II.Nhà trường
1) Cung cấp thông tin về ngành thư ký cho sinh viên
2) Phải tìm cách nâng cao chất lượng nguồn nhân lưc cho ngành thư ký
3) Tạo điều kiện về cơ sở vật chất
4) Tổ chức các chương trình vui chơi lành mạnh cho sinh viên
5) Cần phải lắng nghe ý kiến của sinh viên cũng như quan tâm đến sinh viên nhiều
hơn
6) Chương trình đào tạo cần thay đổi phù hợp với yêu cầu thực tế
7) Giảng viên cần nghiên cứu bài giảng chuyên sâu hơn nửa
III.Doanh nghiệp
1) Phải kết hợp với nhà trường trong việc đào tạo nguồn nhân lực
a) Cần tạo điều kiện cho sinh viên thực tập tiếp cận thực tế
b) Tạo điều kiện kinh tế cho sinh viên
c) Dành thời gian dự các cuộc hội thảo của nhà trường
2) Doanh nghiệp cần tạo điều kiện cho nhân viên ngành thư ký nâng cao trình độ
a) Tài trợ cho nhân viên học them
b) Tăng mức lương, thưởng cho nhân viên
c) Tạo điề kiện cho nhân viên làm việc trong một văn phòng đầy đủ trang thiết bị
IV.Sinh viên
1) Phải tự tìm hiểu về ngành học
2) Nâng cao ý thức tự học
3) Tìm việc làm them
V.Gia đình
1) Cho con được tự chọn ngành mình học
2) Cần quan tâm đến con trong quá trình học
3) Tạo điều kiện kinh tế cho con
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I.Kết luận
1) khó khăn
nguồn nhân lực này.Chính vì thế nên em đã chọn đề tài này để nghiên cứu.
III/ Đối tượng nghiên cứu:
Nguồn nhân lực ngành thư ký hiện nay
IV/ Mục đích nghiên cứu:
Em chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu về chất lượng ngành
thư ký hiện nay đồng thời đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực ngành thư ký mà em đang học. Với mong muốn góp phần nhỏ kiến thức của
em vào việc tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của nước ta hiên
nay.
V/Nhiệm vụ:
Tìm giải pháp nâng cao chất lượng ngành thư ký văn phong để tránh được tình
trạng nhiều mà không chất lượng như hiện nay.
VI/Phương pháp nghiên cứu:
Tham khảo các tài liệu trên báo, các chương trình thảo luận trên đài, tivi.
VII/Thời gian: 2 tháng
VIII/ Địa điểm:
48/2 đường Phạm Văn Chiêu – p.14 - quận Gò Vấp – TP HCM
đưa ra m
ức dự báo tăng tr
ư
ởng kinh tế to
àn c
ầu
t
ừ
2% - 3%, nhưng vẫn có khả năng bị suy thoái lần thứ 2
Nhìn chung, các dự báo về nền kinh tế toàn cầu đều cho thấy cuộc khủng hoảng t
ài
chính thế giới đã được kiểm soát, kéo theo dấu hiệu hồi phục kinh tế. Tuy nhiên,
hiện vẫn còn quá sớm để khẳng định kinh tế thế giới hoàn toàn thoát khỏi suy thoái
và bước vào chu kỳ hồi phục bền vững.
1.2 Triển vọng của một số quốc gia và khu vực
Tại Mỹ, tăng trưởng năm 2010 dự kiến chỉ 2,5%. Động lực cơ bản cho nền kinh tế
Mỹ trong ngắn hạn vẫn là chi tiêu tiêu dùng, chiếm gần 70% GDP, tuy nhiên động
lực này tiếp tục yếu trong năm 2010. Tiêu dùng giảm mạnh vào đầu năm 2010, kéo
theo việc giảm tốc độ tăng GDP và sẽ chỉ tăng lại vào giữa năm 2010. Nguy
ên nhân
khiến tiêu dùng giảm là do nợ và thất nghiệp vẫn còn cao (có thể tăng tới khoảng
10,5% trong quý I). Tình hình của ngành Ngân hàng Mỹ, nơi bắt nguồn của khủng
hoảng tài chính toàn cầu, đã được cải thiện trong năm 2009. Các định chế tài chính
của Mỹ như Bank of America, JPMorgan Chase, Goldman Sachs, Citigroup, Wells
Fargo bắt đầu làm ăn có lãi trở lại và thực hiện việc trả lại các khoản tiền cứu trợ
của Chính phủ nước này. Tình hình khả quan này sẽ tiếp tục diễn ra trong năm
2010.
Về đồng USD, nhờ triển vọng kinh tế Mỹ sáng sủa hơn đôi chút so v
ới kinh tế châu
vực châu Á-Thái Bình Dương nhấn mạnh khu vực này đang dẫn đầu thế giới về
phục hồi kinh tế với dự báo tốc độ tăng trưởng trung bình 6,3% trong năm 2010.
Việc các nước châu Á tích cực chuyển hướng, chú trọng hơn đến thị trư
ờng nội địa,
nhằm giảm phụ thuộc xuất khẩu là hướng đi hiệu quả, giúp lấy lại ổn định và tăng
trưởng sau khủng hoảng.
Theo d
ự báo của LHQ, năm 2010, các n
ư
ớc đang phát triển ở châu Á sẽ có tốc độ
tăng trưởng kinh tế nhanh nhất, đặc biệt là Trung Qu
ốc 8,8%, Ấn Độ 6,5%; tiếp đến
là Việt Nam, Lào: 5%, hơn mức 4% của năm 2009 (trong khi đó Quốc hội Việt
Nam đ
ề ra chỉ tiêu tăng trưởng khoảng 6,5%); sau đó là Myanmar và Indonesia với
hơn 4%. Những quốc gia còn lại, tăng trưởng từ 3,5% trở xuống, thấp nhất là Nhật
Bản 1,5% và Brunei 0,5%.
Cũng giống như các nước châu Âu, Nhật Bản đã trải qua suy thoái sâu trong năm
2009 nên khả năng phục hồi trong năm 2010 còn yếu. Chính phủ Hàn Quốc đưa ra
dự báo tăng trưởng năm 2010 của nước này là 5%, cao hơn so với mức 4% của dự
báo trước đó, do nước này cho rằng nền kinh tế thế giới đang phục hồi trong điều
kiện tốt hơn và nhu cầu trong nước cũng phục hồi nhanh. Trong khi đó IMF dự báo
tăng trưởng của Hàn Quốc là 4,5%.
Ở châu Phi, IMF đã nêu ra sự yếu kém và bất ổn của nền kinh tế châu lục này với
nguy cơ phải đối mặt với việc giảm viện trợ từ những nư
ớc phát triển, bởi chính các
quốc gia này cũng là nạn nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính. Do vậy,
nghèo đói và thất nghiệp sẽ đe dọa một số nước khu vực Nam Phi, làm cho tình
hình xã hội trong vùng càng thêm bất ổn. Bên cạnh đó, thiên tai nhất là hạn hán và
lũ lụt tại Đông Phi gây ra hậu quả là cuộc khủng hoảng lương thực thường xảy ra
hoạch loại bỏ các khoản tiền cứu trợ khẩn cấp trong khủng hoảng. Điều này có
nghĩa là sẽ có những biến động đáng kể trong thị trường trái phiếu vì các kho
ản tiền
cứu trợ khẩn cấp của các ngân hàng Trung ương đã giúp đẩy lãi su
ất xuống thấp đối
với tất cả các loại tài sản. Các nhà đầu tư cần thận trọng nếu so sánh với tình hình ở
Mỹ năm 1994, khi đó, Mỹ tăng lãi suất khiến thị trường trái phiếu Mỹ tan tác. Vì
vậy, trong bối cảnh kinh tế hiện nay, các nhà đầu tư cần cảnh giác trước mọi diễn
biến của lạm phát tăng.
Ba là tăng trư
ởng chậm: Những dự báo lạc quan trong các thị trường dựa trên dự
báo nền kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng đủ mạnh để đẩy nhanh quá trình giảm nợ
của các nền kinh tế phương Tây nợ nần cao. Nguy cơ đối với tình huống này là “sự
siết chặt tài chính và các chiến lược thoát ra khỏi chính sách tiền tệ hiện thời” có
thể dẫn tới đợt suy thoái mới. Một nguy cơ khác là tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ đã giảm
ch
ậm, nh
ưng
ở châu Âu vẫn tăng cao khiến nhu cầu ti
êu dùng suy y
ếu cả ở châu Âu
và Mỹ. Sự phục hồi chậm hơn dự kiến sẽ làm tăng nợ ngân hàng và gây sức ép lớn
đến tình trạng thâm hụt tài chính của chính phủ.
B
ốn là các quyết toán của ngân hàng: Hệ thống ngân hàng toàn cầu đã được hỗ trợ
bởi những khoản vốn lớn và đã thu được lợi nhuận cao trong thời kỳ khủng hoảng.
Nhưng khu v
ực thương mại có thể dễ bị tổn thương trước mọi sự điều chỉnh giá.