Tiểu luận: Tìm hiểu động cơ làm việc của người lao động và các phương pháp kích thích, động viên thích hợp trên cơ sở: thuyết hy vọng của Victor Room - Pdf 19

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Tiểu luận
Tìm hiểu động cơ làm việc của người lao động và
các phương pháp kích thích, động viên thích hợp
trên cơ sở: thuyết hy vọng của Victor Room
1
MỤC LỤC
TIỂU LUẬN MÔN KHOA HỌC QUẢN LÝ
Đề 5: Tìm hiểu động cơ làm việc của người lao động và các phương pháp
kích thích, động viên thích hợp trên cơ sở: thuyết hy vọng của Victor Room
2
BÀI LÀM
I, LỜI GIỚI THIỆU
Cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật cuối thế kỷ XX dẫn đến nhiều biến đổi
trong thành phần giai cấp công nhân Âu Mỹ và trong mức sống của họ, khiến cho
các nhà quản lý truyền thống với “cây gậy và củ cà rốt” giảm tác dụng, buộc các nhà
quản lý của CNTB phải tìm tòi những phương thức quản lý thích hợp hơn, hiệu quả
hơn. Coi trọng yếu tố con người trong công tác quản lý là đặc trưng nổi bật của các
lý thuyết quản lý nửa cuối thế kỷ XX. Một số thuyết theo xu hướng này đã xuất hiện
ngay từ những năm 20 – 30 nhưng phải sang nửa cuối thế kỷ thì xu hướng này mới
thật sự được quan tâm và ngày càng giữ địa vị chi phối. Đáng chú ý trong nhóm
thuyết tìm hiểu động cơ làm việc của người lao động để có biện pháp kích thích,
động viên thích hợp là thuyết hy vọng của Victor Room.Thuyết hy vọng này do
Victor Vroom - giáo sư Trường Quản trị Kinh doanh Yale (học vị Tiến sĩ khoa học
tại Trường đại học Michigan) đưa ra, cho rằng một cá nhân sẽ hành động theo một
cách nhất định dựa trên những mong đợi về một kết quả nào đó hay sự hấp dẫn của
kết quả đó với cá nhân. Mô hình này do V. Room đưa ra vào năm 1964, sau đó được
bổ sung bởi một vài người khác, bao gồm cả các học giả Porter và Lawler (1968).
Khác với Maslow và Herzberg, V.Room không tập trung nhiều vào nhu cầu, mà chủ
yếu tập trung vào kết quả. Maslow và Herzberg nghiên cứu dựa trên mối quan hệ
giữa nhu cầu nội tại và nỗ lực tạo ra kết quả nhằm thoả mãn nhu cầu nội tại đó, còn

gian, con người,…); Kỹ năng để thực hiện; Sự hỗ trợ cần thiết để thực hiện nhiệm vụ
(thông tin, sự định hướng,…).
Instrumentality (tính chất công cụ): Là niềm tin rằng kết quả tốt sẽ dẫn đến phần
thưởng xứng đáng. Khái niệm này được thể hiện qua mối quan hệ giữa hành động
(performance) và phần thưởng (rewards), cụ thể bị ảnh hưởng bởi các nhân tố như:
Sự rõ ràng trong mối liên kết giữa hiệu quả làm việc và phần thưởng người lao động
4
được nhận; Tin tưởng vào sự công bằng người có quyền quyết định thưởng/phạt; Tin
tưởng vào tính minh bạch trong việc quyết định thưởng/phạt.
Valence (hoá trị): là mức độ quan trọng mà nhân viên đặt vào kết quả hay phần
thưởng tiềm năng mà họ có thể đạt được trong công việc .Chất xúc tác ở đây có
nghĩa là sự lôi cuốn của cả mục tiêu lẫn nhu cầu của nhân viên. Các nhân tố ảnh
hưởng đến hoá trị như: Nỗ lực khuyến khích làm việc; hiệu quả công việc đạt được
tương xứng với phần thưởng nhận được; sự quan tâm đến những kết quả/phần
thưởng mà cá nhân nhận được.
V.Room cho rằng người lao động chỉ được động viên khi nhận thức của họ về cả ba
khái niệm hay ba mối quan hệ trên là tích cực. Nói cách khác là khi họ tin rằng nỗ
lực của họ sẽ cho ra kết quả tốt hơn, kết quả đó dẫn đến phần thưởng xứng đáng và
phần thưởng đó có ý nghĩa và phù hợp với mục tiêu cá nhân của họ. Vì lý thuyết hy
vọng được xây dựng dựa trên sự nhận thức của người lao động, nên có khả năng xảy
ra trường hợp là cùng làm ở một công ty với cùng một vị trí như nhau nhưng có động
lực làm việc không giống nhau, do nhận thức về các khái niệm trên khác nhau. Ví
dụ, một nhân viên muốn thăng tiến trong công việc, thì việc thăng chức có hấp lực
cao đối với nhân viên đó. Một nhân viên tin rằng khi mình làm việc tốt sẽ được đánh
giá cao, thì nhân viên này có mức mong đợi cao, ngược lại người nhân viên sẽ không
xây dựng sự mong đợi cho mình nếu không tin tưởng kết quả công việc của mình
được lãnh đạo ghi nhận. Ứng dụng lý thuyết này vào thực tiễn có thể thấy muốn
người lao động có động lực hướng tới mục tiêu nào đó (phù hợp với mục tiêu của tổ
chức) thì người quản lý phải tạo nhận thức cho người lao động rằng nỗ lực của họ sẽ
mang lại những phần thưởng tương xứng với mong muốn của họ. Muốn vậy, trước

6
III, LIÊN HỆ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI
Cơ sở lý thuyết đãi ngộ và nâng cao thành tích nhân viên ngày nay được coi là
toàn diện nhất về động cơ là thuyết hy vọng của V.room. Mặc dù thuyết này cũng
gặp nhiều chỉ trích nhưng đa số nghiên cứu đều ủng hộ thuyết này. Em xin nêu lên
một số ví dụ thực tế mà các nhà quản trị ở Việt Nam và trên thế giới đã sử dụng các
phương pháp kích thích, động viên thích hợp đối với người lao động.
 Xây dựng môi trường làm việc lý tưởng tại FPT Software
Hiện nay mỗi năm tổng số nhân viên của FPT nói chung và FPT Software nói riêng
rời bỏ công ty để chuyển đến một công ty khác chiếm 1 tỉ lệ rất lớn. Vậy nguyên
nhân của sự ra đi này là gì ? Sau một thời gian nghiên cứu các nhà quản lý của FPT
Software đã có những điều chỉnh trong công tác quản lý. Thứ nhất, giao tiếp nội bộ
đóng vai trò rất quan trọng. Mặc dù lương bổng và các phúc lợi cũng quan trọng
nhưng không phải là yếu tố duy nhất khiến các nhân viên gắn bó với doanh nghiệp.
Những hoạt động biểu hiện sự quan tâm đến nhân viên như tổ chức tiệc Giáng sinh,
cung cấp thực phẩm đầy đủ trong nhà bếp của Công ty để nhân viên có thể ăn nhẹ
cũng là những điều được các nhân viên đánh giá cao. Tuy nhiên, yếu tố quan trọng
nhất khiến nhân viên gắn bó lâu dài với doanh nghiệp là sự giao tiếp trong nội bộ
doanh nghiệp. Thứ hai, bên cạnh việc áp dụng chế độ làm việc theo giờ.giấc linh
hoạt, Công ty cũng quan tâm đến việc định hướng cho các nhân viên mới, giúp cho
họ hội nhập nhanh chóng với môi trường làm việc. Ngay cả khi rất thành công về
mặt tài chính, họ vẫn tiếp tục xây dựng một môi trường làm việc tốt để giữ chân các
nhân viên. Chúng ta có thể hiểu rằng xây dựng một môi trường làm việc lý tưởng
cho nhân viên là một hành trình chứ không phải là một đích đến.
 Sự khôn khéo của Andrew Carnegie, ông vua thép thế giới.
7
Ông biết cách làm cho nhân viên vui vẻ hưởng ứng ý kiến của mình. Mới ngoài 26
tuổi, Andrew Carnegie đã bước chân vào ngành sản xuất thép làm thanh ray cho
đường tàu lửa. Ông lấy tên của chủ tịch công ty tàu hoả Pennysy Lavania Railroad là
J. Edgar Thomson đặt tên cho một nhà máy lớn của mình tại Pittsburg, làm cho vị

hàng từ 40.000 đến 250.000 USD/năm, nhưng mức cao nhất cho chức vụ quản lý chỉ
là 150.000 USD/năm. Tại sao Stryker lại áp dụng cách tính này? Họ đánh giá cao
những nhân viên bán hàng giỏi và muốn đội ngũ này ngày càng đông thêm để lôi kéo
khách hàng. Họ cũng muốn nhân viên phải suy nghĩ chín chắn khi bước vào vị trí
quản lý. Với phương pháp này, doanh số và lợi nhuận của Stryker liên tục tăng trong
20 năm qua.
Các thể chế kinh doanh đẳng cấp quốc tế và những người lãnh đạo các thể chế
này luôn nỗ lực xây dựng môi trường làm việc kích thích tinh thần làm việc. Công cụ
được sử dụng phổ biến là các chính sách chia sẻ lợi nhuận, quyền mua cổ phần hay
rất đơn giản là thay đổi cách gọi với người lao động.
IV, KẾT LUẬN
Thuyết hy vọng là một lý thuyết rất quan trọng trong lý thuyết quản trị nhân
sự, bổ sung cho lý thuyết về tháp nhu cầu của Abraham Maslow bên cạnh thuyết
công bằng. Thuyết hy vọng của V.Room được nhiều nhà kinh doanh trên thế giới áp
dụng trong môi trường làm việc của mình. Nhà quản lý muốn nhân viên đóng góp
nhiều hơn cho công việc, cần giúp họ nhìn thấy chính họ nhiều hơn trong công việc
đang làm. Giúp họ được cảm thấy là một phần của hoạt động kinh doanh, một phần
của cộng đồng, và trên tất cả, là chủ của từng công việc đang làm. Khi nhân viên đã
nhận thấy được tầm quan trọng của mình trong tổ chức sẽ cống hiến hết khả năng
trong sự nghiệp phát triển chung của tổ chức. Bởi trong nhiều trường hợp thành tích
của nhân viên phụ thuộc rất nhiều vào nổ lực thúc đẩy của nhà quản trị và những
phần thưởng hay chính sách đãi ngộ của doanh nghiệp.
9
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status