Nghiên cứu tổng hợp, cấu tạo của một số phức chất Pd(II) với dẫn xuất của thiosemicacbazon - Pdf 19

MỞ ĐẦU
Việc nghiên cứu các phức chất của thiosemicacbazon với các kim loại chuyển
tiếp đang là lĩnh vực thu hút nhiều nhà hoá học, dược học, sinh – y học trong và
ngoài nước. Các đề tài trong lĩnh vực này rất phong phú bởi sự đa dạng về thành
phần, cấu tạo, kiểu phản ứng và khả năng ứng dụng của các thiosemicacbazon
Đã từ lâu hoạt tính diệt nấm, diệt khuẩn của thiosemicacbazit và các dẫn xuất
thiosemicacbazon đã được biết đến và do vậy một số trong chúng đã được dùng làm
thuốc chữa bệnh [1,3]. Sau khi phát hiện ra phức chất cis-platin [Pt(NH
3
)
2
Cl
2
] có
hoạt tính ức chế sự phát triển ung thư thì nhiều nhà hoá học và dược học chuyển
sang nghiên cứu các thiosemicacbazon cũng như phức chất của chúng với kim loại
nhóm VIIIB nhằm tìm ra những hợp chất có khả năng chống ung thư mới
[3,10,16,27].
Ngày nay, mỗi năm có hàng trăm công trình nghiên cứu hoạt tính sinh học, đặc
biệt là hoạt tính chống ung thư của các phức chất thiosemicacbazon và dẫn xuất của
chúng được đăng trên các tạp chí Hoá học, Dược học, Y-sinh học….như
Polyhedron, Inorganica Chimica Acta, Inorganic Biochemistry, European Journal of
Medicinal Chemistry, Toxicology and Applied Pharmacology, Bioinorganic and
Medicinal Chemistry, Journal of Inorganic Biochemistry…
Các nghiên cứu hiện nay tập trung chủ yếu vào việc tổng hợp mới các
thiosemicacbazon và phức chất của chúng với các ion kim loại khác nhau, nghiên
cứu cấu tạo của phức chất bằng các phương pháp khác nhau và khảo sát hoạt tính
sinh học của chúng. Trong một số công trình gần đây, ngoài hoạt tính sinh học
người ta còn khảo sát một số ứng dụng khác của thiosemicacbazon như tính chất
điện hoá, hoạt tính xúc tác, khả năng ức chế ăn mòn kim loại…
Mục tiêu của việc khảo sát hoạt tính sinh học là tìm kiếm được các hợp chất có

(1)
(2)
(4)
o
o
o
o
Gãc liªn kÕt
S
NH
C
NH
2
NH
2
Trong đó các nguyên tử N
(1)
, N
(2)
, N
(4)
, C, S cùng nằm trên một mặt phẳng.
Ở trạng thái rắn, phân tử thiosemicacbazit có cấu hình trans (nguyên tử S nằm
ở vị trí trans so với nhóm N
(1)
H
2
) [1]
Khi thay thế một nguyên tử hidro nhóm N
(4)

C
S
NHR''N
C
R
R'
O
H
H
N
H
C
S
NHR''N
C
R
R'
OH
H
N
H
C
S
NHR''N
H
C
R
R'
OH
2

+ Trong quá trình tạo phức phân tử thiosemicacbazit có sự chuyển cấu hình từ
trans sang cấu hình cis, đồng thời xảy ra sự chuyển nguyên tử H từ nhóm imin
(-N
(2)
H) sang nguyên tử S và nguyên tử H này bị thay thế bởi kim loại. Do đó sự tạo
thành phức phải xảy ra theo sơ đồ 1.2:
NH
2
NH
C
NH
2
S
NH
2
N
C
SH NH
2
NH
2
N
C
S NH
2
NH
2
N
C
SNH

Theo các tài liệu [8, 13, 23], trong đa số các trường hợp thiosemicacbazit tồn
tại ở cấu hình cis và đóng vai trò như một phối tử hai càng, như vậy có xu hướng
thể hiện dung lượng phối trí bằng hai và liên kết được thực hiện qua nguyên tử S và
N
(1)
của nhóm hidrazin. Để thực hiện sự phối trí kiểu này cần phải tiêu tốn năng
lượng cho quá trình di chuyển nguyên tử H của nhóm N
(2)
H sang nguyên tử S. Năng
lượng này được bù trừ bởi năng lượng dư do việc tạo thêm một liên kết và hiệu ứng
đóng vòng.
Tuy nhiên trong một số ít các trường hợp do khó khăn về mặt lập thể,
thiosemicacbazit đóng vai trò như một phối tử một càng và giữ nguyên cấu hình
trans, khi đó liên kết được thực hiện qua nguyên tử S. Ví dụ điển hình về kiểu phối
trí này ta có thể liệt kê là phức thiosemicacbazit của Ag(I), Cu (II), Co(II) [13,16]
1.1.3. Phức chất của kim loại chuyển tiếp với thiosemicacbazon:
Hoá học phức chất của các kim loại chuyển tiếp với các thiosemicacbazon bắt
đầu phát triển mạnh sau khi Domagk nhận thấy hoạt tính kháng khuẩn của một số
thiosemicacbazon [41] Để làm sáng tỏ cơ chế tác dụng ấy của thiosemicacbazon
người ta đã tổng hợp các phức chất của chúng với các kim loại và tiến hành thử hoạt
tính kháng khuẩn của các hợp chất tổng hợp được.
Phức chất của thiosemicacbazon sở dĩ cũng được quan tâm nghiên cứu nhiều
bởi tính đa dạng của các hợp chất cacbonyl. Nó cho phép thay đổi trong một giới
hạn rất rộng bản chất các nhóm chức cũng như cấu tạo hình học thiosemicacbazon.
Cũng như thiosemicacbazit, các thiosemicacbazon có khuynh hướng thể hiện
dung lượng phối trí cực đại.
Nếu phần hợp chất cacbonyl không chứa nguyên tố có khả năng tham gia tạo
phức thì phối tử đóng vai trò như phối tử hai càng giống thiosemicacbazit. Ví dụ:
thiosemicacbazon của benzanđehit, xyclohexanon, axetophenon, octanal, menton…
N

Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả [3,19,30] đã đưa ra cấu tạo
của phức 2 càng giữa Pt(II) với 4-phenyl thiosemicacbazon furaldehit và phức giữa
Pd(II) với 4-phenyl thiosemicacbazon 2-axetyl piridin như sau:
Nếu ở phần hợp chất cacbonyl có thêm nguyên tử có khả năng tham gia phối
trí (D) và nguyên tử này được nối với nguyên tử N-hidrazin (N
(1)
) qua hai hay ba
nguyên tử trung gian thì khi tạo phức phối tử này thường có khuynh hướng thể hiện
như một phối tử ba càng với bộ nguyên tử cho là D, N
(1)
, S. Một số phối tử loại này
là các thiosemicacbazon hay dẫn xuất thiosemicacbazon của salixylanđehit (H
2
thsa
hay H
2
phthsa), isatin (H
2
this hay H
2
pthis), axetylaxeton (H
2
thac hay H
2
pthac),
pyruvic (H
2
thpy hay H
2
pthpy)….Trong phức chất của chúng với các ion kim loại

NH
C N
S
N
C
CH
3
Pt
N
S
N
C
NH
C
CH
3
N
N
NH
C N
S
N
C
H
Pt
N
S
N
C
NH

O
N
NH
N C
S
NH
2
Cu
Cl
d)
S¬ ®å 1.4: M« h×nh t¹o phøc cña thiosemicacbazon 3 cµng vµ c«ng thøc cÊu t¹o
cña phøc chÊt gi÷a thiosemicacbazon vµ mét sè kim lo¹i chuyÓn tiÕp.
a, a') M« h×nh t¹o phøc cña thiosemicacbazon 3 cµng. b. Phøc vu«ng ph¼ng
Ni(thac).H
2
O.
c. Phøc vu«ng ph¼ng Pt(Hthsa)Cl. d. Phøc vu«ng ph¼ng Cu(Hthis)Cl
Các thiosemicacbazon bốn càng được điều chế bằng cách ngưng tụ hai phân tử
thiosemicacbazit với một phân tử hợp chất đicacbonyl.
+
- 2
OH
2
N
NH
2
S
NH
2
H

thiosemicacbazon salixilandehit
có khả năng ngưng tụ với salixiandehit theo nitơ có nhóm amit để tạo thành phối tử
bốn càng H
3
thsasal mà ở điều kiện thường phản ứng ngưng tụ phân tử salixilandehit
th hai ny khụng xy ra. Cụng thc chung ca cỏc phc cht to thnh c mụ t
di õy:
O
CH N
N C
N CH
O
SR
M
M = VO , Ni , Cu ; R = CH , C H , H...
2+
2+
2+
3
2
5
Ngi ta cho rng, sau khi to phc cỏc ion kim loi cú tỏc dng nh hng,
hot hoỏ mt s trung tõm phn ng ca phi t lm cho nú cú kh nng tham gia
phn ng. Trong khi ú trng thỏi t do cỏc trung tõm ny ca phõn t khỏ tr.
Chng hn, di s nh hng ca ion Cu
2+
hoc Hg
2+
, hai phõn t
thiosemicacbazon iphenyl glyoxan s kt hp vi nhau to thnh mt phi t bn

2-
NH
2
N
H
CS NH
2
MeOH/HCl đặc
N
N
N
N
N
N
S
S

M
2+
Sơ đồ 1.6: Ion kim loại định hớng cho phản ứng hoá học
Núi chung, trong a s cỏc trng hp, phn khung thiosemicacbazon u
tham gia phi trớ qua hai nguyờn t cho l S v N
(4)
to thnh vũng 5 cnh nh
mụ hỡnh di õy:
N
N
NH
2
H


Trong đó bpy là bipyridin, PPh
3
là triphenylphotphat, X là Cl, Br; Hthio là
thiosemicacbazon salixilandhit, các dẫn xuất của thiosemicacbazon benzandehit.
Tóm lại, trong đa số các trường hợp, các thiosemicacbazon luôn có xu hướng
thể hiện số phối trí cực đại. Tuỳ vào phần hợp chất cacbonyl mà thiosemicacbazon
có thể là phối tử 1 càng, 2 càng, 3 càng hay 4 càng. Trong một số ít trường hợp, do
khó khăn về hoá lập thể, các thiosemicacbazon mới thể hiện như phối tử một càng
[24,25]. Ví dụ như phức chất của Cu (II) với 4-phenyl thiosemicacbazon 2
benzoylpiridin [24] trong đó phối tử thứ nhất đóng vai trò như phối tử hai càng còn
phối tử thứ hai là phối tử 3 càng được thể hiện cụ thể qua hình dưới đây:
N
N S
S
NHR
C
O
Cu
N
N
CH
3
CH
3
1.2. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PALADI
1.2.1 Giới thiệu chung:
Paladi được William Hyde Wollaston phát hiện năm 1803.

Nguyên tố này

Ion Pd
2+
có cấu hình electron 1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
6
3d
10
4s
2
4p
6
4d
8
, bền trong môi
trường nước, dung dịch loãng có màu vàng, dung dịch đặc hơn có màu vàng sẫm
đến nâu. Cũng như các ion kim loại nhóm d khác, nó có khả năng tạo phức với hầu
hết các phối tử như Cl
-
, I
-
, SCN
-
, CN

(98%Fe). Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả ức chế cực đại của chất đầu là
74,59% còn chất sau đạt 80,67%. Nói chung, sự ức chế ăn mòn tăng lên theo nồng
độ các thiosemicacbazon [12,20].
Ngoài khả năng tạo phức tốt, các thiosemicacbazit và thiosemicacbazon còn
có nhiều ứng dụng trong lĩnh vực phân tích cũng như xác định hàm lượng của nhiều
kim loại khác nhau. R.Murthy đã sử dụng thiosemicacbazon o-hidroxi axetophenon
trong việc xác định làm lượng Pd bằng phương pháp trắc quang. Với phương pháp
này có thể xác định hàm lượng Pd trong khoảng nồng độ 0,042-10,6g/l [28].
Pd(II) cũng được xác định bằng phương pháp chiết - trắc quang dựa trên cơ
sở sự tạo phức của nó với 4-phenyl thiosemicacbazon thiophenanđehit, phức này có
thể chiết vào clorofom trong môi trường axit H
2
SO
4
sau khi lắc khoảng 10 phút. Khi
đó có thể xác định hàm lượng Pd trong khoảng nồng độ 0,04-6g/l [34] (thoả mãn
định luật Beer). Phương pháp trắc quang cũng được sử dụng để xác định hàm lượng
của Cu(II) và Ni(II) trong dầu ăn và trong dầu của một số loại hạt dựa vào khả năng
tạo phức của chúng với 1-phenyl-1,2-propandion-2-oxim thiosemicacbazon [29].
Bên cạnh đó, Sivadasan Chettian và các cộng sự đã tổng hợp những chất xúc
tác gồm phức chất của thiosemicacbazon với một số kim loại chuyển tiếp trên nền
polistiren[15]. Đây là những chất xúc tác dị thể được sử dụng trong phản ứng tạo
nhựa epoxy từ cyclohexen và stiren. Các phức chất của Pd với thiosemicacbazon
cũng có thể làm xúc tác khá tốt cho phản ứng nối mạch anken (phản ứng Heck)
[18].
Ngoài các ứng dụng nêu trên, người ta còn đặc biệt quan tâm tới hoạt tính
sinh học của các thiosemicacbazon và phức chất của chúng. Hiện nay người ta có xu
hướng nghiên cứu các phức chất trên cơ sở thiosemicacbazon với mong muốn tìm
kiến được hợp chất có hoạt tính sinh học cao, ít độc hại để sử dụng trong y dược.
Hoạt tính sinh học của các thiosemicacbazon được phát hiện đầu tiên bởi

phát triển một nửa) thấp nhất trong 3 dòng được chọn nghiên cứu.
Ở Việt Nam, các hướng nghiên cứu gần đây cũng tập trung nhiều vào việc
thử hoạt tính sinh học của các thiosemicacbazon và phức chất của chúng với kim
loại chuyển tiếp như Cu, Mo, Ni,…Tác giả [1] đã tổng hợp và thăm dò hoạt tính
sinh học của thiosemicacbazit, thiosemicacbazon salixylandehit (H
2
thsa),
thiosemicacbazon istatin (H
2
this) và phức chất của chúng. Kết quả đều cho thấy khả
năng ức chế sự phát triển khối u của cả 2 phức chất Cu(Hthis)Cl và Mo(Hthis)Cl
đem thử, nó giúp làm giảm mật độ tế bào ung thư, giảm tổng số tế bào, từ đó làm
giảm chỉ số phát triển u. Khả năng ức chế tế bào ung thư Sarcomar TG180 trên
chuột trắng Swiss của Cu(Hthis)Cl là 43,99% và của Mo(Hthis)Cl là 36,8%.
Tiếp sau đó, các tác giả [3,6] đã tổng hợp các phối tử và phức chất của một
số ion kim loại như Pt(II), Co(II), Ni(II), Cu(II) với một số thiosemicacbazon và dẫn
xuất thiosemicacbazon. Kết quả cho thấy các phức chất của Pd(II) với 4-phenyl
thiosemicacbazon istatin, 4-phenyl thiosemicacbazon salixylandehit,
thiosemicacbazon điaxetylmonoxim, 4-phenyl thiosemicacbazon điaxetylmonoxim
có độc tính khá mạnh đối với nấm và vi khuẩn. Các phức chất của Pt(II) với 4-
phenyl thiosemicacbazon istatin, thiosemicacbazon furaldehit có khả năng ức chế sự
phát triển của tế bào ung thư gan, ung thư màng tim, ung thư màng tử cung; phức
chất của Pt(II) với 4-metyl thiosemicacbazon istatin, 4-metyl thiosemicacbazon
furaldehit đều có khả năng ức chế tế bào ung thư màng tim và ung thư biểu mô ở
người.
Đặc biệt tác giả [7] đã tổng hợp và nghiên cứu hoạt tính sinh học của phức
chất giữa Co(II), Ni(II), Cu(II) với các thiosemicacbazon trong đó phần đóng góp
của hợp chất cacbonyl có nguồn gốc tự nhiên như octanal, campho, xitronenlal,
mentonua. Trong số các phối tử và phức chất nghiên cứu hoạt tính sinh học thì phức
của Cu(II) với các phối tử thiosemicacbazon xitronenlal và thiosemicacbazon

m/s
ν: tần số dao động riêng của liên kết
Như vậy mỗi một liên kết có một tần số dao động riêng xác định, phụ thuộc
vào bản chất các nguyên tố tham gia liên kết mà môi trường mà liên kết đó tồn tại.
Khi tham gia tạo liên kết phối trí với các ion kim loại thì các dải hấp thụ của nhóm
đang xét sẽ bị dịch chuyển vị trí hay thay đổi về cường độ. Từ sự dịch chuyển về vị
trí hay thay đổi về cường độ ta sẽ thu được một số thông tin về mô hình tạo phức
của phối tử đã cho.
Phổ hấp thụ hồng ngoại đã sớm được sử dụng trong việc nghiên cứu các
thiosemicacbazon cũng như phức chất của chúng với các kim loại chuyển tiếp. Tuy
nhiên, do cấu tạo phức tạp của các hợp chất thiosemicacbazon mà các tính toán lý
thuyết để đưa ra các quy kết cụ thể còn gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy, việc
quy kết các dải hấp thụ trong phân tử và trong phức chất của chúng còn chủ yếu dựa
vào phương pháp gần đúng dao động nhóm. Hiện nay vẫn chưa hoàn toàn thống
nhất về sự quy kết các dải hấp thụ trong phổ của các thiosemicacbazit và các
thiosemicacbazon. Trong tài liệu [1] đã quy kết các dải hấp thụ chính trong bảng
sau:
B¶ng c¸c d¶i hÊp thô chÝnh trong phæ IR cña thiosemicacbazit
ν
i
cm

1
Quy kÕt
ν
i
cm

1
Quy kÕt

3290
ν
s
(N
4
H
2
) ν
10
1420
ν
as
(CNN)
ν
4
3210
ν
s
(N
1
H
2
) ν
11
1320
ν
s
(CNN)
ν
5

đặc trưng cho dao động hoá trị của nhóm C=S thay đổi trong một khoảng rộng từ
750-900cm
-1
và dải này có xu hướng giảm cường độ và dịch chuyển về phía tần số
thấp hơn khi tham gia tạo phức. Trong quá trình tạo phức, nếu xảy ra sự thiol hoá
thì dải hấp thụ đặc trưng cho dao động của nhóm CNN thường dịch chuyển về phía
có tần số cao hơn và xuất hiện trong khoảng từ 1300 đến 1400-1500cm
-1
trong phức
chất của thiosemicacbazon salixylandehit, isatin, axetyl axeton với các kim loại như
Cu
2+
, Ni
2+
, Co
3+
,…Nhóm NH
2
đóng góp cùng với ν
C=C
tạo thành dải hấp thụ ở 1590-
1620cm
-1
và dải này thường thay đổi không đáng kế nếu nhóm NH
2
không tham gia
tạo phức.
1.4.2. Phương pháp phổ cộng hưởng từ proton và cộng hưởng từ
cacbon 13:
Phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân là một trong những phương pháp

. Trong phổ cộng hưởng
từ proton của NH-hidrazin cho tín hiệu cộng hưởng ở khoảng 11,5ppm, proton ở
liên kết đôi CH=N ở vùng gần 8,3ppm và proton của OH ở khoảng 10ppm
[3,25,26].
Ngoài ra phương pháp cộng hưởng
13
C cũng bổ trợ cho việc nghiên cứu cấu
tạo của phối tử và phức chất vì số lượng các nguyên tử C trong chúng cũng không
nhiều. Sự thay đổi tín hiệu cộng hưởng của C trong các nhóm nguyên tử sẽ giúp ta
khẳng định sự hình thành liên kết mới đã xảy ra chưa và xảy ra tại vị trí nào.
1.4.3 Phương pháp phổ khối lượng:
Phương pháp phổ khối lượng là phương pháp khá hiện đại và quan trọng
trong việc xác định một cách định tính và định lượng thành phần cũng như cấu trúc
của các hợp chất hoá học. Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là có độ nhạy cao,
cho phép xác định tương đối chính xác phân tử khối của hợp chất.
Cơ sở của phương pháp là sự bắn phá các phân tử hợp chất hữu cơ trung hoà
bằng các phân tử mang năng lượng cao để biến chúng thành các ion phân tử mang
điện tích dương hoặc phá vỡ thành các mảnh ion, các gốc. Tuỳ thuộc vào cấu tạo và
tính chất của chất nghiên cứu mà người ta chọn phương pháp bắn phá và năng
lượng bắn phá thích hợp.
Hiện nay trong phương pháp phổ khối người ta thường áp dụng các phương
pháp ion hoá khác nhau như: ion hoá hoá học (CI), ion hoá bằng phương pháp bụi
electron (ESI), bắn phá bằng nguyên tử tăng tốc (FAB), phun mù e dùng khí trợ
giúp (PAESI)…Các phương pháp này đều có những ưu, nhược điểm riêng. Tuy
nhiên, trong số các phương pháp trên, phương pháp bụi e là phù hợp nhất và được
sử dụng để nghiên cứu các phức chất của kim loại. Ưu điểm của phương pháp này
là năng lượng ion hoá thấp do đó không phá vỡ hết các liên kết phối trí giữa kim
loại và phối tử. Phương pháp ESI gồm 4 bước cơ bản như sau:
+ Bước 1: Ion hoá mẫu trong dung dịch: bước này thực hiện sự chuyển đổi
pH để tạo ra sự ion hoá trong dung dịch mẫu.

đồng vị sau đó so sánh với cường độ của các pic trong phổ thực nghiệm để suy ra
sự tương quan tỷ lệ các pic đồng vị theo thực tế và theo lý thuyết. Từ đó khẳng định
công thức phân tử phức chất giả định.
Việc tính toán lý thuyết được sử dụng bằng cách sử dụng phần mềm tính toán
isotope disstribution calculator: www.webelement.com hoặc
http:/www.sisweb.com/mstool/isotope.
1.4.4 Phân tích hàm lượng Pd(II) trong phức chất
Hàm lượng của Pd trong phức chất được xác định theo phương pháp phân
tích trọng lượng bằng cách kết tủa Pd bằng đimetylglyoxim.
Quy trình cụ thể như sau: Cân một lượng chính xác m
0
gam mẫu trong
khoảng 0,03  0,05g chuyển vào bình Kendan. Thấm ướt mẫu bằng vài giọt H
2
SO
4
đặc rồi đun trên bếp điện cho tới khi mẫu tan hết. Để nguội một lúc rồi nhỏ vào đó
2ml dung dịch H
2
O
2
30% tiếp tục đun cho tới khi có khói trắng thoát ra. Lặp lại
cụng on nh vy cho ti khi thu c dung dch trong sut cú mu vng nht i
vi phc ca Pd(II).
ngui dung dch thu c, sau ú chuyn vo cc v pha loóng thnh
50ml. Chnh mụi trng bng dung dch NH
3
loóng cho ti khi pH = 2 4. Thờm
vo ú tng git dung dch imetyl glyoxim (1,5% trong etanol) ti khi khụng thy
kt ta mi xut hin, thờm tip 5ml na m bo d imetyl glyoxim. Kt ta

50
(50% inhibitor concentration - nồng độ ức chế 50%),
MBC (Minimum bactericidal concentration - nồng độ diệt khuẩn tối thiểu).
1.5.1.2 Các chủng vi sinh vật kiểm định
Bao gồm những vi khuẩn và nấm gây bệnh ở ngời:
- Bacillus subtilis: là trực khuẩn gram (+), sinh bào tử, thờng không gây
bệnh.
- Staphylococcus aureus: cầu khuẩn gram (+), gây mủ các vết thơng, vết
bỏng, gây viêm họng, nhiễm trùng có mủ trên da và các cơ quan nội tạng.
- Lactobacillus fermentum: vi khuẩn gram (+), là loại vi khuẩn đờng ruột lên
men có ích, thờng có mặt trong hệ tiêu hoá của ngời và động vật.
- Escherichia coli: vi khuẩn gram (-), gây một số bệnh về đờng tiêu hoá nh
viêm dạ dày, viêm đại tràng, viêm ruột, viêm lỵ trực khuẩn.
- Pseudomonas aeruginosa: vi khuẩn gram (-), trực khuẩn mủ xanh, gây
nhiễm trùng huyết, các nhiễm trùng ở da và niêm mạc, gây viêm đờng tiết niệu,
viêm màng não, màng trong tim, viêm ruột.
- Salmonella enterica: vi khuẩn gram (-), vi khuẩn gây bệnh thơng hàn, nhiễm
trùng đờng ruột ở ngời và động vật.
- Candida albicans: là nấm men, thờng gây bệnh ta lỡi ở trẻ em và các bệnh
phụ khoa.
1.5.1.3 Môi trờng nuôi cấy
MHB (Mueller-Hinton Broth), MHA (Mueller-Hinton Agar); TSB (Tryptic
Soy Broth); TSA (Tryptic Soy Agar) cho vi khuẩn; SDB (Sabouraud-2% dextrose
broth) và SA (Sabouraud-4% dextrose agar) cho nấm.
I.5.1.4 Cách tiến hành
a. Pha loãng mẫu thử:
Mẫu ban đầu đợc pha loãng trong DMSO và nớc cất tiệt trùng thành một
dãy 05 nồng độ hoặc theo yêu cầu và mục đích thử. Nồng độ thử cao nhất đối với
dịch chiết là 256àg/ml và với chất sạch là 128àg/ml.
b. Thử hoạt tính

lung carcinoma) - ung th phổi và MCF-7 (Human breast carcinoma) - ung th vú.
1.5.2.3 Phơng pháp thử độc tế bào
Phơng pháp thử độ độc tế bào là phép thử nhằm sàng lọc, phát hiện các chất
có khả năng kìm hãm sự phát triển hoặc diệt tế bào ung th ở điều kiện in vitro.
Các dòng tế bào ung th nghiên cứu đợc nuôi cấy trong các môi trờng nuôi
cấy phù hợp có bổ xung thêm 10% huyết thanh phôi bò (FBS) và các thành phần
cần thiết khác ở điều kiện tiêu chuẩn (5% CO
2
; 37
o
C; độ ẩm 98%; vô trùng tuyệt
đối). Tùy thuộc vào đặc tính của từng dòng tế bào khác nhau, thời gian cấy chúng
cũng khác nhau. Tế bào phát triển ở pha loãng sẽ đợc sử dụng để thử độc tính.
Thử độc tế bào: Mẫu thử đợc pha loãng theo dãy nồng độ là 128 àg/ml;
32àg/ml; 8àg/ml; 2àg/ml; 0,5àg/ml. Bổ sung 200àl dung dịch tế bào ở pha log
nồng độ 3 x 10
4
tế bào/ml vào mỗi giếng (đĩa 96 giếng) trong môi trờng RPMI
1640 cho các dòng tế bào Hep-G2, MCF-7, KB; môi trờng DMEM cho LU-1.
Giếng điều khiển có 200 àl dung dịch tế bào 3x10
4
tế bào/ml. ủ ở 37
0
C/ 5% CO
2
.
Sau 3 ngày thêm 50 àl MTT (1mg/ml pha trong môi trờng nuôi cấy không huyết
thanh) và ủ tiếp ở 37
0
C/4 giờ; loại bỏ môi trờng, thêm 100 àl DMSO lắc đều đọc

Trong H
+
(pH=1-2)
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ chung tổng hợp các phối tử thiosemicacbazon
và phối tử 4-metyl, 4-phenyl thiosemicacbazon
a. Tổng hợp thiosemicacbazon benzanđehit (Hthbz)
Hoà tan 0,91g (0,01 mol) thiosemicacbazit trong 15ml nước đã được axit hoá
bằng dung dịch HCl sao cho môi trường có pH = 1-2. Sau đó đổ từ từ dung dịch này
C N
R
R'
NH
C
NHR''
S
vào 15ml dung dịch etanol đã hoà tan 1 ml benzanđehit (0,01 mol). Hỗn hợp được
khuấy ở nhiệt độ phòng trên máy khuấy từ 2 giờ. Khi đó từ dung dịch sẽ tách ra kết
tủa màu trắng. Lọc kết tủa trên phễu lọc đáy thuỷ tinh xốp, rửa bằng nước, hỗn hợp
rượu - nước, rượu, cuối cùng bằng đietyl ete. Sản phẩm được làm khô trong bình
hút ẩm đến khối lượng không đổi trước khi tiến hành các thí nghiệm tiếp theo.
b. Tổng hợp 4-metyl thiosemicacbazon benzanđehit (Hmthbz)
Phối tử Hmthbz được tổng hợp bằng cách khuấy đều hỗn hợp gồm 15ml
dung dịch nước chứa 1,05g (0,01 mol) 4-metyl thiosemicacbazit có pH=1-2 vào
15ml dung dịch etanol có chứa 1ml benzanđehit trên máy khuấy từ ở nhiệt độ phòng
cho tới khi thấy xuất hiện kết tủa màu trắng mịn tách ra thì khuấy thêm 2h nữa để
đảm bảo phản ứng xảy ra hoàn toàn. Lọc kết tủa trên phễu lọc đáy thuỷ tinh xốp,
rửa bằng nước, hỗn hợp rượu - nước, rượu cuối cùng bằng đietyl ete. Sản phẩm
được làm khô trong bình hút ẩm đến khối lượng không đổi trước khi tiến hành các
thí nghiệm tiếp theo.
c. Tổng hợp 4-phenyl thiosemicacbazon benzanđehit (Hpthbz)

pthpy)
Hoà tan 1,67g (0,01 mol) 4- phenyl thiosemicacbazit được hoà tan trong
15ml nước cất đã được axit hoá bằng HCl loãng để đảm bảo pH của dung dịch từ 1-
2. Sau đó thêm 15ml dung dịch nước chứa 0,7ml (0,01 mol) axit pyruvic. Hỗn hợp
này được khuấy đều trên máy khuấy từ trong vòng 2 giờ ở nhiệt độ phòng. Khi đó
từ hỗn hợp tách ra kết tủa màu trắng ngà, lọc rửa kết tủa này trên phễu lọc đáy thuỷ
tinh xốp bằng nước, bằng đietylete. Cuối cùng chất rắn thu được được làm khô
trong bình hút ẩm đến khối lượng không đổi.
Sau khi lọc rửa xong và làm khô trong bình hút ẩm, thử sơ bộ độ tan của các
phối tử ta thu được bảng sau:
Bảng 2.1: Các thiosemicacbazon được sử dụng làm phối tử
STT Tên phối tử Ký hiệu Màu sắc Dung môi hoà tan
1 Thiosemicacbazon
benzanđehit
Hthbz Trắng
rượu, axeton, DMF,
DMSO
2 4-metyl thiosemicacbazon
benzanđehit
Hmthbz Trắng
rượu, axeton, DMF,
DMSO
3 4-phenyl thiosemicacbazon
benzanđehit
Hpthbz Trắng
rượu, axeton, DMF,
DMSO
4 Thiosemicacbazon pyruvic H
2
thpy Trắng

6
H
5
)
Trong etanol
Trong nước, dung dịch NH
3
a. Tổng hợp phức chất của Pd(II) với thiosemicacbazon benzanđehit:
Pd(thbz)
2
Phức chất Pd(thbz)
2
được tổng hợp bằng cách khuấy đều hỗn hợp của 10ml
dung dịch muối PdCl
2
0,2M (0,002 mol) đã được điều chỉnh môi trường bằng dung
dịch NH
3
đến môi trường pH của dung dịch đạt 9-10 và 30ml etanol nóng có hoà tan
0,716g Hthbz (0,004 mol). Sau một thời gian quan sát thấy tách ra kết tủa màu vàng
cam của phức Pd(II), tiếp tục khuấy hỗn hợp này trong vòng 3 giờ. Sau đó tiến hành
lọc trên phễu lọc thuỷ tinh xốp và rửa bằng nước, hỗn hợp rượu - nước và cuối cùng
bằng đietyl ete. Chất rắn được làm khô trong bình hút ẩm đến khối lượng không đổi
để tiến hành các nghiên cứu tiếp theo.
b. Tổng hợp phức chất của Pd(II) với 4-metyl thiosemicacbazon
benzanđehit: Pd(mthbz)
2
Hoà tan hoàn toàn 0,772g (0,004 mol) Hmthbz trong 30ml etanol nóng rồi đổ
từ từ vào dung dịch của 10ml muối PdCl
2

là đietyl ete. Làm khô chất rắn thu được trong bình hút ẩm đến khối lượng không
đổi.
d. Tổng hợp phức chất của Pd(II) với thiosemicacbazon pyruvic:
Pd(thpy)NH
3
Hoà tan hoàn toàn 0,322g (0,002 mol) H
2
thpy trong 15ml etanol nóng rồi đổ
từ từ vào dung dịch của 10ml muối PdCl
2
0,2M (0,002mol) đã được điều chỉnh môi
trường bằng dung dịch NH
3
(pH=9-10). Vừa đổ vừa khuấy đều hỗn hợp trên máy
khuấy từ ở 40
0
C cho tới khi xuất hiện kết tủa màu vàng, sau đó khuấy tiếp thêm 3
giờ nữa ở nhiệt độ phòng để đảm bảo phản ứng xảy ra hoàn toàn. Lọc rửa kết tủa
trên phễu lọc đáy thuỷ tinh xốp bằng nước, hỗn hợp rượu nước, rượu và cuối cùng
là đietyl ete. Làm khô chất rắn thu được trong bình hút ẩm đến khối lượng không
đổi.
e. Tổng hợp phức chất của Pd(II) với 4-metyl thiosemicacbazon pyruvic:
Pd(mthpy)NH
3
Hoà tan hoàn toàn 0,35g (0,002 mol) H
2
mthpy trong 15ml etanol nóng rồi đổ
từ từ vào dung dịch của 10ml muối PdCl
2
0,2M (0,002mol) đã được điều chỉnh môi

Bảng 2.2: Bảng kê màu sắc và dung môi hoà tan các phức chất tổng hợp được
STT Phức chất Màu sắc Dung môi hoà tan
1 Pd(thbz)
2
Vàng cam
Axeton, DMF, DMSO, CHCl
3
,…
2 Pd(mthbz)
2
Vàng cam
Axeton, DMF, DMSO, CHCl
3
,…
3 Pd(pthbz)
2
Vàng cam
Axeton, DMF, DMSO, CHCl
3
,…
4 Pd(thpy)NH
3
Vàng
Axeton, DMF, DMSO, CHCl
3
,…
5 Pd(mthpy)NH
3
Vàng
Axeton, DMF, DMSO, CHCl


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status