Trường Kinh Tế Quốc Dân 1
Đề tài thực tập
Luận văn
Đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng cho
vay đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản
tại ngân hàng Đầu Tư và Phát triển chi
nhánh Quảng Trị”
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 2
Đề tài thực tập
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY CỦA
NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI LĨNH VỰC ĐẦU TƯ XDCB 3
1.1 Khát quát về lĩnh vực đầu tư XDCB 3
1.1.1 Khái niệm lĩnh vực đầu tư XDCB 3
1.1.2 Đặc điểm của lĩnh vực đầu tư XDCB 4
1.1.3 Vai trò của đầu tư XDCB đối với nền kinh tế 6
1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 7
1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc cho vay của ngân hàng 7
1.2.1.1 Khái niệm 7
1.2.1.2 Các nguyên tắc cho vay 8
1.2.2 Vai trò nguồn vốn của ngân hàng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 8
1.2.3 Phân loại cho vay đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 9
1.2.4 Quy trình cho vay đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 13
1.3 Chất lượng cho vay của ngân hàng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 14
1.3.1 Khái niệm chất lượng cho vay của ngân hàng đối với lĩnh vực đầu tư
XDCB 14
1.3.2 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng và lĩnh
vực đầu tư XDCB 16
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 48
2.3.2.1 Hạn chế 48
2.3.2.2 Nguyên nhân 49
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 4
Đề tài thực tập
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY CỦA
NGÂN HÀNG ĐT VÀ PT CHI NHÁNH QUẢNG TRỊ ĐỐI VỚI LĨNH
VỰC ĐẦU TƯ XDCB 54
3.1 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB
tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 54
3.1.1 Yêu cầu công tác tín dụng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB trong thời
gian tới 54
3.1.2 Mục tiêu chung 54
3.1.3 Mục tiêu cụ thể 54
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay đối với lĩnh vực đầu
tư XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 56
3.2.1 Hoàn thiện chính sách tín dụng 56
3.2.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng - đặc biệt là
cán bộ tín dụng 61
3.2.3 Nâng cao chất lượng kiểm tra, kiểm soát nội bộ 62
3.2.4 Tổ chức, trao đổi, rút kinh nghiệm đối với từng khoản vay và từng
nghiệp vụ 63
3.2.5 Nâng cao chất lượng tín dụng đối với dự án đầu tư XDCB 64
3.2.6 Thực hiện tốt công tác xử lý nợ quá hạn đối với lĩnh vực đầu tư
XDCB 65
3.2.7 Giải quyết mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn 66
3.3 Các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cho vay đối với lĩnh vực đầu tư
XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 67
biệt trong lĩnh vực xây dựng cơ bản (XDCB). Theo thống kê của ngân hàng nhà
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 6
Đề tài thực tập
nước cuối năm 2006, nợ quá hạn đối với lĩnh vực đầu tư XDCB chiếm 42% tỷ lệ
nợ quá hạn. Nhưng không phải vì thế mà ngân hàng giảm doanh số cho vay đối
với lĩnh vực này một lĩnh vực góp phần thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, nâng cao điều kiện về cơ sở, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, góp phần vào sự
nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Như chúng ta đã biết, một trong những mục tiêu của ngân hàng là tối đa hoá
lợi nhuận. Do đó, nó đòi hỏi ngành ngân hàng phải có giải pháp đồng bộ nhằm
nâng cao chất lượng hoạt động cho vay đối với đầu tư XDCB.
Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển (ĐT và PT) Việt Nam tiền thân là ngân
hàng cấp phát vốn cho xây dựng vì thế khách hàng chủ yếu và truyền thống của
ngân hàng là các doanh nghiệp xây dựng. Tình hình nợ quá hạn, nợ khó thu hồi
của doanh nghiệp xây dựng đang là vấn đề nhức nhối đối với ngân hàng, đặc biệt
trong tình hình giá cả đầy biến động như hiện nay.
Nhận thức được điều này, trong quá trình thực tập tại ngân hàng ĐT và PT
chi nhánh Quảng Trị, đề tài:
“Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ
bản tại ngân hàng Đầu Tư và Phát triển chi nhánh Quảng Trị” là một trong
những vấn đề quan trọng hiện nay của ngân hàng.
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm ba
chương:
Chương I: Khái quát chung về chất lượng cho vay của NHTM đối với
lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản
Chương II: Thực trạng chất lượng cho vay của ngân hàng ĐT và PT chi nhánh
Quảng Trị đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng ĐT và PT
Trong đó, đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định và
tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. Đầu tư XDCB nhằm tạo ra các công
trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư. Đó là một hoạt động kinh tế.
Trong hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư phải quan tâm đến các yếu tố: sức
lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động. Khác với đối tượng lao động
(nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm ) các tư liệu lao động (như
máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiên vận tải, ) là những phương tiện vật
chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó theo
mục đích của mình. Bộ phận quan trọng nhất trong các tư liệu lao động là các tài
sản cố định. Đó là các tư liệu lao động chủ yếu được sử dụng một cách trực tiếp
hay gián tiếp trong quá trình sản xuất kinh doanh như máy móc, thiết bị, phương
tiện vận tải, nhà xưởng, các công trình kiến trúc, tài sản cố định vô hình Thông
thường một tư liệu lao động được coi là một tài sản cố định phải đồng thời thoả
mãn hai tiêu chuẩn cơ bản: Phải có thời gian sử dụng tối thiểu và phải đạt giá trị
tối thiểu ở một mức quy định. Tiêu chuẩn này được quy định riêng đối với từng
nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với giá cả của từng thời kì.
Những tư liệu lao động không đủ các tiêu chuẩn quy định trên được coi là
những công cụ lao động nhỏ, được mua sắm bằng nguồn vốn lưu động. Tài sản
cố định được chia thành hai loại: tài sản cố định có hình thái vật chất (tài sản cố
định hữu hình) và tài sản cố định không có hình thái vật chất (tài sản cố định vô
hình). Để có được tài sản cố định, chủ đầu tư có thể thực hiện bằng nhiều cách
như: xây dựng mới, mua sắm, đi thuê,
1.1.2 Đặc điểm của lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 9
Đề tài thực tập
* Sản phẩm của đầu tư XDCB là những công trình như nhà máy, công trình
công cộng, nhà ở, cầu cống, sân bay, cảng biển thường gắn liền với đất đai, kết
tinh từ các thành quả khoa học - công nghệ. Đó là kết quả của nhiều ngành,
* Sản xuất xây dựng cần nhiều lao động sống, mà lao động lại là nguồn tài
nguyên quý hiếm nên bài toán sử dụng lao động luôn luôn đặt ra với mọi phương
án thi công.
* Công nghệ xây dựng biến đổi chậm, thị trường cạnh tranh khá tự do nên
rất gay gắt.
1.1.3 Vai trò của lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản đối với nền kinh tế
Thứ nhất, đầu tư XDCB đã góp phần phát triển nhanh kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội. Nguồn vốn đầu tư của Nhà nước trong thời gian qua đã tập trung đầu
tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kinh tế - xã hội ở các vùng, ngành trong
cả nước; quan tâm đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn và nông nghiệp, các vùng
sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kinh tế - xã
hội ngày càng được phát triển, hoàn thiện, làm thay đổi diện mạo của nhiều địa
phương trong cả nước, một số đô thị mới ra đời; nhiều khu công nghiệp được
hình thành; nhiều sân bay, bến cảng được hiện đại hóa; giao thông đường bộ
(quốc lộ, tỉnh lộ) phát triển mạnh; giao thông nông thôn được cải thiện; vận tải
đường sắt được nâng cấp; bệnh viện và trạm y tế đạt tiêu chuẩn cao hơn; các
trường đại học, cao đẳng, trung học dạy nghề và các trường trung học phổ thông
được xây dựng khang trang hơn; các trường trung học cơ sở, tiểu học ở các vùng,
kể cả các vùng khó khăn đang nhanh chóng được kiên cố hóa.
Thứ hai, đầu tư XDCB góp phần phát triển kinh tế. Tốc độ và quy mô đầu
tư XDCB tăng đã góp phần quan trọng vào tăng tốc độ GDP hàng năm, tăng
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 11
Đề tài thực tập
cường tiềm lực nền kinh tế, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân.
Thứ ba, đầu tư XDCB đã góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng đáng kể năng lực sản
xuất mới. Trong những năm qua, công tác XDCB đã tập trung vào những mục
dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích nhất định theo thỏa thuận với
nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi ”.
1.2.1.2 Các nguyên tắc cho vay
Cho vay là hoạt động đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng nhưng
đồng thời nó cũng mang lại nhiều rủi ro nhất. Vì vậy, để đảm bảo tính an toàn và
khả năng sinh lời đòi hỏi các ngân hàng phải bám sát các quy định của ngân
hàng Nhà nước một cách chặt chẽ. Theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN có
hai nguyên tắc cho vay:
Thứ nhất: Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng.
Nguyên tắc này đòi hỏi khách hàng phải cam kết sử vốn vay đúng mục đích
đã ghi trong hợp đồng tín dụng, không trái với các quy định của pháp luật và các
quy định của ngân hàng cấp trên.
Thứ hai, hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong
hợp đồng tín dụng.
Đây là điều kiện quan trọng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Để đáp ứng cho vay, ngân hàng phải huy động tiền gửi từ các tổ chức kinh tế và
dân cư với một lãi suất nhất định và ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả cả
gốc và lãi đã cam kết. Do đó, ngân hàng luôn yêu cầu người nhận tín dụng phải
thực hiện cam kết này. Vì lí do nào đó, khách hàng không hoàn trả hay hoàn trả
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 13
Đề tài thực tập
chậm gốc hoặc lãi thì ngoài việc khách hàng chịu lãi phạt khách hàng còn khó
khăn trong lần vay sau.
1.2.2 Vai trò nguốn vốn của ngân hàng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB
Nguồn vốn ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Nó là “bà
đỡ” của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp XDCB nói riêng. Như ta
đã biết, đặc điểm của ngành xây dựng là sau khi nghiệm thu công trình nhà đầu
quyết địng số 1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của tổ
chức tín dụng đối với khách hàng, thời hạn cho vay được phân thành:
+ Tín dụng ngắn hạn: Là khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng.
+ Tín dụng trung hạn: Là khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng
đến 60 tháng.
+ Tín dụng dài hạn: Là khoản vay có thời hạn cho vay từ 60 tháng trở lên.
Tổ chức tín dụng và khách hàng căn cứ vào thời gian xây dựng, thời hạn thu
hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng để thoả thuận thời hạn
cho vay.
Các khoản vay không xác định trước thời hạn như vay luân chuyển, khách
hàng thoả thuận với ngân hàng về việc ngân hàng được quyền trích tiền trên tài
khoản tiền gửi thanh toán để thu nợ khi tài khoản có tiền. Việc xác định trước
thời hạn thu nợ trong trường hợp này có thể gây khó khăn cho khách hàng trong
việc tiêu thụ sản phẩm.
Trong XDCB, các công trình cho vay chủ yếu là công trình của Nhà nước vì
thế nó được cấp vốn hàng năm theo dự toán của ngân sách Nhà nước. Có thể
năm nay Nhà nước bố trí được vốn cho công trình này nhưng năm sau chưa chắc
phân bổ được. Vì thế cho vay ngắn hạn là một trong những giải pháp nhằm tránh
rủi ro và đó là hình thức cho vay chủ yếu ở ngân hàng.
Thứ hai, cho vay theo tài sản đảm bảo
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 15
Đề tài thực tập
Cho vay là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn nhất song nó chứa đựng nhiều
rủi ro nhất vì thế trong nhiều trường hợp ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có
tài sản đảm bảo khi nhận tín dụng. Lí do vì rủi ro luôn ẩn chứa trong quá trình
xây dựng. Doanh nghiệp có thể mất khả năng trả nợ cho ngân hàng vì các công
trình chưa được thanh toán vốn hay thanh toán chậm. Những biến cố không
mong đợi đó có thể gây ra cho ngân hàng những tổn thất lớn. Chính vì vậy, trừ
với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên không có điều kiện để được
cấp thấu chi. Các công trình khi nào xác định được nguồn vốn thì chủ đầu tư mới
vay vốn ngân hàng để thi công. Mỗi lần vay, khách hàng phải làm đơn và trình
ngân hàng phương án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và kí
hợp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân và thời hạn trả
nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi món vay được tách thành mỗi hồ
sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau. Theo từng kì hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng
sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ
kiểm soát mục đích và hiệu quả. Nếu thấy có vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ
thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn. Lãi suất có thể cố định hoặc thả nỗi
theo thời điểm tính lãi.
* Cho vay theo hạn mức: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả
thuận với khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì
hoặc cuối kì. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Hạn mức tín dụng được cấp
trên tài sản, cơ sở kế hoạch xây dựng, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách
hàng. Trong kì khách hàng có thể vay trả nhiều lần, song dư nợ không vượt quá
hạn mức tín dụng. Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn mức cuối kì. Dư
nợ trong kì có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên, đến cuối kì khách hàng phải trả
nợ để giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kì không được vượt quá hạn mức. Phương
án này áp dụng đối với khách hàng vay thường xuyên, khi khách hàng có thu
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 17
Đề tài thực tập
nhập, ngân hàng sẽ thu nợ do đó tạo chủ động trong quản lí ngân quỹ cho khách
hàng. Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài
chính hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
* Cho vay theo dự án đầu tư: Là hình thức ngân hàng cho khách hàng vay để
thực hiện dự án đầu tư phát triển. Mỗi doanh nghiệp có tình hình tài chính lành
mạnh là cơ sở quan trọng để ngân hàng quyết định cho vay nhằm thực hiện dự
TCDN 46QN
Yêu cầu bổ sung thêm thông tin
Chuyển sang quy trình thẩm định tín dụng
Hỗ trợ khách hàng hoàn thiện hồ sơ nếu cần thiết
Cung cấp mẫu hồ sơ
Phỏng vấn
Từ chối Đánh giá sơ bộ
Hoãn/yêu cầu thêm thông tin
Đạt yêu cầu
Không đạt
Không đạt
Kiểm tra lịch sử quan hệ tín dụng
Đạt yêu cầu
Kiểm tra hồ sơ
Chấp nhận hồ sơ
Đạt yêu cầu
Trường Kinh Tế Quốc Dân 18
Đề tài thực tập
- Thẩm định trước khi cho vay.
- Kiểm tra, giám sát trước khi cho vay.
- Kiểm tra, giám sát, thu hồi nợ sau khi cho vay.
Sơ đồ dưới đây tóm tắt quy trình tiếp nhận vốn vay, quy trình đánh giá và
thẩm định:
Sơ đồ 1.1: Quy trình tiếp nhận vốn vay, đánh giá và thẩm định
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 19
Đề tài thực tập
1.3 Chất lượng cho vay của ngân hàng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB
1.3.1 Khái niệm chất lượng cho vay của ngân hàng đối với lĩnh vực đầu tư
sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế mới.
Hoạt động cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người
lao động, làm gia tăng nguồn sản phẩm cho xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế
và khai thác khả năng tiềm ẩn trong nền kinh tế, thu hút tối đa nguồn vốn nhàn
rỗi trong nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển.
1.3.2 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng cho vay đối với ngân hàng và
lĩnh vực đầu tư XDCB
* Đối với ngân hàng
Thứ nhất, nâng cao chất lượng tín dụng đối với ngân hàng là một tất yếu và
khách quan trong nền kinh tế thị trường: NHTM là loại hình doanh nghiệp
chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Mục tiêu kinh
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 21
Đề tài thực tập
doanh của ngân hàng cũng như các loại hình doanh nghiệp khác hoạt động trong
cơ chế thị truờng đó là lợi nhuận.
Cho vay là hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng, song phần lớn rủi ro
và mất an toàn đều phát sinh ở đây. Vì vậy biện pháp để duy trì sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng là đảm bảo cho hoạt động cho vay lành mạnh. Việc nâng cao
chất lượng tín dụng trong hoạt động cho vay giúp cho các ngân hàng đảm bảo sự
an toàn trong hoạt động, tăng lợi nhuận và giúp ngân hàng xây dựng hình ảnh, uy
tín, khẳng định vị thế của mình, tăng sự cạnh tranh trên thị trường.
Thứ hai, chất lượng tín dụng của các ngân hàng quốc doanh chưa cao. Thực
tế cho thấy, các NHTM quốc doanh hiện nay năng lực tài chính yếu, chất lượng
và hiệu quả kinh doanh thấp, trình độ chuyên nghiệp về quản trị điều hành và
công nghệ thấp, rủi ro lớn. Nếu không nâng cao chất luợng cho vay thì sẽ dần
dần bị “loại khỏi cuộc chơi” của guồng quay nền kinh tế thị trường.
Thứ ba, nâng cao chất lượng nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các
NHTM trong nền kinh tế hội nhập. Việc hội nhập khu vực, tham gia vào tiến
nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cấp cho các doanh nghiệp đóng vai trò quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình xây dựng, từ đó tạo
cho doanh nghiệp có chổ đứng vững chắc trong cạnh tranh. Nâng cao chất lượng
tín dụng còn làm cho doanh nghiệp giảm được thời gian và chi phí, thủ tục nhanh
gọn, đáp ứng kịp thời nguồn vốn.
* Đối với nền kinh tế
Vốn là yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và
ngược lại khi nền kinh tế ngày càng phát triển tạo ra nhiều vốn. Khi ngân hàng
tăng chất lượng cho vay sẽ góp phần thực hiện các mục tiêu của Nhà nước, tạo
cân bằng xã hội, giải quyết công ăn việc làm cho xã hội, góp phần đưa nền kinh
tế ngày càng phát triển.
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 23
Đề tài thực tập
1.3.3 Các chỉ tiêu đo lường chất lượng cho vay của ngân hàng đối với lĩnh
vực đầu tư XDCB
Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng, chiếm tỉ trọng
cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động
mang lại rủi ro cao nhất. Đặc biệt cho vay lĩnh vực XDCB lại càng rủi ro hơn. Vì
thế, để đánh giá chất lượng hoạt động cho vay của NHTM đối với lĩnh vực
XDCB, người ta thường xem xét trên một số giác độ sau:
1.3.3.1 Chỉ tiêu định lượng
* Quy mô cho vay
Quy mô hoạt động cho vay của ngân hàng dùng phản ánh tình hình hoạt
động cho vay của ngân hàng về số lượng được thể hiện thông qua các chỉ tiêu cụ
thể như: doanh số cho vay, doanh số thu nợ và dư nợ cho vay của ngân hàng tại
một thời điểm cụ thể. Để đánh giá quy mô của ngân hàng thay đổi như thế nào
thì cần phải theo dõi, so sánh các chỉ tiêu trên theo trật tự thời gian.
Dư nợ
hệ với việc phân tích các yếu tố chủ quan và khách quan có ảnh hưởng đến chất
lượng tín dụng của ngân hàng, để có thể đánh giá đúng đắn, chính xác, khoa học.
* Nợ qúa hạn và tỷ lệ nợ quá hạn
Rủi ro tín dụng là rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa nó rất khó
khăn, nó có thể xảy ra bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Một rủi ro nào đó từ phía người
vay cũng có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng. Rủi ro ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động cho vay của ngân hàng nói riêng và toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngân
hàng nói chung. Do đó, quản lý rủi ro cần được quan tâm, đặc biệt là trong nền
kinh tế thị trường hiện nay. Để đo lường rủi ro trong hoạt động cho vay của
NHTM người ta thường quan tâm tới một số chỉ tiêu đánh giá: quá hạn và tỷ lệ
nợ quá hạn.
Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hoạt động
cho vay của ngân hàng. Nó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng ở
hiện tại và tương lai. Nợ quá hạn của trong lĩnh vực đầu tư XDCB là một phần
hay toàn bộ số dư nợ (cả gốc lẫn lãi) của khách hàng đã đến hạn thanh toán với
ngân hàng nhưng khách hàng không thanh toán được mà vẫn chưa được ngân
hàng xử lí cho điều chỉnh kì hạn nợ, gia hạn nợ, xoá nợ
Khi một món nợ không trả được vào kì hạn nợ, toàn bộ nợ gốc còn lại của
hợp đồng sẽ được chuyển thành nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn trong đầu tư XDCB là tỷ lệ phầm trăm giữa nợ quá hạn
trong lĩnh vực đầu tư XDCB và tổng dư nợ đối với lĩnh vực XDCB của ngân
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN
Trường Kinh Tế Quốc Dân 25
Đề tài thực tập
hàng tại một thời điểm nhất định. Thời điểm này thường là cuối tháng, cuối quý
hay cuối năm.
Tỷ lệ nợ quá hạn
trong lĩnh vực đầu tư
XDCB
Tỷ lệ nợ khó đòi càng cao chứng tỏ khả năng thu hồi nợ của ngân hàng càng
cao, chất lượng cho vay tốt.
SV: Nguyễn Thị Tùng Giang Lớp:
TCDN 46QN