BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
[\ TRẦN THỊ OANH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KIẾN THỨC,
THỰC HÀNH Y HỌC CỔ TRUYỀN CỦA CÁN BỘ
Y TẾ CÔNG LẬP TỈNH HƯNG YÊN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. ĐỖ THỊ PHƯƠNG HÀ NỘI – 2011
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa học và luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn:
- Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học - Trường Đại học Y Hà Nội.
- Ban Giám đốc Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương.
- Ban giám hiệu Trường Đại học Y Vinh.
Đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn:
- PGS.TS. Đỗ Thị Phương - người thầy đã luôn tận tình chỉ bảo, truyền
đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho em trong quá trình học tập,
đồng thời trực tiếp hướng dẫn để em hoàn thành luận văn và có được
kết quả như ngày hôm nay.
- PGS.TS. Phạm Văn Trịnh, PGS.TS. Phạm Vũ Khánh, PGS.TS. Chu
Văn Thăng, PGS.TS. Nguyễn Văn Toại, PGS.TS. Lê Thị Hiền - là
những người Thầy trong Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã đóng
góp nhiều ý kiến quý báu để em hoàn thành luận văn.
CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ CƯƠNG BS : Bác sỹ
BSCK : Bác sỹ chuyên khoa
BSCKI : Bác sỹ chuyên khoa 1
BSCKII : Bác sỹ chuyên khoa 2
1.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về YHCT của cán bộ
YHCT 22
1.4. Khái quát vài nét về mạng lưới YHCT tại các cơ sở y tế công lập tỉnh
Hưng Yên 23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1. Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
2.2. Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 27
2.2.2. Các biến số nghiên cứu 27
2.2.3. Phương pháp thu thập thông tin 28
2.2.4. Công cụ thu thập thông tin 28
2.2.5. Phân loại và đánh giá mức độ kiến thức và thực hành về Y học cổ
truyền của các cán bộ YHCT. 29
2.2.6. Xử lý số liệu 32
2.2.7. Khống chế sai số 32
2
2.3. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu 33
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1. Mô tả hiện trạng nguồn nhân lực cán bộ YHCT tại các cơ sở YHCT
công lập 34
3.2.Thực trạng kiến thức và thực hành về YHCT của các cán bộ chuyên
ngành YHCT 39
Bảng 3.9. Liên quan giữa tuổi, giới với kiến thức YHCT 41
Bảng 3.10. Liên quan giữa thâm niên công tác, nơi đào tạo và có tham gia
hành nghề y tế tư nhân của CBYT với kiến thức YHCT 42
Bảng 3.11. Liên quan giữa tập huấn và tự đọc tài liệu của CBYT với kiến
thức YHCT 43
Bảng 3.12. Liên quan giữa tuyến cơ sở y tế (CSCK và CSĐK) với kiến thức
YHCT của CBYT 44
Bảng 3.13. Liên quan giữa tuyến công tác(tuyến tỉnh và tuyến huyện) với kiến
thức YHCT của CBYT 44
Bảng 3.14. Phân loại mức độ kỹ năng kê đơn 45
Bảng 3.15. Phân loại mức độ kỹ năng châm cứu 45
Bảng 3.16. Phân loại mức độ kỹ năng xoa bóp 46
Bảng 3.17. Phân loại thực hành theo điểm TB về kỹ năng kê đơn, xoa bóp và châm
cứu của các cán bộ YHCT tỉnh Hưng Yên theo tuyến công tác 46
Bảng 3.18. Liên quan giữa tuổi, giới của CBYT với thực hành YHCT 47
4
Bảng 3.19. Liên quan giữa thâm niên công tác, nơi đào tạo và việc có hành
nghề y tế tư nhân của CBYT với thực hành YHCT 47
Bảng 3.20. Liên quan giữa tập huấn và tự đọc tài liệu của CBYT với thực
hành YHCT 48
Bảng 3.21. Liên quan giữa tuyến cơ sở (CSCK và CSĐK) với thực hành
những giải pháp và chính sách cụ thể mà ngành y tế cần đạt được đến năm
2010. Trong đó có mục tiêu củng cố và hoàn thiện hệ thống khám chữa bệnh
bằng YHCT, đề ra các chỉ tiêu khám chữa bệnh và sử dụng thuốc YHCT ở
các tuyến y tế [4],[5],[6].
Để có thể triển khai thực hiện các chính sách một cách phù hợp và hiệu
quả, trong hoàn cảnh cộng đồng có nhiều biến đổi về mọi mặt văn hóa, kinh
tế, chính trị, nhận thức. Các cuộc điều tra về thực trạng nền y tế hiện nay
trong đó điều tra về thực trạng nhân lực và sử dụng YHCT đã và đang được
thực hiện.
Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, với diện
tích 9230.45 km
2
dân số 1167134 người (niên giám 2008). Là một tỉnh đang
trong quá trình phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội, trong những năm qua
ngành y tế Hưng Yên đã có những bước phát triển lớn về chất lượng khám
chữa bệnh, đặc biệt là công tác khám chữa bệnh YHCT. Chủ trương của
7
ngành y tế Hưng Yên trong giai đoạn tới là tăng cường cải thiện chất lượng
cung cấp dịch vụ y tế nói chung và YHCT nói riêng.
Để góp phần thực hiện tốt chủ trương trên, công tác đào tạo tăng cường
năng lực khám chữa bệnh của đội ngũ cán bộ y tế trực tiếp tham gia khám
chữa bệnh bằng YHCT là có vai trò rất quan trọng và được ngành YHCT
địa phương xác định như một ưu tiên trong kế hoạch của ngành giai đoạn
2010-2015. Trong năm 2010- 2011 Sở y tế và Bệnh viện YHCT tỉnh Hưng
Yên đã tiến hành lập một kế hoạch tổng thể đào tạo nâng cao năng lực cán
bộ YHCT của toàn tỉnh.
Nhằm hổ trợ cho việc lập kế hoạch đào tạo nêu trên một cách phù hợp và
hiệu quả, cần thiết có một nghiên cứu đánh giá về thực trạng kiến thức, thực
hành về YHCT của đội ngũ cán bộ hiện đang tham gia cung cấp dịch vụ YHCT
CSSKBĐ. Đội ngũ cán bộ YHCT có ảnh hưởng rất lớn đến sử dụng YHCT.
Họ đóng vai trò là người cung cấp dịch vụ về YHCT và tạo niềm tin cho
người dân khi lựa chọn YHCT [50].
Thách thức lớn nhất của YHCT là thiếu mạng lưới các thầy thuốc YHCT,
sự kiểm soát chất lượng và hiệu quả của thuốc cổ truyền. Do vậy cần phải
tăng cường phát triền YHCT, đào tạo và cấp chứng chỉ hành nghề cho các
thầy thuốc YHCT, bảo vệ, duy trì kiến thức YHCT là nguồn dược liệu thiên
nhiên. Đây chính là những yếu tố cần thiết để duy trì sự cung cấp dịch vụ
YHCT [59].
9
Việc hành nghề và sử dụng YHCT tại các nước chắc chắn đóng vai trò
quan trọng và đáng kể trong nhu cầu CSSKBĐ và cải thiện tình trạng kinh tế
xã hội của mỗi quốc gia. Vì vậy TCYTTG khuyến khích tất cả các nước thành
viên hỗ trợ về YHCT và công tác đánh giá thường xuyên, xây dựng chính
sách quốc gia và phương pháp tiếp cận cơ cấu thích hợp đối với việc hành
nghề và sử dụng thuốc YHCT được tốt nhất, phù hợp với hệ thống CSSK đặc
thù của mỗi quốc gia cho lợi ích y tế, tiến bộ kinh tế xã hội và tầm quan trọng
thương mại phù hợp với mục tiêu của từng quốc gia [59].
Ở Brunei: Với việc xây dụng tầm nhìn chiến lược y tế đến năm 2035 và
cùng hướng tới một quốc gia khỏe mạnh. Brunei là một nước có đội ngũ cán
bộ được đào tạo từ các nước Trung quốc, Malaysia và Singapore và họ làm
việc tại các trung tâm y tế, trạm xá hay khám bệnh tại nhà. Phần lớn các hoạt
động của đội ngũ cán bộ y tế về YHCT tập trung vào các dịch vụ mát xa,
xông hơi, chăm sóc sắc đẹp [11].
Ở Campuchia: YHCT Khmer ra đời từ lâu trước khi thuốc tây có nguồn
gốc ở Châu Âu phát triển và lan rộng với sự ra đời của khoa học hiện đại và
công nghệ. Năm 1998, một văn bản quy phạm pháp luật dưới Nghị định về
Chính sách thuốc Quốc gia đã được thông qua và nói rằng YHCT cần được
đẩy mạnh, đặc biệt trong CSSKBĐ, thông qua đào tạo, nghiên cứu khoa học
đến việc nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc thẩm định chương trình
đào tạo ở cơ quan thẩm định chuyên môn Malaysia. Mỗi chương trình đào tạo
tập trung cho cử nhân phải đủ ít nhất 120 giờ học tín chỉ, và 90 tín chỉ đối với
đào tạo tập trung cho văn bằng. Tỷ lệ lý thuyết và thực hành cũng khác nhau
giữa các chương trình. Theo đó ở trình độ cử nhân, lý thuyết chiếm 40%, thực
hành chiếm 60% trong khi ở trình độ văn bằng, lý thuyết chiếm 30%, thực
hành 70%. Nhiều cơ sở đào tạo có trình độ đại học ở các địa phương khác
nhau cũng tiến hành đào tạo cán bộ YHCT đạt chất lượng cao [11].
11
Myanmar: Năm 1976, Viện Y học cổ truyền Myanmar được thành lập với
mục đích đào tạo các học viên có trình độ YHHĐ và YHCT. Hằng năm, số
lượng học viên của học viện khoảng 100 người. Đến năm 2001 Trường đại
học Y cổ truyền được thành lập với số lượng sinh viên hằng năm của trường
là 125 người. Nhằm thúc đẩy sự phát triển của Y học cổ truyền ở Myanmar,
các hội nghị cho các bác sỹ YHCT đã được tổ chức hằng năm. Các bác sỹ
YHCT từ các khu vực khác nhau trên cả nước thu nhập và trao đổi kiến thức
của mình tại hội nghị, các chính sách mới và mục tiêu được đề xuất, thảo luận
và cũng nhắc lại sự thống nhất của các bác sỹ về việc giữ gìn và tuyên truyền
YHCT Myanmar [11].
Singapore: Ở Singapore mặc dù y học phương Tây được công nhận như là
hình thức chính của nền y học ở đây, nhưng YHCT vẫn chiếm được tính phổ
biến đáng kể. Trước năm 1996, công tác đào tạo YHCT đã không được chuẩn
hóa và một số trường đào tạo về YHCT địa phương thực hiện chương trình
đào tạo không tập trung trong thời gian 3, 4 hay 5 năm theo các tiêu chuẩn
khác nhau. Từ năm 2006 các trường đào tạo YHCT ở nhiều địa phương cũng
đã liên kết với các trường đại học YHCT ở Trung Quốc đào tạo cấp bằng đại
học và sau đại học về YHCT. Bộ Y tế nước này đã làm việc với cộng đồng
địa phương cùng với Đại học y dược học Bắc Kinh tiến hành khóa học đào
tạo chính thức tại địa phương trong chiết xuất thảo dược. Để chuẩn bị cho
Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc CSSK cho
nhân dân đặc biệt là CSSKBĐ tại cộng đồng. Đội ngũ cán bộ làm tư vấn được
phân bố khắp nơi và được đào tạo qua các lớp, các khóa học với nội dung
chương trình phù hợp với nhiệm vụ đặt ra cho từng thời kỳ. Đội ngũ thầy
thuốc này đã đóng góp nhiều cho sự nghiệp CSSK tại cộng đồng [53].
13
Ở Châu Phi YHCT có vai trò lớn trong việc chăm sóc sức khỏe cho nhân
dân. Người dân ở đây được giáo dục, tuyên truyền chiếm từ 80-85% từ những
người cung cấp dịch vụ YHCT. Nguồn nhân lực YHCT chiếm tỷ lệ khá cao
so với nguồn nhân lực YHHĐ, cụ thể như sau:
Tỷ lệ cán bộ YHCT/dân số Tỷ lệ cán bộ YHHĐ/dân số
Zimbabwe 1: 600 1: 6250
Ghana 1: 200 1: 20000
Ugabda 1: 700 1: 25000
Tandania 1: 400 1: 33000
Mozambique 1: 200 1: 50000
Chính đội ngũ cán bộ YHCT khá đông đảo này đã góp phần tích cực
giúp cho sự cung cấp dịch vụ YHCT của các nước này mang tính sẵn có, gần
gũi và phổ cập hơn so với các dịch vụ YHHĐ [56], [60].
Một số nước khác thì vai trò của các lương y khá được coi trọng trong
mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế. Tại Ghana và Senegal đã triển khai các
chương trình đào tạo thí điểm các lương y về YHCT với nội dung truyền đạt
những kinh nghiệm đơn giản, phổ thông để phòng và chữa bệnh phổ cập ở
cộng đồng [43]. Tại Philipin có các hội thảo được tổ chức cho các lương y và
những người hành nghề YHCT để chia sẻ kinh nghiệm trong sử dụng YHCT
để CSSK. Đồng thời chính các lương y này cũng đóng góp các ý kiến trong
việc soạn thảo và chế bản các tài liệu YHCT dùng trong truyền thông giáo
dục sức khỏe cho người dân sau này [57].
Trong chiến lược phát triển YHCT năm 2002-2005, Tổ chức y tế thế giới
15
Vào thời nhà Trần (1225-1399), Nho giáo phát triển mạnh, chống mê tín
dị đoan làm cho y học phát triển thêm một bước. Ở triều đình, Ty lương y đổi
thành Viện thái y. Năm 1362 triều đình đã tổ chức trồng, hái thuốc dùng cho
quân đội và nhân dân, đặc biệt là phát thuốc cho dân ở các vùng có dịch. Thời
kỳ này đã xuất hiện một số danh y nỗi tiếng và một số tác phẩm y học. Đó là
các đại danh y như Tuệ Tĩnh. Ông được nhân dân ta suy tôn là vị “Thánh
thuốc nam”. Vào thời kỳ mà đa số các nước Đông Nam Á đều chịu ảnh hưởng
sâu sắc của y dược học Trung quốc thì Tuệ Tĩnh đưa ra quan điểm “Nam
dược trị Nam nhân”. Đây là một quan điểm vừa mang tính khoa học, tính
nhân văn, nhân bản, vừa thể hiện được ý chí độc lập, tự chủ, lòng tự tôn dân
tộc và tiềm năng trí tuệ của người Việt Nam trong phòng và chữa bệnh. Tuệ
Tĩnh cho rằng con người Việt Nam sống trên đất nước Việt Nam phải chịu
ảnh hưởng của khí hậu, nước ăn, cây cỏ, động vật tại chỗ. Để cho dân dễ hiểu,
dễ nhớ các phương pháp chữa bệnh bằng thuốc nam, Tuệ Tĩnh đã soạn sách
bằng thơ phú để truyền bá YHCT [18], [39].
Dưới triều Lê Hữu Trác (1720-1791), là đại danh y của nước ta, ngoài
việc chữa bệnh tận tụy, tài giỏi, ông còn soạn “ Hải thượng Y tông Tâm lĩnh”
thể hiện một quan niệm y học chặt chẽ, nhất quán, được khái quát cao, đánh
dấu một bước phát triển lớn của sự nghiệp YHCT Việt Nam. Bộ sách gồm 28
tập, 66 quyển gồm 5 phần: lý luận cơ bản, bệnh học và phương tễ học, phần
bệnh án, phần dinh dưỡng vệ sinh, dưỡng sinh. Đây là tài liệu tương đối toàn
diện phản ánh trình độ y dược, đến cuối thế kỷ 18 của Việt Nam và được coi
là bách khoa toàn thư của YHCT Việt Nam [15].
Dưới triều Tây Sơn (1789-1802) Lương y Nguyễn Hoành soạn tập thuốc
Nam có trên 500 vị cây cỏ ở địa phương và 130 vị các loại động, khoáng vật
làm thuốc với công cụ đơn giản theo kinh nghiệm của dân gian.
16
bộ kết hợp Đông Tây y” [1], [2].
Năm 1957 Hội Đông Y và vụ YHCT được thành lập với mục đích đoàn
kết giới lương y và những người hành nghề y dược Đông y và Tây y. Đồng
thời phát huy các cơ sở YHCT, tạo điều kiện kết hợp YHCT và YHHĐ trong
phòng và chữa bệnh [34].
Đến năm 1978, có 33/44 tỉnh thành có bệnh viện YHCT, có 259 khoa
YHCT trong các bệnh viện đa khoa quân dân y chuyên trách việc kết hợp
YHCT và YHHĐ có 4000 nghìn cơ sở y tế. Các cơ quan, công nông trường
xí nghiệp, các trạm y tế xã dùng thuốc nam, châm cứu kết hợp YHCT và
YHHĐ trong phòng chữa bệnh, sản xuất thuốc men, phục vụ kịp thời nhân
dân trong vùng [45].
Từ năm 1978, các Trường Đại Học y dược Hà Nội và y dược Thành
Phố Hồ Chí Minh đã đào tạo cán bộ YHCT trên đại học. Ngoài ra còn có
những lớp bổ túc YHCT cho các bác sĩ, dược sĩ bên y dược học hiện đại, theo
chương trình dài hạn hay theo từng chuyên đề [26].
Tính đến tháng 12 năm 2005 cả nước ta đã có 54 viện và bệnh viện
YHCT. Trong đó có 2 bênh viện đầu ngành (Bệnh viện YHCT Trung ương,
bệnh viện Châm cứu trung ương), 2 bệnh viện ngành (Quân đội, công an), và
50 bệnh viện YHCT tỉnh và thành phố. Có 62/64 bệnh viện đa khoa tỉnh,
thành phố có khoa YHCT và trên 50% các bệnh viện đa khoa khu vực và các
bệnh viện huyện, thị có khoa hoặc bộ phận YHCT lồng ghép. Tuy nhiên hầu
hết các bệnh viện YHCT tỉnh, thành phố mới chỉ đạt bệnh viện hạng III với số
giường bệnh thấp, biên chế còn rất thiếu. Theo báo cáo của vụ YHCT, từ nay
đến năm 2010 ngành y tế nước ta thiếu gần 3000 bác sỹ YHCT [21], [43].
18
Nếu xét về mặt tổ chức hoạt động thì YHCT Việt Nam có một hệ thống tương
đối hoàn chỉnh nhưng chưa đủ mạnh để thực hiện các yêu cầu của đảng cũng
như nhu cầu của nhân dân [41], [42]. Do vậy vấn đề đáp ứng cán bộ làm
YHCT đủ năng lực đủ kiến thức và trình độ cho tất cả các tuyến y tế từ trung
đào tạo lại cho các thầy thuốc YHCT một cách phù hợp và hiệu quả với điều
kiện cụ thể của mỗi Quốc gia [57], [61]. Do vậy nhiều nước đã triển khai
những nghiên cứu riêng về đội ngũ cán bộ YHCT của mình (bao gồm loại
hình số lượng và trình độ chuyên môn). Kết quả của nghiên cứu sẽ giúp cho
việc xây dựng những định hướng, kế hoạch cũng như lựa chọn các biện pháp
kỹ thuật phù hợp để đào tạo phát triển nguồn nhân lực này một cách hiệu quả
cho ngành YHCT của quốc gia đó [55], [59].
Trung quốc và Ấn Độ thông qua thực hiện chủ trương trên đã triển khai
nhiều nghiên cứu về hiện trạng và nhu cầu của đội ngũ cán bộ YHCT tại đất
nước họ. Các kết quả nghiên cứu được áp dụng để thiết kế các chương trình
đào tạo nguồn cán bộ YHCT và đã đạt những thành công to lớn [58].
Ở Thái Lan, để tăng cường hoạt động YHCT nhất là ở tuyến cơ sở, bên
cạnh những điều tra, khảo sát và phát triển nguồn dược liệu, YHCT Thái Lan
đã triển khai nhiều nghiên cứu về kiến thức, thực hành YHCT của các thầy
thuốc cũng như mức độ và hiệu quả của việc ứng dụng kiến thức này trong hệ
thống dịch vụ y tế. Đồng thời những nghiên cứu về hệ thống YHCT cũng như
các vấn đề liên quan đến tổ chức và quản lý hệ thống này cũng được đặc biệt
quan tâm [52].
20
Một nghiên cứu phân tích về thực hành YHCT tại Thái Lan đã được tiến
hành tại các bệnh viện công lập tỉnh Nakhorn Pathom của Thái Lan năm
2001. Mục đích của nghiên cứu là đánh giá mức độ kiến thức, thực hành và
xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành sử dụng YHCT trong
các bệnh viện công [52].
Tại Việt Nam, một nghiên cứu về thực trạng YHCT trên toàn quốc đã
được tiến hành năm 1996. Kết quả khảo sát cho thấy có sự phân bố nhân lực
YHCT không đều từ trung ương đến địa phương, giữa khu vực y tế Nhà nước
(19,05%) và khu vực y tế tư nhân (80,9%), giữa YHCT và YHHĐ. Trong khu
vực y tế Nhà nước, khối bệnh viện YHCT chiếm 48,7% tổng số nhân lực