Khoá luận tốt nghiệp
Luận văn
Đề tài:“ Nâng cao chất lượng hoạt động
tín dụng tại Chi nhánh NHCT Đống Đa
"
Bùi Thị An Ly – TCDN 46A
11
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị An Ly – TCDN 46A
22
Khoá luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở
thành xu thế tất yếu của thời đại và diễn ra ngày càng sâu về nội dung, ngày càng
rộng về quy mô trên nhiều lĩnh vực. Trong xu thế đó, Việt Nam cũng đã và đang
thực hiện giai đoạn đầu tiên của quá trình hội nhập quốc tế. Việt Nam đã gia
nhập khối ASEAN; tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); ký
hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ; đặc biệt mới đây nhất là
Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại Thế giới
(WTO) và tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế quốc tế cũng như ký kết các hiệp
định thúc đẩy quan hệ thương mại song phương khác.
Hệ thống NHTM Việt Nam cũng không nằm ngoài bối cảnh này. Không thể có
một nền kinh tế khoẻ mạnh nếu có một hệ thống NHTM còn nhiều vấn đề. Xã
hội càng phát triển thì vai trò của NHTM đối với nền kinh tế ngày càng lớn.
NHTM với vai trò là “kênh truyền dẫn vốn trong nền kinh tế”, đảm bảo cho nền
kinh tế vận động nhịp nhàng và có hiệu quả.
Trong các hoạt động thường xuyên và cơ bản, tín dụng được xem là hoạt động
quan trọng nhất của các ngân hàng nói riêng và của các trung gian tài chính nói
chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và
cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất. Do vậy, làm thế nào để củng cố và
tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói
chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó NHTM thường chiếm tỷ trọng
lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng. Vậy mà vẫn có
sự nhầm lẫn trong việc định nghĩa ngân hàng là gì?
Theo luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
“ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín
dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Các ngân hàng cũng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc
vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên
đang không ngừng thay đổi. Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính – bao gồm cả
các công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương
hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của
ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh ( các tổ
chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp về bất động
sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ
tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ môi giới khác. Cách tiếp cận thận trọng nhất
Bùi Thị An Ly – TCDN 46A
55
Khoá luận tốt nghiệp
là có thể xem xét ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng
cung cấp. Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch
vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và
thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh
nào trong nền kinh tế.
1.1.2 Hoạt động chủ yếu của NHTM
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM, nó đóng vai trò quan
trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng huy động
vốn từ các nguồn chủ yếu:
+ Tiền gửi thanh toán: Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân
hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép, các
nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện.
Nhìn chung lãi suất của khoản tiền này rất thấp ( hoặc bằng không), thay vào đó
chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp.
+ Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: Nhiều khoản thu
bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau một thời
gian xác định. Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền, ngân hàng đã đưa
ra hình thức tiền gửi có kì hạn. Tuy không thuận lợi cho tiêu dùng bằng hình
thức tiền gửi thanh toán, song tiền gửi có kì hạn được hưởng lãi suất cao hơn tuỳ
theo độ dài của kì hạn.
Bùi Thị An Ly – TCDN 46A
77
Khoá luận tốt nghiệp
+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập
tạm thời chưa sử dụng. Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ
đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện các mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với
các khoản tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn.
+ Tiền gửi của các ngân hàng khác: Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một
số mục đích khác, NHTM này có thể gửi tiền tại ngân hàng khác. Tuy nhiên quy
mô này thường không lớn.
Nguồn đi vay: Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM, tuy nhiên,
khi cần, ngân hàng thường vay mượn thêm.
+ Vay NHNN: Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả
của NHTM. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ, NHTM thường vay NHNN. Hình
thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu ( hoặc tái cấp vốn).
+ Vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn
nhau và vay các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Nguồn vay
mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách và
trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ
+ Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ.
+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN
+ Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.
+ Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
+ Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên
ngân hàng trong nước.
+ Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.
Bùi Thị An Ly – TCDN 46A
99
Khoá luận tốt nghiệp
Kinh doanh ngoại hối: NHTM được phép trực tiếp kinh doanh hoặc thành
lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong
nước và thị trường quốc tế.
Uỷ thác và nhận uỷ thác: NHTM được uỷ thác, nhận uỷ thác làm đại lý
trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản,
vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác, đại
lý.
Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: NHTM được cung ứng dịch vụ bảo hiểm,
được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo
quy định của pháp luật.
Tư vấn tài chính: NHTM được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính, tiền
tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư vấn
trực thuộc ngân hàng.
Bảo quản vật có giá: NHTM được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật quý,
giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác có liên quan theo quy
định của pháp luật.
1.2 Tổng quan về tín dụng Ngân hàng
1.2.1 Khái niệm và các nguyên tắc tín dụng Ngân hàng
Tín dụng là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM, phản
ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Có thể hiểu rằng: “ Tín dụng ngân hàng
Bùi Thị An Ly – TCDN 46A
1111
Khoá luận tốt nghiệp
1.2.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
Có rất nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tuỳ theo yêu cầu của khách
hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng. Sau đây là một số cách phân loại:
1.2.2.1 Phân loại theo thời gian
Theo thời gian , tín dụng được phân chia thành:
+ Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống. Tín dụng ngắn hạn nhằm tài trợ
cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh
nghiệp, hộ sản xuất.
+ Tín dụng trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm, được sử dụng khi doanh
nghiệp có nhu cầu mua sắm TSCĐ, cải tiến và đổi mới kĩ thuật, mở rộng sản
xuất, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh
+ Tín dụng dài hạn : Trên 5 năm, chủ yếu được sử dụng để cấp vốn cho xây
dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ
tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn.
Việc xác định thời hạn trên cũng chỉ có tính chất tương đối vì nhiều khoản cho
vay không xác định trước được chính xác thời hạn. Phân chia tín dụng theo thời
gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến
tính an toàn và sinh lợi của tài sản.
1.2.2.2 Phân loại theo hình thức
Theo hình thức tài trợ tín dụng chia thành:
+ Chiết khấu : Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho
khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân
hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn ( hoặc một giấy nợ)
+ Cho vay : Là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách
hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
Bùi Thị An Ly – TCDN 46A
1212
+ Cho vay trực tiếp từng lần : Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không
có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Theo từng kì hạn nợ trong hợp đồng,
ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân
hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả.
+ Cho vay theo hạn mức : Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả
thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho
cả kì hoặc cuối kì. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Hạn mức được cấp trên
cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách
hàng. Trong nghiệp vụ này ngân hàng không xác định trước kì hạn nợ và thời
hạn tín dụng. Khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ.
+ Cho vay luân chuyển : Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng
hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho vay để
mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Theo hình thức này, giá trị
hàng hoá mua vào ( có hoá đơn hợp pháp, hợp lệ, đúng đối tượng ) đều là đối
tượng được ngân hàng cho vay; thu nhập bán hàng đều là nguốn để chi trả cho
ngân hàng. Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo khối lượng và
chất lượng quan hệ nợ nần của người vay. Các khoản phải thu và hàng hoá trong
kho trở thành vật đảm bảo cho khoản cho vay.
+ Cho vay trả góp : Là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay trả
góp thường áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố
định hoặc hàng lâu bền. Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế
Bùi Thị An Ly – TCDN 46A
1414
Khoá luận tốt nghiệp
chấp bằng hàng hoá mua trả góp. Khả năng thu nợ phụ thuộc vào thu nhập đều
đặn của người vay. Do rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là cao nhất
trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.
+ Cho vay gián tiếp : Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp. Bên
vốn nhàn rỗi tạm thời, có thể gửi vào ngân hàng như một sự lựa chọn an toàn và
là quyết định đầu tư ít rủi ro. Ngân hàng dùng số vốn tạm thời này để cung cấp
cho các cá nhân và các doanh nghiệp khác đang có nhu cầu về vốn. Do có ngân
hàng đứng ra làm trung gian cho quá trình luân chuyển vốn, làm cầu nối giữa tiết
kiệm và đầu tư, tín dụng trở thành động lực kích thích các tổ chức kinh tế, các
doanh nghiệp và dân cư trong các thành phần kinh tế thực hiện tiết kiệm, thúc
đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, phân tán thành
nguồn vốn đầu tư cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Đồng thời, tín dụng ngân hàng kích thích và buộc các doanh nghiệp sử dụng
vốn có hiệu quả hơn. Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên
vốn chủ sở hữu và vốn vay. Một trong những nguồn đi vay là từ ngân hàng. Đây
là nguồn tài trợ hiệu quả vì nó thoả mãn nhu cầu vốn về cả số lượng và thời hạn.
Hơn nữa, để có thể vay vốn được từ ngân hàng, các doanh nghiệp buộc phải
nâng cao uy tín của mình để đảm bảo được các nguyên tắc tín dụng. Nó đòi hỏi
các doanh nghiệp phải tìm hiểu thị trường, khai thác thông tin, định lượng hoạt
động kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả. Điều đó làm tăng hiệu quả của
các dự án và phương án.
Bùi Thị An Ly – TCDN 46A
1616
Khoá luận tốt nghiệp
Mặt khác, thông qua các khoản cho vay của ngân hàng, thị trường sẽ có thêm
thông tin về chất lượng tín dụng của từng khách hàng và nhờ đó giúp cho khách
hàng có khả năng nhận thêm các khoản tín dụng mới từ những nguồn khác với
chi phí thấp hơn.
1.2.3.3 Đối với Ngân hàng
Như đã nói ở trên, tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng
nói riêng và của các trung gian tài chính nói chung. Tín dụng là loại tài sản
chiếm tỷ trọng lớn nhất (quá nửa giá trị tổng tài sản) ở phần lớn các NHTM,
phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Tín dụng tạo thu nhập từ lãi lớn
nhất, từ 1/2 đến 1/3 nguồn thu của ngân hàng và cũng là hoạt động mang lại rủi
cạnh tranh trên thị trường, vừa đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
Chất lượng tín dụng được đánh giá dựa vào việc thanh toán gốc, lãi đúng hợp
đồng và sự hợp tác của khách hàng trong thời kỳ vay vốn.
+ Đối với nền kinh tế: Chất lượng tín dụng thể hiện ở việc tín dụng phục vụ sản
xuất kinh doanh, lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết việc làm cho người lao
động, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, qua đó thúc đẩy sự tăng trưởng
của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế.
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
1.3.2.1 Chỉ tiêu định tính
Đây là các chỉ tiêu phản ánh hình ảnh của ngân hàng thông qua cảm nhận
đầu tiên của khách hàng khi đến với ngân hàng.
Bùi Thị An Ly – TCDN 46A
1818
Khoá luận tốt nghiệp
Trước hết là bộ máy tổ chức, nếu các hoạt động hướng tới khách hàng của ngân
hàng được phân theo tiêu thức đối tượng khách hàng - sản phầm nhằm đáp ứng
tốt hơn các yêu cầu của khách hàng và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng,
điều này sẽ tạo nên cảm giác an tâm của khách hàng khi đến giao dịch tại ngân
hàng.
Thứ hai, đó là tác phong làm việc. Nếu các ngân hàng quan tâm và có kế hoạch
triển khai đổi mới phong cách làm việc hành chính trước đây, bố trí phục vụ
khách hàng trong cả những ngày nghỉ, sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khách
hàng trong việc giao dịch tại ngân hàng.
Bên cạnh những yếu tố mang tính hình thức đó là các yêu cầu của ngân hàng
đối với khách hàng, là tinh thần phục vụ khách hàng của nhân viên ngân hàng.
Sự thoả mãn của mỗi khách hàng phụ thuộc khá nhiều vào tiêu thức này. Mỗi
nhân viên khi làm việc với khách hàng cần thể hiện thái độ thân thiện trong việc
tư vấn, giải đáp thắc mắc của khách hàng. Đến với ngân hàng, thái độ nhiệt tình,
cởi mở và sự thông thạo nghiệp vụ của mỗi nhân viên, sẽ khiến cho khách hàng
hài lòng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xúc tiến các khoản vay và ảnh hưởng
+ Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn
+ Nhóm 2: Nợ cần chú ý
+ Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn
+ Nhóm 4: Nợ nghi ngờ
+ Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn
Ba nhóm nợ sau được gọi là nợ quá hạn, nợ bị xếp loại. Tỷ lệ nợ có khả năng
mất vốn cao không chỉ báo động sẽ phát sinh khoản phải thanh lý lớn trong
Bùi Thị An Ly – TCDN 46A
2020
Khoá luận tốt nghiệp
tương lai, mà còn thể hiện sự giảm sút thu nhập ở hiện tại do các khoản nợ này
không còn đem lại lợi nhuận hoặc đem lại lợi nhuận rất ít không đáng kể.
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của NHTM tại
một thời điểm nhất định:
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = —————— * 100
Tổng dư nợ
Chỉ số này thể hiện chất lượng tín dụng. Theo qui định của NHNN, các ngân
hàng có tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ lớn hơn 7% được xem là ngân hàng yếu
kém. Nếu chỉ số này nhỏ hơn 5%, ngân hàng đó được đánh giá là ngân hàng có
nghiệp vụ tín dụng tốt, chất lượng cho vay cao và được nhận nhiều thang điểm
cao trong hàng xếp loại các tổ chức tín dụng.
Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng
Mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của NHTM là tối đa hoá lợi ích của chủ sở
hữu. Chất lượng tín dụng được nâng cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần
nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng. Một khoản tín dụng có chất lượng cao
sẽ đem lại một khoản thu nhập cho ngân hàng. Thu nhập từ hoạt động tín dụng
đóng vai trò quan trọng đối với ngân hàng và là kết quả tài chính quan trọng
được quan tâm hàng đầu. Đối với phần lớn các NHTM, thu nhập từ tín dụng
chiếm bộ phận chủ yếu trong tổng thu nhập và quyết định độ lớn của thu nhập
Tổng vốn huy động
Bùi Thị An Ly – TCDN 46A
2222
Khoá luận tốt nghiệp
Chỉ số này càng lớn, vốn tồn đọng càng ít, đồng thời rủi ro tín dụng càng lớn.
Trên thực tế, tỷ lệ trên dao động từ 30% đến 100%. Thông thường vào khoảng
trên 80% là tốt, nếu dưới hoặc trên mức đó có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới
ngân hàng: tính thanh khoản của ngân hàng sẽ bị đe doạ do khối lượng dự trữ
không được đảm bảo. Tuy vậy, để xác định một tỷ lệ phù hợp còn phụ thuộc vào
kết cấu vốn huy động, lĩnh vực ngân hàng tập trung tài trợ và nhiều nhân tố khác.
Bên cạnh các chỉ tiêu trên, ngân hàng còn sử dụng rất nhiều các chỉ tiêu khác
để đánh giá chất lượng tín dụng. Chẳng hạn như:
+ Tỷ lệ an toàn toàn vốn tối thiểu (CAR) :
Vốn chủ sở hữu
CAR = ———————————————
Tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro
Chỉ tiêu này cho biết, một đồng vốn tự có bảo vệ cho bao nhiêu đồng tài sản có
rủi ro của NHTM.
+ Chỉ tiêu tỷ trọng từng loại trên tổng nguồn vốn huy động:
Tỷ trọng từng loại tiền gửi Số dư từng loại tiền gửi
trên tổng vốn huy động = ———————————— * 100
Tổng số vốn huy động
Chỉ số này xác định kết cấu của nguồn vốn huy động để phát hiện mặt mạnh,
điểm yếu của ngân hàng trong kinh doanh. Nếu ngân hàng nào có tỷ trọng tiền
gửi trong kỳ hạn cao, ngân hàng đó sẽ có nhiều thuận tiện trong việc tạo ra lợi
nhuận. Ngược lại, ngân hàng nào có tỷ lệ tiền gửi với lãi suất cao chiếm tỷ trọng
lớn sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết đầu ra của vốn.
Bùi Thị An Ly – TCDN 46A
2323
Khoá luận tốt nghiệp
sở hữu, quyền quản lý nhưng để có vốn hoạt động họ đã nâng khống vốn tự có
rồi lập nhiều dự án, có cả dự án thuộc lĩnh vực mà họ chưa từng có kinh nghiệm
để đi vay. Vậy mà, có TCTD không những quyết định cho vay mà còn nhận bảo
đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Hậu quả là các dự án kém hiệu
quả, nợ tồn đọng khó có khả năng thu hồi, vì thế không những nguy cơ tổn thất
cho TCTD là khá lớn mà uy tín của TCTD cũng bị giảm sút nghiêm trọng.
Đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng
Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng tín dụng ngân hàng. Nhân viên
ngân hàng phải tiếp cận với nhiều ngành nghề, nhiều vùng, thậm chí nhiều quốc
gia. Để cho vay tốt, họ phải am hiểu khách hàng, lĩnh vực mà khách hàng kinh
doanh, môi trường mà khách hàng đang sống. Họ phải có khả năng dự báo các
vấn đề liên quan đến người vay… Như vậy, họ cần phải được đào tạo và tự đào
tạo kĩ lưỡng, liên tục và toàn diện. Khi nhân viên tín dụng cho vay đối với khách
hàng mà họ chưa đủ trình độ để hiểu kĩ lưỡng, rủi ro tín dụng luôn rình rập họ.
Bên cạnh đó, đạo đức của cán bộ ngân hàng là một trong các yếu tố tối quan
trọng để giải quyết vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng. Bộ phận tín dụng là nơi
trực tiếp thẩm định dự án vay vốn và khả năng trả nợ của khách hàng cũng như
trực tiếp kiểm tra kho tàng, tài sản thế chấp, giám sát giải ngân, kiểm tra sử dụng
vốn vay, là đầu mối tiếp xúc với khách hàng nên nếu đạo đức nghề nghiệp không
tốt sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng món vay và khả năng thu hồi nợ của
ngân hàng. Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một cán
bộ tha hoá về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm
khi được bố trí trong công tác tín dụng.
Bùi Thị An Ly – TCDN 46A
2525