Đề tài
" Quan điểm lịch sử cụ thể với quá
trình xây dựng và phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta hiện nay "
1
1
MỤC LỤC
A. ĐẶTVẤNĐỀ
B. PHẦNNỘIDUNG
I. Sự cần thiết phải xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN
1. Sự cần thiết khách quan của việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN
2. Những lý luận chung về nền kinh tế thị trường
2.1. Khái niệm về kinh tế thị trường
2.2. Một sốưu điểm và khuyết tật của nền kinh tế thị trường
2.3. Vai trò của nền kinh tế thị trường
II. Quan điểm lịch sử cụ thể với quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN ở nước ta
1. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay
1.1. Bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
1.2. Tính XHCN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
2. Quan điểm của Đảng về quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN
2.1. Quan điểm của Đảng
2.2. ý nghĩa của những quan điẻm trên
3. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
3.1. Về mục tiêu phát triển
3.2. Nền kinh tế thị trường có nhiều thành phần kinh tế trong đó thành phần kinh tế
Nhà nước giữ vai trò chủđạo
công cuộc xây dựng CNXH.Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần theo định hướng XHCN vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước.Đảng ta không ngừng tìm tòi,đổi mới,tổng kết lý luận thực
tiễn để có nhận thức đúng đắn vàđầy đủ hơn về CNXH và con đường lên CNXH ở
nước ta và ngày càng hoàn thiện qua các kìđại hội. Để thực hiện tốt đường lối đổi
mới,chúng ta đã rút ra kinh nghiệm từ mô hình kinh tế của Trung Quốc, của các “
con rồng châu á”.Trải qua hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới này, chúng ta
đăđạt được những thành tựu to lớn và quan trọng cóý nghĩa lịch sử: đưa đất nước
thoát khỏi khủng hoảng kinh tế,đạt tốc độ tăng trưởng nhanh,tăng cường cơ sở vật
chất tạo tiền đề cho giai đoạn mới,chính trị xã hội ổn định,mở rộng quan hệđối
ngoại,chủđộng hội nhập kinh tế thế giới,đời sống nhân dân không ngừng được cải
thiện…là cơ sở biện chứng hùng hồn đểđưa ra những quan niệm mang tính đột
phá,sáng tạo về mặt lý luận.Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đố vẫn còn tồn tại
những mặt hạn chế màĐảng,Nhà nước ta cần nhìn nhận đúng đắn vấn đề,có hướng
đi phù hợp nhằm tạo hiệu quả cao nhất đảm bảo việc thực thi và phát triển,xây dựng
thành công CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN.Đểđạt được tốc độ tăng trưởng cao và
bền vững,xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hoàn thiện là một
trong những vấn đề tư duy lý luận cốt lõi,một phương hướng mang tính chiến lược
trong lĩnh vực kinh tế.
3
3
Thấy được những vấn đề cấp bách và sự cần thiết phát triển nền kinh tế thị
trường định ở nước ta hiện nay tôi đã chọn đề tài “Quan điểm lịch sử cụ thể với
quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
nước ta hiện nay”cho bài tiểu luận của mình.Đểcóđược những hiểu biết về kinh tế
thị trường hoàn thành bài tiểu luận không thể không kểđến công lao chỉ dạy của thầy
Mai Xuân Hợi-người đã tân tuỵ dạy bảo chúng em,nhiệt tình hướng dẫn đẻ em làm
bài tiểu luận này.
4
4
kinh tế giữa họ thực hiện bằng quan hệ hàng hoá - tiền tệ . Quan hệ này rất quan
trọng trong kinh tếđối ngoại đặc biệt khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại
quốc tế WTO, trong điều kiện phân công lao động quốc tếđang phát triển ngày càng
sâu sắc. Mỗi nước là một quốc gia riêng biệt, là chủ sở hữu của hàng hoáđưa ra trao
5
5
đổi trên thị trường thế giới vì vậy các nước phải có quan hệ hàng hoá - tiền tệ với
nhau và trao đổi trên nguyên tắc ngang giá.
- Thứ ba: thực tiễn lịch sử các nước XHCN trong đó có Việt Nam, cho thấy
một thời đãáp dụng mô hình kinh tế chỉ huy tập trung quan liêu, bao cấp dẫn đến
khủng hoảng kinh tế – xã hội kéo dài mà nguyên nhân chủ yếu là do phủ nhận quan
hệ hàng hoá - tiền tệ, phủ nhận kinh tế thị trường. Để thoát khỏi khủng hoảng thì con
đường duy nhất chỉ có thể thông qua đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường.
thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể có cùng hình thức sở hữu dựa trên
chếđộ công hữu về tư liệu sản xuất nhưng các đơn vị kinh tế vẫn có sự khách nhau
về lợi ích, quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, về trình độ kĩ thuật,
về quản lý nên chi phí, hiệu quả sản xuất khác nhau.
Chúng ta đã có những cơ sở khách quan làm nền tảng cho sự hình thành và phát
triển của nền kinh tế thị trường bởi vậy tất yếu nền kinh tế nước ta sẽ phát triển
theo cơ chế thị trường đặc biệt có sự quản lý của Nhà nước .
2.Những lý luận chung về kinh tế thị trường
2.1.Khái niệm về kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá, trong đó toàn bộ
các yếu tố “ đầu vào ” và “ đầu ra ” của sản xuất đều quyết định được trên thị
trường, ởđó sự vận động của quan hệ hàng hoá- tiền tệ giữ vai trò vô cùng quan
trọng. Kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường không đồng nhất với nhau, chúng khác
nhau về trình độ phát triển nhưng về cơ bản chúng có cùng nguồn gốc và cùng bản
chất.
Khi so sánh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nền kinh tế TBCN chúng
ta sẽ thấy ngay chúng cùng chịu tác động của cơ chế thị trường – bị tác động bởi các
tự cung ,tự cấp kìm hãm sự phát triển của sản xuất kinh tế ,quan hệ giữa hàng hoá và
tiền tệ không được coi trọng ,không đánh giáđúng vai trò của nó.Đó là, nền kinh tế
khép kín màở trong đó lực lượng sản xuất không có khả năng phát triển,chỉ có nền
kinh tế thị trường mới có thểđáp ứng được yêu cầu của xã hội,của nền kinh tế nước
ta.Nó có vai trò rất quan trọng:
- Thứ nhất: Kinh tế hàng hoá phá vỡ mối quan hệ tự cung tự cấp của nền kinh tế tự
nhiên,thúc đẩy sự xã hội hoá sản xuất , tạo động lực thúc đảy lực lượng sản xuất
phát triển.
- Thứ hai: Sản xuất hàng hoá phát triển tạo ra nhiều việc làm cho người lao
động thúc đẩy sự phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất, giúp phân
bổ hợp lý các nguồn lực và sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả.Vì thế phát huy
tiềm năng, lợi thế của từng vùng,cũng như lợi thế của đất nước, có tác dụng mở rộng
quan hệ kinh tế với nước ngoài.
- Thứ ba: Nó kích thích tính năng động sáng tạo của các chủ thể kinh tế, kích
thích việc nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã cũng như tăng khối lượng hàng hoá
và dịch vụbởi nền kinh tế thị trường chứa đầy những yếu tố bất ổn, rủi ro nếu như
không biết dựa phân tích vàđánh giá thị trường dựa vào nhu cầu tiêu dùng, giá cả thị
trường để quyết định sản xuất cái gì, khối lượng bao nhiêu, chất lượng như thế nào
thì chắc chắn anh sẽ bịđào thải đặc biệt sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường.Để có
thểđứng vững và phát triển trên thị trường các chủ thể kinh tế phải không ngừng cải
7
7
tiến kỹ thuật ,tạo ra các sản phảm không những đa dạng về chủng loại mà chất lượng
cũng tốt đáp ứng được mhu càu của người tiêu dùng.
- Thứ tư: Thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, tạo điều kiện ra đời
của sản xuất lớn, xã hội hoá cao,đồng thời chọn lọc những người sản xuất, kinh
doanh giỏi, hình thành đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ,lao động lành nghề, đáp
ứng nhu cầu phát triển của đất nước.
Bởi vậy, muốn phát triển kinh tế chúng ta phải coi phát triển kinh tế thị trường là
một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu của nước ta thành
Mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN là một kiểu kinh tế thị trường mới
trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường phù hợp với điều kiện vàđặc điểm cụ
thể của nước ta. Chúng ta phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với sự
kết hợp của kinh tế thị trường và tính XHCN và tính chất XHCN của nền kinh tế
càng ngày càng rõ nét hơn trong suốt thời kì quáđộ lên CNXH ở nước ta được Đại
hội X công nhận có 8 đặc trưng cơ bản :
- Thứ nhất : dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Thứ hai : do nhân dân làm chủ
- Thứ ba : có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan
hệ sản xuấ phù hợp với trình độ phát triển của lực sản xuất.
- Thứ tư : có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
- Thứ năm : con người được giải phóng khỏi áp bức , bất công, có cuộc sống ấm no,
hạnh phúc, phát triển toàn diện.
- Thứ sáu ; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ,
giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ
- Thứ bẩy : Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
- Thứ tám : có quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước trên thế giới
Thực hiện mô hình này không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường
và CNXH mà là sự nắm bắt, vận dụng xu thế khách quan của kinh tế thị trường
trong thời đại hiện nay, sự tiếp thu có chọn lọc các thành tựu kinh té, văn hoá của
nhân loài để phát huy vai trò tích cực của kinh tế thị trường trong việc phát triển sức
sản xuất, xã hội hoá lao động, cải tiến kĩ thuật – công nghệ theo định hướng XHCN
chứ không phải nền kinh tế bao cấp cũng không phải nền kinh tế thị trường tự do
theo kiểu TBCN và cũng chưa phải hoàn toàn là kinh tế thị trường XHCN bởi trong
thời kì quáđộ nền kinh tế của chúng ta vừa có cái cũ, cái mới – chúng cùng tồn tại
đan xen , cạnh tranh với nhau , chúng ta cũng chưa cóđủ các yếu tố của CNXH. Vì
vậy, chúng ta cần hiểu rõ nền kinh tế của nước ta vừa mang tính chung của kinh tế
thị trường và tính đặc thù của CNXH hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật.
2.Quan điểm của Đảng ta về quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị
nhân dân tuy nhiên Đảng vẫn chưa đề cập đến khái niệm kinh tế thị trường
Đến Đại hội IX thì cụm từ “ nền kinh tế thị trường định hương XHCN “ chính thức
được đề cập tới : “ thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng XHCN , đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN".
Phương thức phát triển nền kinh tế này được Đại hội X năm 2006 làm rõ :” đểđi lên
CNXH , chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá , xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội, xây dựng nền dân chủ XHCN, thực
hiện đại đoàn kết dân tộc, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân, xây dựng Đảng vững mạnh, bảo đảm vững chắc quốc phòng,
an ninh quốc gia, chủđộng và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế “. Đảng tiếp tục làm
10
10
sáng rõ những vấn đề lý luận liên quan đến việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường
định hướng XHCN theo 4 nội dung cơ bản :
- Nắm vững định hướng XHCN trong nền kinh tế hội nhập
- Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước pháp quyền Việt Nam
đảm bảo đời sống cho nhân dân, phát vtriển đất nước.
- Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành của các loại thị trường
cơ bản : thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường sức lao động, thị trường
bất động sản…theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, làm cơ sở thúc đẩy nền kinh tế
phát triển.
- Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức kinh doanh
Nghị quyết Đại hội X của Đảng khẳng định : “ trong quá trình đổi mới phảI
kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mac – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không phảI từ bỏ mục tiêu CNXH mà làm cho
CNXH được nhận định đúng đắn hơn và xây dựng có hiệu quả hơn “. Điều này được
báo Quân đội nhân dân nhận định : “ đến Đại hội X Đảng ta khẳng định kinh tế thị
khắc phục triệt để hệ thống kế hoạch hoá tập trung để xây dựng và phát triển kinh tế
sthị trường không dập khuôn, máy móc bảo đảm phát triển kinh tế thị trường văn
minh, cóđịnh hướng cao về xã hội theo nguyên tắc xã hội hoá cao về XHCN. Tiếp
thu có chọn lọc thành tựu văn minh nhân loại , không chấp nhận kinh tế thị trường là
một thứ công nghệ – kĩ thuật thuần tuýhoặc một phương thức đơn thuần, một
thủđoạn tạo ra của cảI để làm giàu cho tư bản mà phải phát huy nền kinh tế thị
trường theo hướng phục vụ và nâng cao đời sống của nhân dân , cho sự phồn vinh
xã hội . Nó thấm nhuần sự kết hợp giữa tính tất yếu thời đại với nguyện vọng của
một dân tộc yêu tự do . Nó khẳng định quyết tâm , vai trò sáng tạo cao của kiến trúc
thượng tầng chính trị pháp luật của Đảng và Nhà nước ta.
3. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
Nền kinh tếđược xây dựng ở nước ta hiện nayh là nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN . Một mặt nó vừa có tính chất chung của nền kinh tế thị trường :
các chủ thể kinh tế có tính độc lập , có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh ;
giá cả do thị trường quyết định, hệ thống thị trường được phát triển đầy đủ và có
tác dụng làm cơ sở cho việc phân bổ các nguồn lực cho các ngành kinh tế ; nền
kinh tế tự vận động theo những quy luật vốn có của nó ; các nền kinh tế hiện đại
còn có sựđiều tiết vĩ mô của Nhà nước. Mặt khác , nóđược phát triển dựa trên cơ
sở vàđược dẫn dắt , chi phối bởi những nguyên tắc và bản chất của CNXH. Đó là
sự kết hợp giữa cái chung là kinh tế thị trường với cái riêng là CNXH có các đặc
trưng sau :
3.1. Về mục tiêu phát triển
12
12
- Mục tiêu hàng đầu của phát triển kinh tế thị trường là giải phóng sức sản xuất ,
động viên mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá , xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật , cải thiện từng bước đời
sống nhân dân.
- “ Thực hiện dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội do nhân
dân làm chủ , nhân ái, có văn hoá , có kỉ cương , xoá bỏáp bức , bất công , tạo
13
chắc của nền kinh tế . Kinh tế tư nhân ngày được quan tâm hơn trong các chính
sách phát triển kinh tế của Đảng ta.
3.3. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thực hiện nhiều hình
thức phân phối thu nhập trong đó lấy phân phối theo lao động là chủ yếu
Mỗi chếđộ xã hội có chếđộ phân phối tương ứng với nó . Chếđộ phân phối do
quan hệ sản xuất thống trị trước hết là quan hệ sở hữu quyết định nhưng quan hệ
phân phối , các hình thức thu nhập là hình thức thu nhập là hình thức thực hiện
về mặt kinh tế của quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất . Trong nước ta tồn tại
nhiều hình thức phân phối : phân phối theo thu nhập trong kinh tế Nhà nước và
kinh tế tập thể, phân phối theo vốn, tài sản và các đóng góp , phân phối theo giá
trị sức lao động trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân và các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài , phân phối thông qua các quỹ phúc lợi tập thể và xã hội
Trong các hình thức đó , phân phối theo lao làđặc trưng bản chất của kinh tế thị
trường định hướng XHCN. Nó góp phần thực hiện công bằng xã hội bởi hình
thức của nó là có làm có hưởng, người làm nhiều hưởng nhiều , người làm it
hưởng ít, không làm không hưởng. Chính điều này đã thôi thúc nọi người ra sức
làm viêc và kết quảđạt được rất khả quan, kinh tế nhanh chóng phát triển .Đây là
sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN với kinh tế TBCN
.
Phát triển kinh tế thị trường được Đảng ta xác định là phương tiện đểđạt mục tiêu
cơ bản trong quá trình xây dựng XHCN, thực hiện dân giàu , nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh, cải thiện đời sống nhân dân, giải phóng con người
khỏi áp bức , bóc lột, giúp họ phát triển toàn diện. Vì vậy, mỗi bước tăng trưởng
kinh tếở nước ta phải gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ, công
bằng xã hội và việc phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã hội và tập thể cóý
nghĩa quan trọng để thực hiện mục tiêu đó,
3.4. Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước XHCN
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN . chúng ta sử dụng cơ chế thị
nước trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia
tăng lên rất nhiều , tạo ra thế mới và lực mới cho đất nước tiếp tục đ lên, phát triển
kinh tế một cách nhanh, mạnh. Trước năm 1976 – 1985 tốc độ tăng trưởng bình
quân hàng năm là 2% sau tăng lên 6,6% năm 1998 – 2004 , thực hiện tốt ba chương
trình mục tiêu phát triển về lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và xuất khẩu
trong kế hoạch 5 năm từ 1986-1990 làm GDP tăng 4,4%/ năm góp phần chuyển đổi
căn bản từ chếđộ quản lý cũ sang chếđộ mới phù hợp đặc điểm nước ta . Từ 1991-
1995 , GDP tăng 8,2% vượt mức kế hoạch đề ra thực hiện một bước quan trọng
trong quá trình đổi mới kinh tế – xã hội khắc phục tình trạng trì trệ, suy thoái, phục
hồi sản xuất , tăng trưởng tương đối cao và tương đối toàn diện , giảm lạm phát từ
12,7% năm 1995 xuống 0,1% năm 1999 còn 0% năm 2000
15
15
Sản lượng công nghiệp tăng liên tục với mức bình quân đầu người của sản
phẩm công nghiệp , đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất vàđời sống nhân dân, cho xuất
khẩu. Riêng công nghiệp khai thác dầu khí tuy mới xuất hiện trong thời kìđổi mới
với sản lượng 40 tấn dầu thô năm 1986 lên 1,5 triệu tấn năm 2000 với giá trị xuất
khẩu 3,3 tỷ USD, xuất hiện xu hướng đa ngành , đa sản phẩm, đa thành phần trong
đó kinh tế Nhà nước vẫn giữ vai trò chủđạo.Từ năm 2001-2005 : kinh tế vượt qua
khó khăn ,có thành tựu quan trọng trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế
năm 2001-2010 , GDP tăng bình quân 7,5%, nông nghiệp tăng 3,8%, công nghiệp và
xây dựng tăng 10,2%, dịch vụ tăng 7%, quy mô tổng sản phẩm trong nước năm
2005 đạt 838 nghìn tỷđồng . Nông nghiệp giải quyết được vấn đề an toàn lương thực
quốc gia biến nước ta từ một nước thiếu lương thực nghiêm trọng thành một nước
không những đủăn mà còn có thể xuất khẩu gạo : lương thực bình quân đầu người
từ 280 kg ( 1987 ) tăng lên 450kg ( 2000 )
- Thứ hai : tạo dựng được những tiền đề cho sự nghiệp công nghiệp hoà ,hiện
đại hoáđất nước , cân đối giữa tích luỹ và tiêu dùng, xu hướng giảm tiêu dùng , tăng
tích luỹđểđầu tư phát triển kinh tế làm tổng quỹ tích luỹ tăng bình quân từ 9,5%/
người năm 1996-2000 lên 11,36%/ người năm 2001-2005. Tài chính có nhiều cải
thất nghiệp ở thành thị giảm từ 6,015 năm 2002 xuống 5,6% năm 2004
- Thứ tư : thúc đẩy phát triển kinh tếđối ngoại , tăng khả năng hội nhập kinh tế
khu vực và thế giới, đa phương hoá, đa dạng hoá mối quan hệ với các nước , các tổ
chức kinh tế , tài chính quốc tế .
Về kinh tếđối ngoại : thị trường xuất khẩu được mở rộng bằng việc ra nhập các
khối như ASEAN, kí hiệp định thương mại song phương Việt- Mỹđặc biệt là Việt
Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng
nhanh năm 1996-2000 tăng 21%, năm 2001-2005 tăng 17,5%, hàng hoá của Việt
Nam có mặt trên 160 nước , quan hệ hợp tác từ hình thức cho vay dài hạn đến
khuyến khích các nhàđầu tư nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức ,
tranh thủ tài trợ phát triển của các nước : tổng vốn đầu tư nước ngoài là 20 tỷ USD
vượt 39% mục tiêu đề ra .
- Thứ năm : đạt được nhiều thành tựu trong việc đổi mới quản lý Nhà nước về
kinh tế, hệ thống chính trị và mở rộng tự do dân chủ . Chếđộ tập trung quan liêu ,
phương thức quản lý hành chính bằng mệnh lệnh đang chuyển sang dân chủ hoá các
lĩnh vực của đời sống xã hội , phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện bước
đầu giải trình , tính công khai, minh bạch trong hoạt động của Nhà nước.
Với những thành tựu đạt được làm cho bộ mặt đất nước thay đổi theo hướng
ngày càng văn minh và hiện đại , nâng tầm đất nước trên thế giới.
2. Thực trạng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
- Trình độ phát triển nền kinh tế thị trường còn ở giai đoạn sơ khai : cơ cấu vật
chất – kĩ thuật ở trình độ thấp , máy móc cũ kỹ , công nghệ lạc hậu , lao động thủ
công vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động . Năng suất , chất lượng, hiệu
quả sản xuất nước ta còn thấp so với khu vực và thế giới
+ Kết cấu hạ tầng như hệ thống đường giao thông , hệ thống thông tin liên lạc
… còn lạc hậu , kém phát triển làm cho các vùng khó liên lạc nên việc chuyên môn
17
17
hoá sản xuất ở các địa phương bị hạn chế không phát huy được hết tiềm lực của địa
phương mình.
- Thứ tư : hiệu quả kinh tế thấp , sử dụng lãng phí các nguồn lực , nguồn vốn
sử dụng kém hiệu quả, đầu tư chưa có trọng tâm trọng điểm , giám sát chưa sát xao ,
sức cạnh tranh kém , một lượng tiền lớn chưa được sử dụng.
18
18
- Thứ năm : tình trạng tham nhũng , cửa quyền , hách dịch vẫn tồn tại trong
một số cán bộ viên chức bị suy thoái phẩm chất
- Thứ sáu : khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa biểu hiện ở sự chênh lệch về
thu nhập dẫn đến sự bất bình đẳng trong xã hội, tỷ lệ thât nghiệp tuy giảm nhưng
vẫn còn cao.
- Thứ bẩy : các chính sách chưa tạo được động lực mạnh mẽ cho việc phát
triển kinh tế, có những chính sách bị biến dạng qua các tầng hành chính , việc giải
quyết các vấn đề hành chính nhiều thủ tuc, tốc độ chậm.
4.Các giải pháp nhằm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
nước ta
Từ khi đổi mới ( năm 1986 ) nước ta đã từng bước chuyển sang nên kinh tế thị
trường nhưng đến nay nên kinh tế của nước ta vẫn còn trong tình trạng thấp kém, lạc
hậu , còn chịu tác động bởi quá trình kinh tế tự cung, tự cấp để thoát khỏi tình trạng
này vàđẩy nhanh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chúng ta cần
thực hiện các giải pháp sau :
- Thực hiện nhất quán chính sách nền kinh tế nhiều thành phần nhằm tạo cơ sở
cho sự phát triển kinh tế thị trường. Thực hiện nhất quán các chính sách tạo môi
trường thuận lợi cho đầu tư , kinh doanh và phát triển mạnh mẽ các loại hình doanh
nghiệp , tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp , đổi mới, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh
của các doanh nghiệp Nhà nước tạo điều kiện để kinh tế Nhà nước vươn lên làm tốt
vai trò chủđạo , tạođộng lực phát triển có hiệu quả các loại hình kinh tế tập thể , phát
triển mạnh các hộ kinh doanh cá thểvà các loại doanh nghiệp của tư nhân, thu hút
mạnh mẽ các nguồn đầu tư bên ngoài .
- Đổi mới kĩ thuật - công nghệ, tăng cường đầu tư chiều sâu thông qua đẩy
mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá nhằm thúc đẩy phân công lao đỗng xã hội và
cụ thể của nước ta , Đảng và Nhà nước từng bước nước ta ngang tầm với các
nước khác trong khu vực và thế giới. Chúng ta thấy được sự phát triển mạnh mẽ
về tư duy lý luân, sự nhận thức ngày càng toàn diện và sâu sắc của Đảng trong
quá trình phát triển kinh tế từ mô hình kế hoạch hoá tập trung ,bao cấp , quan
liêu sang mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN và cảm thấy tin tưởng
hơn vào sự lãnh đạo của Đảng cùng nhau ra sức góp phần vào công cuộc kiến
thiết nước nhà .
21
21
DANHMỤCTÀILIỆUTHAMKHẢO
1. Đặc trưng của kinh tế thị trường . VũĐình Bách , Trần Minh Hạo. Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia
2. Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin . NXB Chính trị quốc gia
3. Một số vấn đề về kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. TS. Vũ
Văn Phúc , Trần Thị Minh Châu. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội – 2001
4. Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội tốc độ nhanh, bền vững ,
chất lượng cao ở Việt Nam. NXB Thống kê hà Nội – 2005
5. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam . GS - TS. Lê Hữu Nghị
– TS.Đinh Văn Ân . NXB Chính trị quốc gia
6. Tạp chí cộng sản – 20/05/2007. Số 774 ( 04/2007 ). Bài của Hoàng Thị Bích
Loan
7. Tạp chí triết học số 8 ( 2007 ) . Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Triết
học
8. Triển vọng phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam đến năm 2010 . Bộ Khoa học
vàĐầu tư . Chủ biên : TS. Đinh Quý Xuân. NXB Thống kê – 2007
9. Thời báo kinh tế
10. Tạp chí triết học . Nguyễn Hữu Vượng ( 21/06/2007 )
11. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X
22
22