứu đề xuất nhưng việc áp dụng
vào doanh nghiệp cần phải có tính thực tiễn cao. Hai tác giả Julie Heifetz &
Richard Hagberg đã đề xuất một mô hình 11 bước cụ thể như sau:
1. Tìm hiểu môi trường và các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược doanh
nghiệp trong tương lai. Xem xét có yếu tố nào làm thay đổi chiến lược doanh
nghiệp trong tương lai.
2. Xác định đâu là giá trị cốt lõi làm cơ sở cho thành công. Đây là bước
cơ bản nhất để xây dựng văn hoá doanh nghiệp. Các giá trị cốt lõi phải là các
giá trị không phai nhòa theo thời gian và là trái tim và linh hồn của doanh
8. Phổ biến nhu cầu thay đổi, kế hoạch hành động và động viên tinh
thần, tạo động lực cho sự thay đổi. Sự thay đổi sẽ ảnh hưởng đến đời sống
nhân viên. Họ cần được biết sự thay đổi đó đem lại điều tốt đẹp cho họ. Sự
động viên, khuyến khích sẽ dễ dàng hơn khi mọi người được biết vai trò của
mình là đóng góp và xây dựng tương lai doanh nghiệp.
9. Nhận biết các trở ngại và nguyên nhân từ chối thay đổi và xây dựng
các chiến lược để đối phó. Lôi kéo mọi người ra khỏi vùng thoải mái của
mình là một công việc rất khó. Vì vậy người lãnh đạo phải khuyến khích,
động viên và chỉ cho nhân viên thấy lợi ích của họ tăng lên trong quá trình
thay đổi.
10. Thể chế hóa, mô hình hóa và củng cố sự thay đổi văn hóa. Các hành
vi, quyết định của lãnh đạo phải thể hiện là mẫu hình cho nhân viên noi theo
và phù hợp với mô hình văn hoá đã xây dựng. Trong giai đoạn các hành vi
17
theo mẫu hình lý tưởng cần được khuyến khích, động viên. Hệ thống khen
thưởng phải được thiết kế phù hợp với mô hình xây dựng văn hoá doanh nghiệp.
11. Tiếp tục đánh giá văn hóa doanh nghiệp và thiết lập các chuẩn mực
mới về không ngừng học tập và thay đổi. Văn hoá không phải là bất biến vì
vậy khi ta đã xây dựng được một văn hoá phù hợp thì việc quan trọng là liên
tục đánh giá và duy trì các giá trị tốt. Truyền bá những giá trị đó cho nhân
viên mới.
Tóm lại, xây dựng văn hoá doanh nghiệp là một quá trình tổng thể chứ
không phải chỉ là việc đưa một giá trị một cách đơn lẻ rời rạc; hay nói cách
khác, xây dựng văn hoá doanh nghiệp không đơn thuần là liệt kê ra các giá trị
mình mong muốn mà đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các thành viên, và cần có sự
khởi xướng, cổ vũ, động viên của lãnh đạo.
1.6. VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TRONG CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.6.1. Đặc điểm chung về hoạt động của các ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM) là doanh nghiệp kinh doanh tiền
1.6.2. Văn hóa doanh nghiệp trong các ngân hàng thương mại hiện nay
Tuỳ theo mô hình quản lý của từng ngân hàng nhưng nhìn chung bộ
phận ngân hàng thường gồm hai thành phần gọi “nôm na” là “Tiền -
Hậu” (Front – Back). Khi khách hàng đến giao dịch thì trực tiếp tiếp
xúc với bộ phận giao dịch khách hàng (giao dịch viên, cán bộ quan hệ
khách hàng… ), là “mặt tiền” của ngân hàng, còn những thành phần
khác như kế toán nội bộ, quản trị tín dụng, kiểm soát nội bộ… thì hầu
như không tiếp xúc với khách hàng, là phần ‘hậu”, xử lý các công việc
nội bộ của ngân hàng. Do đó, trong tâm thức khách hàng, văn hóa
doanh nghiệp của ngân hàng thường gắn liền phong cách làm việc của
bộ phận giao dịch, hay nói cách khác, đó chính là “bộ mặt” của ngân
hàng.
19
Bên cạnh đó, hoạt động hiện nay của các ngân hàng đang có sự cạnh
tranh gay gắt. Do đó, để thu hút khách hàng, bên cạnh việc nâng cao
chất lượng tiện ích của sản phẩm dịch vụ, một lời giải quan trọng trong
bài toán cạnh tranh chính là việc sử dụng cẩm nang văn hóa kinh
doanh, trong đó có phong cách giao dịch của nhân viên ngân hàng. Qua
giao tiếp với khách hàng, hình ảnh nhân viên ngân hàng phản ánh hình
ảnh của ngân hàng. Một sự không thỏa mãn của khách hàng sẽ ảnh
hưởng tới uy tín của ngân hàng và ngược lại hình ảnh đẹp về một ngân
hàng sẽ được thừa nhận và truyền bá nếu nhân viên giao dịch làm hài
lòng khách hàng.
Do đó, trong lộ trình hội nhập quốc tế, cùng với việc chạy đua về khoa
học, công nghệ, dịch vụ ngân hàng thì văn hóa doanh nghiệp sẽ được xem là
một tài sản vô hình để mỗi ngân hàng hoàn chỉnh, nâng cao thương hiệu của
mình. Thuật ngữ "văn hóa doanh nghiệp" được nhắc đến nhiều, được đề cập,
vận dụng ở các ngân hàng, doanh nghiệp. Tầm quan trọng của nó được tất cả
thừa nhận, tuy nhiên việc xây dựng và thực hiện sao cho có hiệu quả lại là
một vấn đề không đơn giản.
thành một yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của ngân hàng.
Hiện nay đã và đang có sự chuyển dịch về nhân sự từ các NHTM trong
nước theo hướng từ các NHTM nhà nước sang các NHTM cổ phần và
có thể sẽ là các NHTM nước ngoài. Bên cạnh việc nâng cao mức thu
nhập, NHTM hay doanh nghiệp nói chung cần xây dựng những hình
ảnh, bản sắc riêng mang tính truyền thống, để từ đó có thể thu hút được
sự quan tâm, hấp dẫn người mới, người có tài đến đầu quân và những
người hiện đang làm việc có thể tin tưởng gắn bó lâu dài. Thực tế đã
chứng minh, có những người chấp nhận rời bỏ nơi làm việc có thu nhập
cao nhưng không phù hợp để được làm việc ở nơi phù hợp hơn dù thu
21
nhập có ít đi. Ðiều đó cho thấy một khi cuộc sống đã khá lên, thì vấn đề
"cơm, áo, gạo, tiền" không còn là áp lực duy nhất để người ta chọn chỗ
làm, nhất là đối với những người có thâm niên và trình độ cao. Cái mà
họ còn cần chính là một môi trường làm việc, mà ở đó với cơ chế tuyển
chọn công minh, mọi người được sắp xếp, giao phó những công việc
phù hợp với khả năng ngành nghề đã được học tập nghiên cứu để tài
năng của họ có điều kiện phát huy và được nhìn nhận một cách đúng
đắn. Do đó, bất kỳ ngân hàng nào muốn tạo dựng được lòng tin trong
mắt khách hàng, cũng như muốn giữ cho mình những nhân viên giỏi,
quản lý rủi ro thật hiệu quả thì nhất thiết phải tạo lập được một nền văn
hóa doanh nghiệp thật tốt.
Tóm lại, kinh doanh nói chung và hoạt động kinh doanh ngân hàng nói
riêng rất cần đến văn hóa ứng xử để thành công. Và văn hóa doanh
nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển bền vững ở từng ngân hàng khi
từng cán bộ nhân viên ngân hàng thấu hiểu được bản chất của nó, còn
nhà quản trị ngân hàng cụ thể hóa thành các chuẩn mực, đồng thời có
các biện pháp giáo dục, đào tạo và khuyến khích mọi người thực hiện
một cách nghiêm túc, tự giác. Văn hóa doanh nghiệp là yếu tố cơ bản
bảo đảm cho sự phát triển bền vững của mỗi ngân hàng, liên kết các