Đề tài " Vận dụng quan điểm toàn diện để phân tích quá trình xây dựng CNXH ở Việt nam hiện nay " - Pdf 19

Vận dụng quan điểm toàn diện để phân tích quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay.
Đề tài
" Vận dụng quan điểm toàn diện để
phân tích quá trình xây dựng CNXH
ở Việt nam hiện nay "
1
Đầu Khắc Quỳnh Lớp: Cao học 16E
1
Vận dụng quan điểm toàn diện để phân tích quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay.
MỤCLỤC
LỜIMỞĐẦU
Nước ta đang trong thời kỳ quáđộ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn
phát triển của chủ nghĩa tư bản trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh
tế quốc tế, do đó sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh đó
cũng có những điểm khác so với trước đây.
Trước những năm 1986, do nhận thức và vận dụng sai lầm lý luận của
chủ nghĩa Mác –Lênin vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã dẫn đến
những thất bại to lớn như sự sụp đổ của hệ thống các nước XHCN ở Liên xô
và các nước Đông Âu, còn ở Việt nam do nhận thức và vận dụng sai lầm đã
dẫn đến tụt hậu về kinh tế và khủng hoảng về chính trị.
Trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt,
các lĩnh vực của quá trình đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng đãđồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về chủ nghĩa
xã hội là khâu đột phá; trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới cả lĩnh
vực kinh tế lẫn lĩnh vực chính trị, Đảng ta cũng xem đổi mới kinh tế là trọng
tâm.
Thực tiễn hơn 20 năm đổi mớỉ nước ta mang lại nhiều bằng chứng xác
nhận tính đúng đắn của những quan điểm nêu trên. Đại hội đại biểu lần thứ
VIII của đảng đã khẳng định”xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc
đổi mới từđổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và
2

Quan điểm toàn diện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn là
một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng của phép
biện chứng duy vật. Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện là nguyên lý về
mối liên hệ phổ biến.
1.1. NGUYÊNLÝVỀMỐILIÊNHỆPHỔBIẾN
Theo quan điểm siêu hình, các sự vật hiện tượng tồn tại một cách tách
rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng không có sự phụ thuộc, không
có sự ràng buộc lẫn nhau, những mối liên hệ có chăng chỉ là những liên hệ
hời hợt, bề ngoài mang tính ngẫu nhiên. Một số người theo quan điểm siêu
hình cũng thừa nhận sự liên hệ và tính đa dạng của nó nhưng laị phủ nhận
khả năng chuyển hoá lẫn nhau giữa các hình thức liên hệ khác nhau.
Ngược lại, quan điểm biện chứng cho rằng thế giới tồn tại như một chỉnh
thể thống nhất. Các sự vật hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó
vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn
nhau.
Về nhân tố quy định sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong thế
giới, chủ nghĩa duy tâm cho rằng cơ sở của sự liên hệ, sự tác động qua lại
giữa các sự vật và hiện tượng là các lực lượng siêu tự nhiên hay ởý thức, ở
cảm giác của con người. Xuất phát từ quan điểm duy tâm chủ quan, Béccơli
coi cơ sở của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là cảm giác. Đứng trên
4
Đầu Khắc Quỳnh Lớp: Cao học 16E
4
Vận dụng quan điểm toàn diện để phân tích quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay.
quan điểm duy tâm khách quan, Hêghen lại cho rằng cơ sở của sự liên hệ qua
lại giữa các sự vật, hiện tượng làởý niệm tuyệt đối.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định cơ sở của sự
liên hệ qua lại giữa các sự vật hiện tượng là tính thống nhất vật chất của thế
giới.
Theo quan điểm này, các sự vật hiện tượng trên thế giới dù cóđa dạng,

động và phát triển của sự vật. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là phủ
nhận hoàn toàn vai trò của mối liên hệ bên ngoài đối với sự vận động và phát
triển của sự vật, hiện tượng. Mối liên hệ bên ngoài cũng hết sức quan trọng,
đôi khi có thể giữ vai trò quyết định.
Mối liên hệ bản chất và không bản chất, mối liên hệ tất yếu và ngẫu
nhiên cũng có tính chất tương tự nhưđã nói ở trên. Ngoài ra chúng còn có
những nét đặc thù. Chẳng hạn như, cái là ngẫu nhiên khi xem xét trong quan
hệ này lại là cái tất nhiên khi xem xét trong mối liên hệ khác, ngẫu nhiên lại
là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của cái tất yếu, hiện tượng là hình thức
biểu hiện ít nhiều đầy đủ của bản chất. Đó là những hình thức đặc thù của sự
biểu hiện những mối liên hệ tương ứng.
Như vậy, quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệđòi hỏi phải thừa
nhận tính tương đối trong sự phân loại các mối liên hệ. Các loại liên hệ khác
nhau có thể chuyển hoá lẫn nhau. Sự chuyển hoá như vậy có thể diễn ra hoặc
do thay đổi phạm vi bao quát khi xem xét, hoặc do kết quả vận động khách
quan của chính sự vật và hiện tượng.
Trong tính đa dạng của các hình thức và các loại liên hệ tồn tại trong tự
nhiên, trong xã hội và trong tư duy con người, phép biện chứng duy vật, tập
trung nghiên cứu những loại liên hệ chung, mang tính chất phỏ biến. Những
hình thức và những kiểu liên hệ riêng biệt trong các bộ phận khác nhau của
thế giới làđôí tượng nghiên cứu của các ngành khoa học khác.
6
Đầu Khắc Quỳnh Lớp: Cao học 16E
6
Vận dụng quan điểm toàn diện để phân tích quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay.
1.2 - QUANĐIỂMTOÀNDIỆNTRONGTRIẾTHỌC MÁC- LÊNIN
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện
tượng, triết học Mác - Lênin rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức.
Với tư cách làmột nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức
các sự vật hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để cóđược nhận thức

chân lý bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển. Để nhận
thức được sự vật , cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, "cần thiết phải
xem xét tất cả mọi mặt đểđề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự
cứng nhắc."
Quan điểm toàn diện đối lập với cách nhìn phiến diện, một chiều; đối lập
với chủ nghĩa triết chung và thuật ngụy biện. Không chỉở chỗ nó chúýđến
nhiều mặt, nhiều mối liên hệ. Việc chúý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ vẫn
có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang nhaunhững thuộc tính,
những quy định khác nhau của của sự vật được thể hiện trong những mối
liên hệ khác nhau đó. Quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi
từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để
rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng
đó.
Như vậy, quan điểm toàn diện cũng không đồng nhất với cách xem xét
dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật, hiện tượng. Nóđòi
hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hiện tượng đó.
Có thể kết luận, quá trình hình thành quan điểm toàn diện đúng đắn với
tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật sẽ phải trải qua
các giai đoạn cơ bản làđi từý niệm ban đầu về cái toàn thểđểđể nhận thức
một mặt, một mối liên hệ nào đó của sự vật rồi đến nhận thức nhiều mặt,
nhiều mối liên hệ của sự vật đó và cuối cùng, khái quát những tri thức phong
phúđóđể rút ra tri thức về bản chất của sự vật.
Quan điểm toàn diện vừa khác chủ nghĩa chiết trung vừa khác thuật
nguỵ biện. Chủ nghĩa chiết trung tuy cũng tỏ ra chúý tới nhiều mặt khác nhau
nhưng lại kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành
8
Đầu Khắc Quỳnh Lớp: Cao học 16E
8
Vận dụng quan điểm toàn diện để phân tích quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay.
một hình ảnh không đúng về sự vật. Chủ nghĩa chiết trung không biết rút ra

vươn tới luôn đại diện cho những giá trị tiến bộ của nhân loại, đại diện lợi ích
của những người lao động, là hình thái xã hội cao hơn CNTB. Quá trình cách
mạng đó vì sự nghiệp cao cả là giải phóng con người, vì sự nghiệp phát triển
tựdo và toàn diện của con người, vì tiến bộ chung của loài người. Đi theo dòng
chảy của thời đại cũng tức làđi theo quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử.
-Cách mạng Việt nam phát triển theo con đường độc lập dân tộc, gắn liền
với chủ nghĩa xã hội. Tính tất yếu lịch sửấy xuất hiện từ những năm 20 của
thế kỷ XX. Nhờđi con đường ấy, nhân dân ta đã làm cách mạng tháng Tám
thành công, đã tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến hoàn thành sự
nghiệp giải phóng dân tộc. Ngày nay, chỉ cóđi lên CNXH mới giữ vững được
độc lập dân tộc, tự do cho dân tộc, mới thực hiện đựoc mục tiêu làm cho mọi
người được ấm no, tự do hạnh phúc. Sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta như vậy là sự lựa chọn cuả chính lịch sử
dân tộc lại vừa phù hợp với xu thế của thời đại. Điều đó cũng thể hiện sự
quáđộ lên CNXH bỏ qua chếđộ TBCN ở nước ta là một tất yếu lịch sử.
2.2- VẬNDỤNGQUANĐIỂMTOÀNDIỆNVÀOSỰNGHIỆPXÂYDỰNG CNXH
Ở VIỆTNAM
Đểđảm bảo cóđược nhận thức đúng đắn về một vấn đề, chúng ta phải
xem xét vấn đềđó theo quan điểm toàn diện. Điều này có nghĩa là phải xem
xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ tác động qua lại giữa các bộ phận,
các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của sự vật, hiện tượng cũng như trong
mối liên hệ qua lại giữa sự vật đối với các sự vật khác và trong mối liên hệ
với nhu cầu thực tiễn của con người.
Với mục đích cóđược nhận thức đúng đắn, từđóđề ra những chủ trương,
chính sách đúng nhằm góp phần hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cao cả là xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt nam cuả nhân dân ta thì trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta phải có một cái nhìn toàn diện đối với các
nhân tố cuẩ lực lượng sản xuất cũng như các nhân tố của quan hệ sản xuất
10
Đầu Khắc Quỳnh Lớp: Cao học 16E

11
Đầu Khắc Quỳnh Lớp: Cao học 16E
11
Vận dụng quan điểm toàn diện để phân tích quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay.
dùng phải dựa vào nguồn nước ngoài (riêng lương thực phải nhập 5,6 triệu tấn
trong thời gian 1976 - 1980. Năm 1985 nợ nước ngoài lên tới 8,5 tỉ Rup cái hố
ngăn cách giữa nhu cầuvà năng lực sản xuất ngày càng sâu.
Phân phối lưu thông bị rối ren. Thị trường tài chính, tiền tệ không ổn
định. Ngân sách Nhà nước liên tục bị bội chi và ngày càng lớn năm 1980 là
18,1%, 1985 là 36,6% dẫn đến bội chi tiền mặt. Năm 1986, trên phạm vi cả
nước, lạm phát đã xuất hiện và ngày càng nghiêm trọng giá cả tăng nhanh. Đời
sống nhân dân ngày càng khó khăn, do đó tiêu cực và bất công xã hội tăng lên.
Trật tự xã hội bị giảm sút. Những điều đó chứng tỏ trong giai đoạn này nước ta
bị khủng hoảng kinh tế chính trị, xã hội.
2.2.2 Vận dụng quan điểm toàn diện vào sự nghiệp xây dựng CNXH
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Đi lên CNXH là con đường tất yếu của nước ta. Chúng ta phê phán
những khuyết tật, sai lầm trong quá trình xây dựng CNXH nhưng không
quan niệm những lệch lạc đó là khuyết tật của bản thân chếđộ, coi khuyết
điểm là tất cả, phủđịnh thành tựu, từđó dao động về mục tiêu và con đường
đi lên CNXH. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu CNXH, mà là làm
cho mục tiêu ấy được thực hiện có kết quả bằng những quan niệm đúng đắn
về CNXH, bằng những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp.
Điều cốt yếu để công cuộc đổi mới giữđược định hướng CNXH vàđi đến
thành công là trong quá trình đổi mới, Đảng phải kiên trì vận dụng sáng tạo
chủ nghĩa Mác-Lênin. Đảng phải tựđổi mới và chỉnh đốn, không ngừng nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình.
Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để nhưng phải có bước đi, hình thức
và cách làm thích hợp. Thực tiễn cho thấy đổi mới là cuộc cách mạng sâu sắc
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trên từng lĩnh vực, nội dung của

nền kinh tế nước ta phát triển hoà nhập với trình độ phát triển kinh tế thế
giới.
13
Đầu Khắc Quỳnh Lớp: Cao học 16E
13
Vận dụng quan điểm toàn diện để phân tích quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay.
Đổi mới kinh tế là tiền đề cho đổi mới chính trị, nó tạo ra nền tảng vật
chất cho ổn định về chính trị xã hội, nó làm nảy sinh nhu cầu đổi mới
hệthống chính trị, làm cho nó năng động và trở thành động lực thực sự của sự
phát triển kinh tế.
Đổi mới chính trị phải xuất phát từ yêu cầu đổi mới kinh tế, phải phù hợp
với đổi mới kinh tế.
Đổi mới chính trị chính làđổi mới ở bộ phận quan trọng của KTTT, đổi
mới chính trị thể hiện ởđổi mới tổ chức, đổi mới bộ máy, phân cấp lãnh đạo
của Đảng, dân chủ hoá trước hết từ trong Đảng.
Đổi mới chính trị, tạo điều kiện cho đổi mới kinh tế
Khi đường lối chính trị, thiết chế chính trịđược đổi mới phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế thì chính trị trở thành định hướng cho phát triển kinh
tế. Đồng thời tạo môi trường phát triển về an ninh trật tựđể phát triển kinh tế
và chính trị còn đóng vai trò can thiệp điều tiết, khắc phục những mặt trái do
đổi mới kinh tếđưa đến.
Một trong những đặc trưng cơ bản của CNXH đó là nền kinh tế nhiều
thành phần, trước đây do nhận thức sai lầm chúng ta đã xóa bỏ mọi thành
phần kinh tế, chỉ còn 2 lại thành phần kinh tế là kinh tế nhà nước và kinh tế
tập thể, thì nay chúng ta phải chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần trong đó thành phần kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủđạo vàđi đôi
với vai trò tăng cường quản lý của nhà nước về kinh tế-xã hội.
Trước đại hội VI, chúng ta đã nóng vội và nhất loạt xây dựng QHSX một
thành phần dựa trên cơ sở công hữu XHCN về tư liệu sản xuất, làm như vậy
là chúng ta đãđẩy QHSX đi quá xa so với trình độ phát triển của LLSX tạo ra

đắn để phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu quả tiềm năng của đất
nước vào sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Trên cơ sởđánh giá những vấn đề thực tiễn trong đổi mới cơ chế quản lýở
nước ta từ năm 1986 đến nay, trong các kỳĐại hội Đảng ta tiếp tục làm rõ nội
dung và phương thức đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo hướng "xóa bỏ cơ chế
tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
15
Đầu Khắc Quỳnh Lớp: Cao học 16E
15
Vận dụng quan điểm toàn diện để phân tích quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay.
nước theo định hướng XHCN"
(2)
. Điều đó thực chất là quá trình đổi mới cả hệ
thống các công cụ, chính sách quản lý và tăng cường chức năng quản lý của
Nhà nước.
Và một trong những nội dung quan trong trong công cuộc đổi mới đất nước
đó là Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tếđối ngoại.
Đại hội VI đã chỉ rõ:"Cùng với việc mở rộng xuất nhập khẩu tranh thủ
vốn viện trợ và vay dài hạn cần vận dụng nhiều hình thức đa dạng để phát triển
kinh tếđối ngoại" (1). Thực hiện chủ trương đó, Nhà nước đã ban hành chính
sách "mở cửa" để thu hút vốn và kỹ thuật nước ngoài, từng bước gắn nền kinh
tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, thị trường trong nước với thị trường quốc tế
trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, đảm bảo độc lập, chủ quyền dân tộc
và an ninh quốc gia.
- Về ngoại thương, cải cách ngoại thương được thực hiện theo hướng
từng bước mở cửa và hội nhập quốc tế.
Chủ trương của Đảng và Nhà nước là: Đẩy mạnh xuất khẩu đểđáp ứng
nhu cầu nhập khẩu, coi xuất khẩu là một trong 3 chương trình trọng điểm của
chặng đường đầu tiên, là hướng ưu tiên của kinh tếđối ngoại trong suốt thời
kỳđổi mới. Các giải pháp cụ thể là:

nước.
Hai mươi năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đãđạt những thành tựu to lớn và cóý nghĩa
lịch sử.
Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản
và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh: Nhưng đầu thập kỷ 90, nền kinh tế
nước ta liên tục tăng trưởng ổn định vàđạt đến đỉnh cao là 9,5% vào năm 1995.
Đặc biệt trong kế hoạch 5 năm (1991-1995), lần đầu tiên ta đã hoàn thành vượt
mức nhiều chỉ tiêu của kế hoạch này.Tất cả các mục tiêu kinh tế - xã hội của kế
hoạch 5 năm (1996-2000) và chiến lược kinh tế 10 năm (1991-2000) đều đạt và
vượt kế hoạch; GDP trong 10 này tăng bình quân hàng năm 7,56%/năm nhờ
vậy GDP năm 2000 đã gấp 2,07 lần năm 1990. Riêng 2 năm 1998-1999 nền
17
Đầu Khắc Quỳnh Lớp: Cao học 16E
17
Vận dụng quan điểm toàn diện để phân tích quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay.
kinh tế tăng trưởng châm hơn trước (5,8% và 4,8%) vì bịảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ cùng với thiên tai xảy ra trong nhiều vùng trên cả
nước. Tuy nhiên đến năm 2000-2002 tốc độ tăng trưởng lại tăng lên đạt 6,7%;
6,8% và 7,0% đặc biệt năm2005 là 8,0% đưa tốc độ tăng trưởng bình quân
trong 5 năm 2001-2005 từ 7,5%. Năm 2006 nước ta duy trì tốc độ tăng trưởng ở
mức 7,4% và năm 2007 tốc độ tăng trưởng kinh tế là 8,4%, nước ta trở thành
một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trên thế giới.
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ
rệt, từ chỗ nước ta là nước phải nhập khẩu lương thực trước đây trở thành một
trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới( đứmg thứ 2 sau Thái
lan).
Cơ cấu ngành kinh tếđã có sự chuyển dịch theo hướng khu vực I (gồm
nông, lâm nghiệp và thuỷ sản) tuy vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao liên tục nhưng

lịch sử trong quan hệđối ngoại của nước ta khi Việt Namđược bầu cửđại diện
cho châu á là thành viên không thường trực tại Hội đồng bảo an Liên Hợp
Quốc.
Những thành tựu đó chứng tỏđường lối đổi mới của Đảng ta làđúng đắn,
sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý
luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản.
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu,
nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế
phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt
Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự
19
Đầu Khắc Quỳnh Lớp: Cao học 16E
19
Vận dụng quan điểm toàn diện để phân tích quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay.
lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các
nước trên thế giới.
Đểđi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây
dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của
xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân
tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc
quốc phòng và an ninh quốc gia; chủđộng và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
2.2.2 Những hạn chế còn tồn tại trong công cuộc đổi mới nền kinh tế

cạnh tranh và thị trường.
Việc hoạch định và thực hiện các chủ trương, chính sách thúc đẩy phát
triển và vận hành hệ thống thị trường chưa đồng bộ; một số nguyên tắc của thị
trường bị vi phạm; tư duy bao cấp chưa được khắc phục triệt để.
Thứ hai: Cơ chế, chính sách về văn hoá - xã hội chậm đổi mới; nhiều
vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết tốt
Kết quả xoáđói giảm nghèo chưa thật vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn
lớn. Khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các tầng lớp nhân
dân, giữa các vùng có xu hướng doãng ra. Nhu cầu về việc làm ở thành thị và
nông thôn chưa được đáp ứng tốt.
Chất lượng giáo dục vàđào tạo còn thấp. Khoa học và công nghệ chưa đáp
ứng kịp yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong một bộ phận báo chí,
xuất bản, văn hoá, nghệ thuật, xu hướng xa rời tôn chỉ, mục đích, chạy theo lợi
ích vật chất đơn thuần chưa được khắc phục. Quản lý nhà nước đối với một số
lĩnh vực trong giáo dục, y tế, thể dục thể thao còn yếu kém.
Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng. Tội phạm và một số
tệ nạn xã hội có chiều hướng tăng. Tai nạn giao thông gây nhiều thiệt hại về
người và của.
21
Đầu Khắc Quỳnh Lớp: Cao học 16E
21
Vận dụng quan điểm toàn diện để phân tích quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay.
Thứ ba: Các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn một số mặt
hạn chế.
Sức mạnh tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ
trang chưa được phát huy đầy đủ. ở một sốđịa bàn, còn những yếu tố gây mất
ổn định chính trị - xã hội.
Công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại
chưa theo kịp diễn biến của tình hình. Sự phối hợp giữa an ninh, quốc phòng
vàđối ngoại trong việc giải quyết một số vấn đề cụ thể thiếu chặt chẽ.

triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư
tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng.
Hai là,đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và
cách làm phù hợp. Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ
kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt
động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng
bộ phận của hệ thống chính trị. Đổi mới tất cả các mặt của đời sống xã hội
nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm, có những bước đi thích hợp; bảo đảm sự
gắn kết chặt chẽ vàđồng bộ giữa ba nhiệm vụ: phát triển kinh tế là trung tâm,
xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần của xã
hội.
Ba là,đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai
trò chủđộng, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái
mới. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân. Những
ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân có vai trò quan trọng trong việc
hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Dựa vào nhân dân, xuất phát từ thực
tiễn và thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, từng bước tìm
ra quy luật phát triển, đó là chìa khoá của thành công.
Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới. Phát huy nội
23
Đầu Khắc Quỳnh Lớp: Cao học 16E
23
Vận dụng quan điểm toàn diện để phân tích quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay.
lực, xem đó là nhân tố quyết định đối với sự phát triển; đồng thời coi trọng huy
động các nguồn ngoại lực, thông qua hội nhập và hợp tác quốc tế, tranh thủ các
nguồn lực bên ngoài để phát huy nội lực mạnh hơn, nhằm tạo ra sức mạnh tổng
hợp để phát triển đất nước nhanh và bền vững, trên cơ sở giữ vững độc lập dân
tộc vàđịnh hướng xã hội chủ nghĩa.
Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không

25
Đầu Khắc Quỳnh Lớp: Cao học 16E
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status