8
Tuy nhiên cơ sở cho việc phát huy tính năng động chủ quan của ý thức là
việc thừa nhận và tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các quy luật tự nhiên
và x• hội. Nếu như thế giới vật chất – với những thuộc tính và quy luật vốn có của
nó – tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người thì trong nhận thức
và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực thể khách quan
làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình. Chính vì vậy, Lênin đ• nhiều lần nhấn
mạnh rằng, không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được
lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược cách mạng. Nếu chỉ
xuất phát từ ý muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay
cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.
Không chỉ có thế, khi vai trò chỉ đạo của ý thức phạm sai lầm thì tinh thần,
dũng cảm, lòng nhiệt tình, chí quyết tâm cũng làm cho hoạt động thực tiễn thất bại
một cách nhanh chóng.
Qua những điều vừa trình bày ở trên về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức
của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chúng ta có thể rút ra một ý nghĩa hết sức quan
trọng trong hoạt động thực tiễn của con người như sau: Mọi hoạt động của con
người ( cả hoạt động nhận thức lẫn hoạt động thực tiễn) đều phải xuất phát từ thực
tế khách quan, phát huy được tính năng động sáng tạo của ý thức, tư tưởng, của
nhân tố chủ quan của con người và đồng thời chống chủ quan duy ý chí.
2. Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức
vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa x• hội ở nước ta hiện nay
9
2.1. Xuất phát từ thực tế khách quan từ đó đề ra đường lối, chủ trương, chính sách,
kế hoạch, phương hướng, mục tiêu…đúng đắn cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa x•
hội ở nước ta hiện nay.
Chúng ta khẳng định: Chủ nghĩa x• hội nhất định sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản như
thành tựu mới về khoa học và công nghệ, bảo đảm cho khoa học và công nghệ thật
sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực chủ yếu trong phát triển kinh
tế – x• hội, khắc phục nguy cơ tụt hậu về khoa học và công nghệ. Trong thời đại
cách mạng thông tin hiện nay, chúng ta không có sự lựa chọn nào khác
là phải tiếp cận nhanh chóng với tri thức và công nghệ mới của thời đại để từng
bước phát triển kinh tế trí thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần
của người Việt Nam, coi phát triển giáo dục và đào tạo là nền tảng và động lực của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bởi nhân tố con người đóng vai trò hết
sức quan trọng trong sự phát triển lực lượng sản xuất.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đ• khẳng định: Con đường đi lên
của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa x• hội bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập hệ thống chính trị của quan hệ sản xuất và kiến
trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà mà
nhân loại đ• đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là về khoa học và công
nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại. Xây
11
dựng chủ nghĩa x• hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của
x• hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp cho nên phải trải
qua một thời kì quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh
tế, x• hội có tính chất quá độ. Trong các lĩnh vực của đời sống x• hội diễn ra sự đan
xen và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ.
Khi khẳng định: chúng ta phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đ• đạt
được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là, chúng ta lựa chọn, sử dụng những thành
tựu có lợi cho quá trình xây dựng chủ nghĩa x• hội. Trên phương diện này cần phải
xem chủ nghĩa tư bản không chỉ là một đối trọng mà quan trọng hơn đồng thời là
một đối tác.
Đây là một vấn đề rất quan trọng đối với nước ta đi lên chủ nghĩa x• hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa. Muốn chủ nghĩa x• hội thành công thì không thể không sử
cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Kinh tế thị trường
có định hướng x• hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước. Nhà nước ta là nhà
nước x• hội chủ nghĩa, quản lý nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật, chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh
tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng
13
sức sản xuất, phát huy được mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ
chế thị trường, bảo vệ lợi ích của người lao động, của toàn thể nhân dân.
Muốn đảm bảo cho nền kinh tế thị trường có điều kiện tồn tại và phát triển, chúng ta
phải thừa nhận sự tồn tại một cách tất nhiên và khách quan của các quy luật: quy
luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh… trong nền kinh tế. Vì nó là
cái khách quan nên chúng ta phải chú ý không nên đi ngược lại nếu không thì chẳng
bao giờ có thể xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng x• hội chủ nghĩa.
Nhưng bên cạnh những mặt tích cực của nền kinh tế thị trường là: phát triển nhanh
lực lượng sản xuất, nâng cao mức sống, mức thu nhập của người lao động lên thì
mặt trái của nó trong một vài năm trở lại đây đang được phát huy một cách mạnh
mẽ, sự chênh lệch thu nhập dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo trong lao động, tệ nạn
quan liêu, tham nhũng, suy thoái phẩm chất đạo đức của một số cán bộ, công chức
nhà nước…
Trước thực tế đó, Đảng và nhà nước cần có những biện pháp phân phối hợp lý,
không chỉ có phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế mà còn phân phối
theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông
qua phúc lợi x• hội. Ngoài ra chúng ta cần có những biện pháp khuyến khích làm
giàu một cách chính đáng. Đối với thu nhập, nhà nước cần có cơ sở điều tiết thu
nhập (thuế thu nhập), cải cách cơ bản chế độ tiền lương. Đối với người nghèo và có
hoàn cảnh khó khăn cần có chính sách x• hội hợp lý: bàn cách làm giàu… mặt khác
cần kiên quyết chống những thu nhập bất chính.
Đáng sợ hơn đó là tệ nạn quan liêu, tham nhũng, suy thoái phẩm chất đạo đức của