4
2.2. Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới
Theo Hà Yên (2005), dịch cúm gia cầm trên thế giới bắt ñầu xuất hiện từ thế kỷ XIX,
lần ñầu tiên xảy ra ở Italia, và virus bệnh nguyên ñược xác nhận vào năm 1955. Tiếp
ñến, vào năm 1918 – 1919, thế giới chứng kiến một ñại dịch cúm gia cầm mà ñến
nay, nó làm cho loài người kinh sợ vì mức ñộ trầm trọng và con số tử vong lên ñến
40 triệu người… Các số liệu có sức thuyết phục có ñược sau này cho thấy ñại dịch
cúm năm 1918 là do virus cúm type A (H1N1) gây ra và ñây là virus rất giống với
virus hiện chúng ta vẫn gặp ở lợn và một số nước. Từ ñó trở ñi, ñã có thêm 3 ñại dịch
nữa ñược ghi nhận, ñó là: “Cúm Châu Á” (Asian Flu) do virus type A (H2N2) gây
nên năm 1957; “Cúm Hong Kong” (Hong Kong Flu) do virus cúm type A (H3N2)
gây ra năm 1968 và “Cúm Nga” (Russian Flu) do virus cúm type A (H1N1) gây ra
năm 1977. Cũng tương tự như vậy, ñại dịch năm 1957 không phải là virus type H1N1
như trước ñây mà là do virus H2N2 và ñại dịch cúm năm 1968 là do virus H3N2 gây
nên. Từ cuối năm 2003 ñến nay, ñã có 11 nước và vùng lãnh thổ xuất hiện dịch cúm
gia cầm H5N1 gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia,
Trung Quốc, Malaysia, Hong Kong và Việt Nam.
Theo số liệu thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (2005) cho thấy, kể từ năm 2003
ñến ñầu tháng 10-2005 ñã có 63 ca tử vong do vi rút H5N1 ở khu vực ðông Nam Á
và hàng triệu gia cầm ñã bị buộc phải tiêu hủy, gây thiệt hại cho ngành công nghiệp
gia cầm khoảng 10-15 tỷ USD. Nhưng trong khoảng thời gian gần cuối năm 2005,
dịch cúm gia cầm ñã không chỉ còn là mối hiểm họa của riêng Châu Á mà ñã lan sang
Châu Âu (Nga, Rumani, Thổ Nhĩ Kỳ), thậm chí còn có mặt ở mức ñộ nhẹ ở cả Nam
Mỹ (Cômlômbia với loại virút H9 ít nguy hiểm hơn so với chủng H5N1). Ngày 13 và
15-10-2005, Rumani, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và cả Cômlômbia ñã thông báo phát hiện
các trường hợp nhiễm cúm gia cầm ñầu tiên và phải tiến hành thiêu hủy hàng nghìn
con gà và áp dụng các biện pháp cách ly. Tại Rumani, các nhà chức trách ñã cấm các
hoạt ñộng săn bắn ở vùng châu thổ sông ðanúyp - nơi xuất hiện dịch bệnh. Khoảng
3.400 người dân sinh sống tại khu vực này ñã ñược xét nghiệm và tiêm vắc xin phòng
cúm. Những lời cảnh báo của các tổ chức và chuyên gia y tế quốc tế về “thảm họa”
chim cút. ðợt dịch thứ ba (12/2004 - 05/2005) Trong khoảng thời gian này, dịch ñã
xuất hiện ở 670 xã tại 182 huyện thuộc 36 tỉnh, thành phố (15 tỉnh phía Bắc, 21 tỉnh
phía Nam). Số gia cầm tiêu hủy là 470.500 con gà, 825.700 vịt, ngan và 551.030
chim cút. Bệnh xuất hiện ở tất cả các tỉnh, thành phố thuộc vùng ðồng Bằng Sông
Cửu Long, những tỉnh bị dịch nặng là Long An, Tiền Giang, Bạc Liêu, ðồng Tháp
Báo cáo của Chính phủ tại Hội nghị "Tổng kết 2 năm (2004-2005) phòng chống dịch
cúm gia cầm" cho thấy, dịch cúm ñầu năm 2004 ñã làm giảm 0,5 % tăng trưởng tổng
thu nhập quốc dân của quốc gia, tương ñương trên 3.000 tỷ ñồng. Nhiều hộ, trang
trại, doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm lâm vào cảnh mất trắng. Một số vùng tuy không
có dịch, nhưng việc duy trì ñàn gia cầm rất khó khăn, ñặc biệt ñối với những cơ sở
chăn nuôi tập trung, quy mô lớn, do không tiêu thụ ñược gia cầm, sản phẩm gia cầm.
Mặc dù ñợt dịch cuối năm 2004-2005 thiệt hại trực tiếp không lớn, song, thiệt hại
6
gián tiếp vẫn ñáng kể do ảnh hưởng ñến việc tiêu thụ, sản xuất và chăn nuôi gia cầm.
Ước tính, ngành chăn nuôi ñã mất thêm 500 tỷ ñồng. Qua 3 ñợt dịch, tổng số ñàn gia
cầm bị chết, tiêu huỷ là khoảng 46,6 triệu con. Theo Cục Thú y, dịch phát nặng
thường theo chu kỳ từ tháng 12 năm trước ñến tháng 3 năm sau, cao ñiểm vào cuối
tháng 1, ñầu tháng 2. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở ñàn gà có từ 100-500 con; tỷ lệ này
giảm dần ở những trại nuôi gà có số lượng lớn. Loại hình chăn nuôi hỗn hợp các loài
gia cầm, ñặc biệt là gà với vịt, mắc dịch nhiều (Hà Yên, 2005).
Dịch cúm gia cầm diễn ra ở Việt Nam vào mùa ñông 2004 - 2005 ñã khiến cho giá trị
sản lượng của ngành chăn nuôi gia cầm giảm khoảng 15%. Tỷ trọng của chăn nuôi
gia cầm trong tổng thu nhập quốc dân trong năm 2003 là 0,55%. Do ñó việc giảm giá
trị như trên tương ñương với việc giảm tổng thu nhập quốc dân của Việt Nam trong
năm 2004 khoảng 0,08% (tức 0,15 nhân với 0,55). Con số ước tính cũng sẽ ngang
bằng như vậy nếu chúng ta xem xét việc giảm lượng gia cầm, thay vì xem xét việc
giảm sản lượng. Năm 2003 có khoảng 255 triệu gia cầm, nhưng con số ñó ñã giảm
xuống còn 219 triệu con năm 2004, tức khoảng dưới 14%. Giá bán trung bình một
con gia cầm tại chuồng khoảng 1USD. Vậy, thiệt hại do giảm lượng gia cầm từ năm
trên 57 tỉnh, thành trong cả nước. Ước tính thiệt hại của ngành gia cầm cả nước hàng
ngàn tỷ ñồng. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh tổng ñàn gia cầm các loại ñã tiêu hủy
hơn 5 triệu con và tổn thất khoảng 120 tỷ ñồng; chưa kể thiệt hại của các ngành có
liên quan như chế biến, phân phối thực phẩm. Năm 2004, Thành phố Hồ Chí Minh
cũng ñã chi hơn 60,8 tỷ ñồng ñể hỗ trợ thiệt hại cho người chăn nuôi và chống dịch.
Dịch cúm gia cầm xuất hiện và bùng phát ñã ảnh hưởng lớn ñến nền kinh tế của Việt
Nam - một nước nông nghiệp mà chăn nuôi là nguồn thu nhập quan trọng ñối với các
hộ gia ñình nông thôn và là một trong những nghề có tác dụng xoá ñói giảm nghèo
nhanh, có hiệu quả. Theo báo cáo của Chính phủ (2005), ñợt dịch cúm ñầu năm 2004
ñã làm giảm tăng trưởng Tổng thu nhập quốc dân của quốc gia ñến 0,5 %, tương
ñương trên 3.000 tỷ ñồng, trong ñó thiệt hại trược tiếp do gia cầm bị chết và tiêu huỷ
là 1.300 tỷ ñồng; ñợt dịch cuối năm 2004 – 2005 thiệt hại ước tính 500 tỷ ñồng.
Nhiều hộ gia ñình, trang trại, doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm lâm vào cảnh mất
trắng do toàn bộ gia cầm bị tiêu huỷ.
Theo Ban chỉ ñạo quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm (2005), khi ñại dịch cúm
xảy ra sẽ tác ñộng mạnh ñến nền kinh tế cũng như các hoạt ñộng kinh tế xã hội và sức
khoẻ nhân dân. Theo dự báo với dân số của nước ta là 82 triệu người, ñại dịch cúm sẽ
gây bệnh cho khoảng 16 triệu bệnh nhân (20 %), số người tử vong khoảng 819.000 –
1.638.000 người (1 –2 %).
Tô Long Thành (2006), từ ñầu tháng 10/2005 ñến 25/12/2005, dịch cúm gia cầm ñã
tái phát và xuất hiện ở 285 xã, phường, thị trấn của 100 quận, huyện, thị xã của 24
tỉnh, thành phố. Tổng số gia cầm ốm chết, buộc tiêu huỷ và tiêu huỷ tự nguyện là
3.735.620 con, trong ñó 1.245.282 gà, 2.005.557 vịt, ngan và 484.781 chim cút, bồ
câu, chim cảnh.
Lê Văn Năm (2007), sau hơn 1 năm Việt Nam không có dịch thì ngày 19/12/2006
dịch cúm gia cầm lại tái phát ở các ñịa phương thuộc hai tỉnh Bạc liêu và Cà Mau,
ñưa Việt Nam lên nguy cơ mới của ñại dịch lần thứ 4. 8
cầm, các huyện thị thành phố tiếp tục kiểm tra chặt chẽ các lò ấp trứng trên ñịa
bàn không cho ấp nở gia cầm con, không nuôi mới vịt, không cho vịt xuống kênh
mương, không cho vịt chạy ñồng, hướng dẫn vệ sinh môi trường, vệ sinh chuồng trại.
Các Trạm thú y ñã triển khai thực hiện công văn số: 1848 /UBND-KT ngày
13/07/2005 của Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh về công tác phòng chống dịch cúm gia cầm;
chuẩn bị tốt lực lượng, phương tiện, dụng cụ trang bị bảo hộ cho ñợt tiêm phòng cúm
gia cầm ñại trà toàn tỉnh vào ngày 15/9/2005.
9
Tuy tình hình dịch cúm gia cầm ñã lắng dịu nhưng thời gian từ ngày 26/01/2006 ñến
01/02/2006 Ngành Nông nghiệp & Phát Triển Nông Thôn, Ngành Y tế tỉnh An Giang
vẫn tiếp tục thực hiện công tác vệ sinh tiêu ñộc, kiểm dịch thú y trong giết mổ, tiêu
thụ gia súc gia cầm và sản phẩm gia
cầm; tiếp tục thực hiện chỉ thị 23/2005/CT của
Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh An Giang về phòng chống dịch cúm gia cầm.
Nguyễn Ngọc Thọ (2005) ngày 26/8/2005, ban chỉ ñạo tiêm phòng cúm gia cầm An
Giang ñã khẩn trương tiến hành công tác tiếp nhận vaccin tiêm phòng cúm gia cầm
của trung ương ñể chuẩn bị cho tiêm thí ñiểm và tập huấn cho các kỹ thuật viên chăn
nuôi thú y (gồm 3 huyện Châu Phú, Long Xuyên, Phú Tân). Cùng thời ñiểm này, Sở
Y Tế và Trung Tâm Y Tế Dự Phòng tỉnh cũng chuẩn bị kế hoạch phối hợp với ngành
Nông Nghiệp An Giang tổ chức công tác tiêm phòng cúm gia cầm cho toàn tỉnh.
Nguyễn Ngọc Thọ (2006) tình hình dịch bệnh tại ñịa bàn tỉnh An Giang (09/11/06 -
15/11/06)
ổn ñịnh, không phát hiện gia cầm bệnh, chết. Công tác vệ sinh tiêu ñộc
ñược thực hiện trong tuần cho các khu vực chăn nuôi, giết mổ, nơi mua bán gia cầm,
các phương tiện vận chuyển gồm 86.190 m
2
.
loại gia cầm, chim cảnh từ nước ngoài vào Việt Nam từ 2005 cho ñến hết ngày 31-3-
2006 (SGGP, 2005).
Theo Bộ Tài chính (2005), Nhà nước còn bảo ñảm dùng tiền ngân sách ñể hỗ trợ 100
% tiền thức ăn nuôi dưỡng ñàn gia cầm gốc giống, gốc quý hiếm do không tiêu thụ
ñược sản phẩm trong thời gian bốn tháng, dự tính từ 1-12-2005 ñến 31-3-2006.
Cục trưởng Cục Thú y (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn) (2005) cho biết,
Cục Thú y vừa có văn bản yêu cầu các ñịa phương không nuôi gia cầm trong nội
thành, nội thị và kiên quyết ngừng ấp mới thủy cầm ñến 28/2/2007. ðây là một trong
những biện pháp lâu dài nhằm hạn chế sự lây lan và bùng phát dịch cúm gia cầm, do
Cục Thú y ñề xuất ñể triển khai trong thời gian tới. Trước mắt, Cục Thú y vẫn
khuyến khích giảm ñàn và giảm chăn nuôi nhỏ lẻ trong các hộ gia ñình. Bên cạnh ñó,
chuyển ñổi ngành nghề cho những người chăn nuôi gia cầm và tổ chức tiêm phòng
cho ñàn gà từ một ngày tuổi ngay từ khi mới ấp nở.
Theo Ban chỉ ñạo quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm (2005), một số chính sách
ñược áp dụng trong công tác phòng chống bệnh cúm gia cầm là: hỗ trợ người chăn
nuôi 5.000 ñồng/ 1 con gia cầm bị tiêu huỷ; hỗ trợ toàn bộ kinh phí cho tiêu huỷ gia
cầm như thuốc sát trùng, nguyên nhiên liệu và công tiêu huỷ, lấy từ nguồn kinh phí
dự phòng ngân sách ñịa phương năm 2004. Hỗ trợ 18.000 ñồng/ 1 con thuỷ cầm bị
tiêu huỷ, giết mổ bắt buộc trong ñàn dương tính với huyết thanh.
ðể ngăn chặn dịch cúm gia cầm lây lan, Cục Thú y (2005) ñề nghị các Sở Nông
nghiệp và Phát Triển Nông Thôn và Chi cục Thú y các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương: Thiết lập các trạm, chốt kiểm dịch bố trí ñủ lực lượng hoạt ñộng 24/24
giờ và có ñủ ñiều kiện vật tư kỹ thuật ñể xử lý tiêu huỷ gia cầm và sản phẩm gia cầm
vận chuyển trái phép. Thành lập các ñội công tác lưu ñộng vừa giám sát phát hiện
dịch bệnh vừa kiểm dịch xử lý ñộng vật và sản phẩm ñộng vật không ñủ ñiều kiện
vận chuyển. ðây là yêu cầu ñã ñược ñề cập trong các Chỉ thị của Chính phủ, Hướng
11
dẫn của Ban chỉ ñạo Quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm, của Bộ Nông nghiệp
& Phát Triển Nông Thôn và Bộ Tài chính.
12
Chương 3
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1. Vật liệu
Các số liệu thứ cấp tại ñịa bàn nghiên cứu.
Phiếu ñiều tra.
Phương tiện ñi lại và văn phòng phẩm.
Các phần mềm như: Microsoft Word, Microsoft Excel, SPSS…
3.2. Phương pháp
3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu thứ cấp về tổng ñàn gia súc, gia cầm từ năm 2003 ñến năm 2005 tại
3 xã:
Xã Cần ðăng có số lượng nuôi cao nhất.
Xã Vĩnh Bình có số lượng nuôi trung bình.
Xã Tân Phú có số lượng nuôi thấp nhất.
Mỗi xã ñiều tra 30 hộ gia ñình có chăn nuôi gia súc, gia cầm. Như vậy, tổng số mẫu
cần ñiều tra là 90.
3.2.2. Phương pháp tiến hành
Thu thập số liệu thứ cấp.
Phỏng vấn người am hiểu (cán bộ thú y ở ñịa bàn, nông dân am hiểu…).
Tổ hợp câu hỏi.
Phỏng vấn thử.
Hoàn chỉnh bảng hỏi ñã thiết kế sẵn.
Mã hóa và nhập số liệu.
Phân tích số liệu ñã thu thập.
Tổng hợp viết báo cáo.
Thời gian thực hiện ñề tài: từ tháng 1/2006 ñến tháng 4/2006.