ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA HỌC
BÁO CÁO KẾT QUẢ
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: CỬ NHÂN QUẢN LÍ MÔI TRƯỜNG
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Thu Hồng
Sinh viên thực hiện : Lê Hồ Ngọc Hoa
Địa điểm thực tập : Phòng Tài nguyên và Môi trường
huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đề tài: Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp
Đà Nẵng – Năm 2013
SVTH: Lê Hồ Ngọc Hoa 2
Lớp: 09 CQM
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
LỜI CẢM ƠN 1
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HUYỆN ĐIỆN BÀN 3
1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 3
1.1.1 Vị trí địa lý 3
1.1.2. Diện tích 3
1.1.3. Khí hậu 3
1.1.4. Hệ thống thủy văn 4
1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 5
1.2.1. Đơn vị hành chính - dân số 5
1.3. Hiện trạng môi trường huyện Điện Bàn 6
1.4. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Điện Bàn 8
1.4.1. Chức năng và nhiệm vụ 8
CHƯƠNG 3. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐIỆN BÀN 19
3.1. Quy mô một số bệnh viện tuyến huyện và một số trạm y tế xã trên
địa bàn huyện Điện Bàn 19
3.1.2. Quy mô bệnh viện tuyến huyện trên địa bàn huyện Điện Bàn 19
3.1.3. Quy mô các trạm y tế, phòng khám chữa bệnh trên địa bàn huyện
21
3.2. Hiện trạng công tác quản lý chất rắn y tế tại huyện Điện Bàn 21
3.2.1. Hiện trạng và hệ thống quản lý chất thải rắn y tế tại các cơ sở
khám chữa bệnh trên địa bàn huyện 21
3.2.1.1. Nguồn nhân lực và trang thiết bị 21
3.2.1.2. Phân loại chất thải rắn y tế tại nguồn 22
3.2.1.3. Thu gom và vận chuyển rác thải tại các khoa trong bệnh viện 23
3.2.2. Hệ thống quản lý chất thải rắn y tế ngoài bệnh viện 25
3.2.2.1. Thu gom và vận chuyển chất thải rắn y tế 25
SVTH: Lê Hồ Ngọc Hoa ii
Lớp: 09 CQM
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
3.2.2.2. Quá trình xử lí chất thải rắn y tế 26
3.2.3. Những vấn đề bất cập chung trong công tác quản lý chất thải rắn y
tế tại địa bàn huyện hiện nay 27
CHƯƠNG 4. ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐIỆN BÀN 29
4.1. Mục đích của các giải pháp 29
4.2. Đề xuất mô hình tổ chức quản lý chất thải y tế cho các bệnh viện
trong khu vực huyện 29
4.3. Đề xuất các giải pháp cải thiện tình hình quản lý chất thải rắn y tế
hiện nay trên địa bàn huyện 31
4.3.1. Các giải pháp về nhận thức trong việc quản lý chất thải rắn bệnh
viện 31
Bệnh viện đa khoa khu vực Quảng Nam 23
Hình 3.7 – Rác thải được tập trung tại nhà chứa rác 24
Bệnh viện đa khoa Vĩnh Đức 24
Hình 3.8 – Công tác thu gom rác thải y tế do Công ty Môi trường đô thị
26
Quảng Nam thực hiện 26
Hình 4.1 – Sơ đồ đề xuất mô hình tổ chức quản lý chất thải rắn tại các
bệnh viện trên địa bàn huyện Điện Bàn 30
Hình 4.2 – Mô hình về chương trình sức khỏe của cộng đồng trong việc
thực hiện quá trình quản lý chất thải y tế 32
DANH MỤC BẢNG
SVTH: Lê Hồ Ngọc Hoa iv
Lớp: 09 CQM
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Bảng 3.1 – Các bệnh viện và cơ sở khám chữa bệnh có đăng ký với Công
ty môi trường và đô thị Quảng Nam 25
SVTH: Lê Hồ Ngọc Hoa v
Lớp: 09 CQM
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Qua ba năm học tập tại trường, dưới sự dạy bảo tận tâm của các thầy cô, em
đã được tiếp thu những phần lý thuyết cơ bản, nhưng đối với nhiệm vụ thực tế thì
còn rất mới mẻ chưa có kinh nghiệm, nên việc tìm hiểu tiếp xúc với thực tế để học
hỏi những kinh nghiệm, trang bị kiến thức về nghiệp vụ chuyên môn là điều rất cần
thiết. Do vậy, được sự chấp thuận của nhà trường, Ban lãnh đạo Phòng Tài Nguyên
– Môi trường huyện Điện Bàn em đã được đến Phòng tài nguyên để thực tập tốt
nghiệp cuối khóa.
Tuy thời gian thực tập ngắn nhưng các anh, chị ở Phòng đã dành nhiều thời
gian nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt cho em những kinh nghiệm thực tế, giúp em
nguy hiểm đối với môi trường và con người. Do đó, vấn đề quản lý và xử lý chất
thải rắn y tế tại các bệnh viện thuộc các tỉnh và huyện luôn là vấn đề quan tâm của
toàn xã hội. Chất thải rắn y tế là một trong những chất thải nguy hại vào bậc nhất,
việc quản lý và xử lý các loại chất thải này rất phức tạp và gặp nhiều khó khăn. Nếu
không có các biện pháp quản lý hợp lý, xử lý không tốt thì đây sẽ là nguồn lây lan
các mầm bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, gây ra những vấn đề ô
nhiễm môi trường một cách nghiêm trọng.
Từ thực tế trên, với mục đích “Tìm hiểu hiện trạng và đề xuất giải pháp
quản lý chất thải rắn y tế tại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” cũng như để có
thể hiểu rõ hơn những thông tin, số liệu về vấn đề quản lý chất thải rắn y tế trên địa
bàn huyện Điện Bàn hiện nay tôi đã chọn Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện
Điện Bàn làm nơi mình thực tập.
SVTH: Lê Hồ Ngọc Hoa 2
Lớp: 09 CQM
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HUYỆN ĐIỆN BÀN
1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Hình 1.1- Bản đồ hành chính huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Điện Bàn là một huyện đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, nằm về phía
bắc của tỉnh, cách thành phố Đà Nẵng 25 km về phía nam và cách thành phố Tam
Kỳ 45 km về phía bắc.
- Phía bắc: giáp thành phố Đà Nẵng.
- Phía nam: giáp huyện Duy Xuyên.
- Phía đông: giáp biển Đông và đông nam giáp thành phố Hội An.
- Phía tây: giáp huyện Đại Lộc.
1.1.2. Diện tích
Tổng diện tích 214,71 km
2
.
+ Các hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Nam, Tây Nam và Đông Bắc
* Gió mùa Đông Nam: Từ tháng 5 đến tháng 9
* Gió mùa Tây Nam: Từ tháng 4 đến tháng 7
* Gió mùa Đông Bắc: Từ tháng 10 đến tháng 12
+ Bão thường xuyên xảy ra vào tháng 9,10,11 kết hợp với các trận mưa lớn
gây lũ lụt làm ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt đời sống của nhân dân.
Nhìn chung, khí hậu ở Điện Bàn mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới
ẩm gió mùa với các đặc tính của khu vực ven biển. Sự biến thiên nhiệt độ
qua các tháng không lớn, chế độ nhiệt tương đối đồng đều. Đặc biệt là gió
thịnh hành nhất trong năm là gió mùa Đông Nam mang đến thời tiết mát mẻ.
Đối với tác động của gió mùa Tây Nam và Đông Bắc ít gây thiệt hại đến sản
xuất cây trồng.
Với nhiệt độ ấm áp, tổng tích ôn cao tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng
sinh trưởng và phát triển. Tuy nhiên, do chế độ mưa phân hoá theo mùa trong năm
không đồng đều gây khô hạn trong mùa khô và ngập lũ, xói lỡ trong mùa mưa.
1.1.4. Hệ thống thủy văn
Hệ thống thuỷ văn Điện Bàn chủ yếu là các con sông bắt nguồn từ hệ thống
sông Vu Gia và Thu Bồn là một trong các con sông chính của tỉnh. Các sông phân
bố tương đối đồng đều, dòng sông uốn khúc và nông. Mật độ phân bố trung bình
0,4 km/km
2
bao gồm sông chính là sông Thu Bồn và các sông: sông Yên, sông Vĩnh
Điện, sông Bà Rén, sông Bình Phước. Ngoài ra còn có các sông nhánh: sông Thanh
Quýt, sông Cổ Cò, sông Hà Sáu, sông Bình Long
SVTH: Lê Hồ Ngọc Hoa 4
Lớp: 09 CQM
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Sông Thu Bồn là con sông chính của tỉnh Quảng Nam là tuyến đường thuỷ
liên huyện quan trọng đối với vùng Tây và đồng bằng. Đoạn chảy qua huyện Điện
Bàn dài 27 km chảy qua các xã Điện Hồng, Điện Quang, Điện Trung, Điện Phong
giá trị sản xuất bình quân tăng cao. Trong cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng
tăng giá trị Công nghiệp - Xây dựng - Dịch vụ và giảm Nông – Lâm - Thuỷ sản;
đồng thời, trong nội bộ từng ngành cơ cấu cũng được chuyển dịch theo hướng sản
xuất hàng hoá.
Hệ thống cơ sở y tế huyện Điện Bàn tương đối hoàn chỉnh. Hiện tại có 2
bệnh viện và 20 trạm y tế ở các xã, thị trấn, ngoài ra còn có 55 cơ sở khám Tây y và
27 cơ sở khám Đông y, bảo đảm được yêu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân.
Công tác xã hội hoá y tế được đầu tư, đội ngũ cán bộ chuyên môn, quản lý được đào
SVTH: Lê Hồ Ngọc Hoa 5
Lớp: 09 CQM
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
tạo nâng cao. Công tác phòng chống bệnh, chống dịch được chủ động từ các địa
phương trên địa bàn huyện, được sự chỉ đạo chặt chẽ kịp thời và thường xuyên. Đến
nay, cơ sở vật chất được nâng cao tại bệnh viện cũng như tại các trạm y tế xã, thị
trấn. Nhìn chung, mạng lưới y tế của huyện thông suốt hoàn chỉnh từ huyện đến cơ
sở, bảo đảm nhu cầu khám, điều trị và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
Sự nghiệp giáo dục huyện Điện Bàn không ngừng được củng cố và phát triển
vững chắc, từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác dạy và học,
công tác xã hội hoá giáo dục được triển khai sâu rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật ngày
càng đảm bảo đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân.
Trên trên lĩnh vực văn hoá, thể thao đã có nhiều khởi sắc. Các hoạt động văn
hoá, văn nghệ, thể thao được duy trì và phát triển tương đối tốt, góp phần nâng cao
một bước chất lượng đời sống văn hoá của nhân dân. Công tác giáo dục, phát huy
truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng và truyền thống văn hoá được coi
trọng. Công tác quản lý văn hoá được phối hợp thường xuyên giữa các ngành và địa
phương, góp phần bảo đảm an ninh văn hoá, môi trường văn hoá lành mạnh.
Nói đến Điện Bàn cũng là nói đến vùng đất giàu truyền thống yêu nước và
cách mạng, nơi sản sinh ra nhiều anh hùng liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng
(VNAH) tiêu biểu của cả nước như: Nguyễn Văn Trỗi, Trần Thị Lý, Nguyễn Phan
Vinh, Võ Như Hưng, bà mẹ VNAH Nguyễn Thị Thứ (Điện Thắng) có 9 con liệt sĩ,
Hiện nay, Đội Môi trường Đô thị Điện Bàn (thuộc Công ty Môi trường Đô
thị Quảng Nam) đảm nhận việc thu gom rác trên địa bàn huyện. Tuy tiến hành thu
gom thường xuyên nhưng với tỷ lệ hộ dân tham gia hợp đồng thu gom rác quá ít
(5,87%), cự ly vận chuyển rác thải về bãi xử lý quá xa (60 km), huyện Điện Bàn lại
có mật độ dân số khá cao vì vậy sức ép giải quyết rác thải là rất lớn.
Việc thu gom rác thải hộ gia đình chủ yếu tập trung ở ven các tuyến Quốc lộ,
tỉnh lộ, khu dân cư và các chợ trung tâm tại các địa phương nên lượng thu gom rác
thải nói chung còn thấp, chưa đảm bảo yêu cầu đặt ra, tình trạng vứt rác thải và xác
súc vật chết bừa bãi vẫn còn tiếp diễn gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, đến sức
khoẻ của nhân dân và mất mỹ quan chung.
Đối với chất thải rắn y tế (không bao gồm chất thải rắn sinh hoạt trong các
cơ sở y tế) tuy khối lượng không lớn nhưng là loại chất thải nguy hại, việc thu gom
và xử lý phải theo quy định, quy trình riêng. Hiện tại chỉ có Bệnh viện Đa khoa Khu
vực Quảng Nam và Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Đức hợp đồng thu gom và vận
chuyển, xử lý riêng đối với loại chất thải này. Tuy nhiên, chất thải rắn y tế còn để
lẫn lộn với chất thải rắn sinh hoạt thông thường vì vậy nguy cơ lây nhiễm bệnh
trong thực tế khó tránh khỏi.
Đối với chất thải rắn công nghiệp: Doanh nghiệp trong khu công nghiệp
Điện Nam - Điện Ngọc tham gia hợp đồng thu gom bảo vệ môi trường với Công ty
Môi trường Đô thị Quảng Nam chiếm 78,13 %. Tính đến nay, đã có 47 doanh
nghiệp đăng ký và hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có 18 trong tổng số 29
doanh nghiệp đang sản xuất và cấp giấy phép môi trường. Doanh nghiệp trong các
SVTH: Lê Hồ Ngọc Hoa 7
Lớp: 09 CQM
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
cụm công nghiệp tham gia ký hợp đồng với Công ty Môi trường Đô thị Quảng Nam
chiếm 3,35% (số liệu này lấy theo biên bản làm việc với Cảnh sát môi trường tỉnh).
Trong đó, có 5/9 cụm công nghiệp chưa tham gia hợp đồng bảo vệ môi trường với
Công ty Môi trường Đô thị Quảng Nam.
1.4. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Điện Bàn
Lớp: 09 CQM
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Tổ chức đăng ký, xác nhận và kiểm tra thực hiện cam kết bảo vệ môi trường
và đề án bảo vệ môi trường trên địa bàn; lập báo cáo hiện trạng môi trường
theo định kỳ; quản lý lưu trữ dữ liệu về tài nguyên nước và môi trường trên
địa bàn; hướng dẫn UBND cấp xã quy định về hoạt động và tạo điều kiện để
tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường hoạt động có hiệu quả.
- Điều tra, thống kê, tổng hợp và phân loại giếng phải trám lấp; kiểm tra việc
thực hiện trình tự, thủ tục, yêu cầu kỹ thuật trong việc trám lấp giếng.
- Thực hiện kiểm tra và tham gia thanh tra, giải quyết các tranh chấp, khiếu
nại, tố cáo về lĩnh vực tài nguyên và môi trường theo phân công của UBND
huyện.
- Thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, thông tin về tài nguyên
và môi trường và các dịch vụ công trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường
theo quy định của pháp luật.
- Báo cáo định kỳ và đột xuất tình hình thực hiện nhiệm vụ về các lĩnh vực công
tác được giao cho UBND huyện và Sở Tài nguyên và Môi trường.
- Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức chuyên môn về tài
nguyên và môi trường cấp xã.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do UBND huyện và Sở Tài nguyên và Môi
trường giao.
1.4.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Điện
Bàn
- Lãnh đạo phòng Tài nguyên và Môi trường gồm có 01 Trưởng phòng và 03
Phó trưởng phòng, làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ thủ
trưởng.
- Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân, Chủ tịch ủy ban
nhân dân cấp huyện và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Phòng.
- Các Phó trưởng phòng giúp Trưởng phòng, chịu trách nhiệm trước Trưởng
phòng và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công.
huyện
Các phòng
ban khác
Phòng Tài nguyên
– Môi Trường
UBND
xã
Các cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ,…
Có mối liên
hệ trực tiếp
về quản lý
môi trường.
Phối hợp
trong công
tác bảo vệ
môi trường
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ VÀ HỆ THỐNG
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
2.1. Khái niệm về chất thải rắn y tế
Theo Quốc hội Mỹ
- Chất thải rắn được Quốc hội Mỹ định nghĩa là "một chất thải rắn hay kết hợp
các chất thải rắn, có số lượng, nồng độ, hay các đặc tính lý, hoá hay lây
nhiễm có thể gây ra hoặc góp phần đáng kể làm tăng khả năng tử vong, hay
làm tăng bệnh tật nghiêm trọng không có khả năng chữa nổi; gây nguy cơ
tiềm tàng và lớn đến sức khoẻ con người hay môi trường, khi được xử lý, lưu
giữ, chuyên chở, hay tiêu huỷ hoặc quản lý không đúng quy cách".
- Chất thải lây nhiễm, năm 1976, Quốc hội Mỹ đưa vào áp dụng từ "lây
nhiễm" để đặc trưng hoá loại chất thải nguy hiểm tiềm tàng. Cho đến 1988,
- Mô tế bào người hoặc động vật
- Xương
- Nội tạng
- Bào thai hoặc các bộ phận xủa cơ thể
- Bình, túi hoặc ống dẫn chứa các chất lỏng từ cơ thể
- Tất cả các vật dụng và vật chất khác bị loại bỏ trong khuôn khổ quá trình thăm
khám và điều trị chuyên khoa, trog thực tế nghiên cứu về răng miệng hoặc thú
y có nguy cơ tiềm tàng đối với sức khỏe của con người khi tiếp xúc với chúng.
Tính chất của các chất thải Y tế nguy hại là: rất độc, dễ ăn mòn, dễ cháy,
dễ nổ, gây độc tới gen, lây nhiễm (HIV/ASD, viêm gan,…)
2.2.2. Phân loại chất thải rắn y tế
Theo phân loại và xác định chất thải (Quy chế quản lý chất thải Y tế, Bộ Y
tế, 1999), đã phân thành 5 loại chất thải trong các cơ sở Y tế như sau: Chất thải lâm
sàng, Chất thải phóng xạ, Chất thải hóa học, Các bình chứa khí có áp suất, Chất thải
sinh hoạt.
a. Nhóm chất thải lâm sàng: được Bộ Y tế phân thành 5 nhóm loại chất thải, trong
đó:
- Nhóm A: tất cả các chất thải nhiễm khuẩn, bao gồm: những vật liệu thấm
máu, thấm dịch, các chất bài tiết của người như: bông, gạc, băng, dây truyền
máu, các ống thông, dây và túi dung dịch dẫn lưu,…
- Nhóm B: tất cả các vật sắc nhọn, bao gồm: bơm tiêm, kim tiêm, lưỡi và cán
dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thuỷ tinh vỡ và mọi vật liệu có
thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, cho dù chúng có thể bị nhiễm khuẩn
hoặc không nhiễm khuẩn.
- Nhóm C: là chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao, phát sinh từ các phòng xét
nghiệm, bao gồm găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi sinh
thiết/ xét nghiệm/nuôi cấy, túi đựng máu, v.v
- Nhóm D:là chất thải dược phẩm, bao gồm: dược phẩm quá hạn, dược phẩm
bị nhiễm khuẩn, dược phẩm bị đổ, dựoc phẩm không còn nhu cầu sử dụng;
thuốc gây độc tế bào.
và acetonitrile.
+ Oxit ethylene- oxit ethylene được sử dụng để tiệt khuẩn các thiết bị y tế,
phòng phẫu thuật nên được đóng thành bình và gắn với thiết bị tiệt khuẩn.
Loại khí này có thể gây ra nhiều độc tính và có thể gây ra ung thư ở
người.
+ Các chất hóa học hỗn hợp, bao gồm: các dung dịch làm sạch và khử
khuẩn, như phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh, v.v
SVTH: Lê Hồ Ngọc Hoa 13
Lớp: 09 CQM
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
d. Nhóm các bình chứa khí có áp suất: như bình đựng oxy, CO
2
, bình ga, bình khí
dung và các bình đựng khí dùng một lần. Các bình này dễ gây cháy, nổ khi thiêu đốt
vì vậy phải thu gom riêng.
e. Nhóm chất thải sinh hoạt: bao gồm các loại chất thải:
- Chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại, phát sinh từ các buồng bệnh,
phòng làm việc, hành lang, các bộ phận cung ứng, nhà kho, nhà giặt, nhà
ăn, bao gồm: giấy báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng cát tông, túi nilon,
túi đựng phim, vật liệu gói thực phẩm, thức ăn dư thừa của người bệnh, hoa
và rác quét dọn từ các sàn nhà.
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
2.3. Thực trạng công tác quản lý chất thải bệnh viện ở Việt Nam
Chất thải rắn y tế ngày càng gia tăng, nguyên nhân do: Số lượng cơ sở y tế và số giường bệnh tăng;
Thực hành y học hiện đại với nhiều phương pháp chuẩn đoán và điều trị mới, tăng cường sử dụng các sản
phẩm dùng một lần. Dân số tăng, người dân được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế. Trong số các cơ sở
phát sinh chất thải y tế thì nguồn phát sinh chủ yếu là các bệnh viện; các cơ sở y tế khác như: Trung tâm vận
chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu ; Trung tâm xét
nghiệm và các Labo nghiên cứu y sinh học; Các ngân hàng máu
Những năm qua, công tác quản lý chất thải bệnh viện còn nhiều bất cập. Cụ
không đạt tiêu chuẩn về nhiệt độ buồng đốt thứ cấp và khí thải lò đốt vượt mức tiêu
chuẩn cho phép.
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới cũng như các chuyên gia, cần
nghiên cứu và triển khai, áp dụng các công nghệ không đốt (thiết bị khử khuẩn bằng
nhiệt ướt hoặc vi sóng), thân thiện hơn với môi trường, chi phí vận hành lại rẻ hơn
phương pháp đốt và tăng cơ hội tái chế chất thải.
Nhưng hiện nay, ở nước ta vẫn còn thiếu các cơ sở tái chế chất thải, mặc dù,
có rất nhiều những vật liệu từ chất thải bệnh viện như chai dịch truyền chứa dung
dịch huyết thanh ngọt (đường glucose 5%, 20%), huyết thanh mặn (NaCl 0,9%), các
dung dịch acide amine; các loại bao gói nilon và một số chất nhựa khác; các vật liệu
giấy, thủy tinh là hoàn toàn không có yếu tố nguy hại, có thể tái chế để hạn chế
việc thiêu đốt chất thải gây ô nhiễm, đồng thời là nguồn thu để bệnh viện tái đầu tư
cho xử lý chất thải.
Trong Quy chế quản lý chất thải y tế (2007) đã bổ sung nội dung tái chế chất
thải rắn y tế không nguy hại làm căn cứ để các cơ sở y tế thực hiện. Tuy nhiên,
nhiều địa phương chưa có cơ sở tái chế, do vậy, việc quản lý tái chế các chất thải y
tế không nguy hại còn gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là thiếu nguồn kinh phí đầu tư,
xây dựng và vận hành hệ thống xử lý chất thải, trong khi tổng chi phí cho xử lý chất
thải rắn là tương đối lớn. Chi phí cho vận hành xử lý chất thải y tế chiếm đến 5%
ngân sách Nhà nước cấp cho cơ sở y tế. Hơn nữa, kinh phí đầu tư xây mới, cải tạo
bệnh viện còn hạn chế, nên tiến độ thực hiện của các bệnh viện còn chậm.
SVTH: Lê Hồ Ngọc Hoa 15
Lớp: 09 CQM
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
2.4. Những nguy cơ và ảnh hưởng của chất thải y tế đến cộng đồng và môi
trường
2.4.1. Đối với sức khỏe cộng đồng
Phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra bệnh tật hoặc thương
tích. Tất cả các cá nhân phơi nhiễm với chất thải nguy hại, cả những người ở trong
hay ở ngoài bệnh viện đều có nguy cơ tiềm ẩn. Những nhóm có nguy cơ bao gồm:
Lớp: 09 CQM
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
chất dễ bay hơi khác). Tổn thương thường gặp nhất là bỏng. Các hóa chất khử
khuẩn được sử dụng phổ biến trong bệnh viện thường có tính ăn mòn.
Nhiều thuốc điều trị ung thư là các thuốc gây độc tế bào. Chúng có thể gây
kích thích hay gây tổn thương cục bộ trên da và mắt, cũng có thể gây chóng mặt,
buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da. Nhân viên bệnh viện, đặc biệt là những người chịu
trách nhiệm thu gom chất thải, có thể phơi nhiễm với các thuốc điều trị ung thư qua
hít thở hoặc hạt lơ lửng trong không khí, hấp thu qua da, tiêu hóa qua thực phẩm vô
tình nhiễm bẩn với thuốc gây độc tế bào.
2.4.1.3. Nguy cơ và ảnh hưởng của chất thải phóng xạ
Cách thức và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ quyết định những tác
động đối với sức khỏe, từ đau đầu, chóng mặt, buồn nôn cho đến các vấn đề đột
biến gen trong dài hạn.
2.4.2. Đối với môi trường
2.4.2.1. Nguy cơ và ảnh hưởng đối với môi trường nước
Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do các chất độc hại có trong chất thải bệnh
viện. Chúng có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh. Chúng có thể chứa kim loại nặng,
phần lớn là thủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửa phim X quang. Một
số dược phẩm nhất định, nếu xả thải mà không xử lý có thể gây nhiễm độc nguồn
nước cấp. Bên cạnh đó, việc xả thải bừa bãi chất thải lâm sàng có thể tiềm ẩn nguy
cơ gây ô nhiễm nguồn nước do làm tăng BOD.
2.4.2.2. Nguy cơ và ảnh hưởng đối với môi trường đất
Tiêu hủy không an toàn chất thải nguy hại như tro lò đốt hay bùn của hệ
thống xử lý nước thải rất có vấn đề khi các chất gây ô nhiễm từ bãi rác có khả năng
rò thoát ra, gây ô nhiễm đất và nguồn nước, và cuối cùng là tác động tới sức khỏe
cộng đồng trong dài hạn.
2.4.2.3. Nguy cơ và ảnh hưởng đối với môi trường không khí
Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải nguy hại được
thiêu đốt trong điều kiện không lý tưởng. Việc thiêu đốt không đủ nhiệt độ trong khi
chất thải dược phẩm bao gồm kháng sinh, kim loại nặng như thủy ngân, phenol,
chất dẫn xuất, hóa chất khử khuẩn.
SVTH: Lê Hồ Ngọc Hoa 18
Lớp: 09 CQM