ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ - LUẬT
BỘ MÔN LÝ THUYẾT THỐNG KÊ
o0o
ĐỀ TÀI CUỐI KHÓA:
KHẢO SÁT NHU CẦU ĐI DU LỊCH, DÃ NGOẠI CỦA SINH VIÊN LÀNG
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GVHD: ThS.NGUYỄN ĐÌNH UÔNG
LỚP: K08405A
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 20
1. NGUYỄN XUÂN CƯỜNG K064020108
2. BÀNH HOÀI DANH K084050746
3. NGUYỄN THỊ HƯƠNG K084050770
4. TRẦN THỊ PHƯƠNG THÙY K084050858
5. THI THỊ PHƯƠNG Ý K084050879
Tháng 1/2010
MỤC LỤC:
Lời mở đầu
1. Lí do chọn đề tài…………………………………………………………
2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………
3. Đối tượng, đơn vị, phạm vi nghiên cứu…………………………………
4. Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………….
Chương I: Mô hình nghiên cứu
1.1 Nghiên cứu chung………………………………………………………
1.2 Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………
1.3 Sơ đồ tác động của nhu cầu đi du lịch, dã ngoại…………………………
1.4 Bảng câu hỏi phỏng vấn………………………………………………….
Chương II: Phân tích- Đo lường- Đánh giá kết quả điều tra
2.1 Phân tích chung………………………………………………………….
2.2 Ước lượng và kiểm định một số giả thiết………………………………
thay vì tìm đến các công ty cung cấp dịch vụ du lịch thường tự liên hệ nhà xe, các vật
dụng cần thiết trong quá trình đi du lịch, dã ngoại, chỗ ăn nghỉ…Thêm vào đó là việc
thiếu những thông tin cần thiết, so sánh giữa những địa điểm khác nhau để có thể chọn
ra địa điểm phù hợp dễ dẫn đến việc bị ép giá xe, giá phòng trọ, nhà nghỉ và các dịch
vụ khác.
Xuất phát như nhu cầu cũng như thực trạng thực tế đi du lịch dã ngoại của sinh
viên tại làng đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, nhóm chúng tôi nhận thấy
một bất cập rất lớn về cung cầu ở đây. Trong khi nhu cầu của sinh viên là rất cao như
thế nhưng lại không có một trung tâm hay công ty cung cấp dịch vu du lịch trọn gói
nào với giá cả phù hợp cho sinh viên. Hãy thử làm một phép tính nhỏ. Giả sử nếu có
một công ty chuyên cung cấp dịch vụ du lịch được thành lập tại khu vực này. Giả sử
mỗi năm một lớp tổ chức du lịch, dã ngoại một lần, cứ mỗi chuyến đi, sau khi cung
cấp các dịch vụ cũng như thanh toán các khoản cẩn thiết,theo tính toán của chúng tôi
công ty có thể thu được lợi nhuận thực tế ít nhất là 100.000 đồng. Theo số liệu ước
tính trong các trường thuộc đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 7000
lớp, như vậy với một phép tính đơn giản nếu hoạt động trong vòng một năm công ty
có thể thu được lợi nhuận ít nhất 700 triệu đồng, một con số không nhỏ, đó là chưa kể
nhu cầu này không chỉ tại khu vực đại học Quốc gia mà còn ở các trường khác(đại học
Nông Lâm, đại học Thể dục- Thể thao….) Bên cạnh đó, với số lượng sinh viên đông
đảo nhất tại thành phố thì khu vực làng Đại học sẽ trở thành một thị trường rất tiềm
năng trong lĩnh vực này.
Chính vì những lý do thực tế đó, nhóm chúng tôi quyết định tiến hành khảo sát
và nghiên cứu về vấn đề này thông qua đề tài “ nhu cầu đi du lịch, dã ngoại của sinh
viên làng đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh”
2. Mục đích nghiên cứu :
Mục tiêu đầu tiên của đề tài này trước hết là cung cấp một cái nhìn tổng quan
cho sinh viên cùng những thành phần khác trong xã hội về “Nhu cầu đi du lịch, dã
ngoại của sinh viên làng đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh”. Thông qua đó
mọi người có thể nhận thấy nhu cầu và xu hướng chọn địa điểm dã ngoại, phương
thức du lịch của sinh viên làng Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Với mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu như trên đề tài được thực hiện
bằng phương pháp định tính và định lượng theo các giai đoạn sau :
+ Giai đoạn 1 : xác định lí do, mục đích, nội dung cũng như đối tượng và phạm
vi nghiên cứu.
+ Giai đoạn 2 : xây dựng bảng câu hỏi khảo sát.
Dựa trên ý kiến cũng như hiểu biết của mỗi thành viên, nhóm đã cố gắng đưa
ra một bảng câu hỏi hoàn chỉnh ,thể hiện được những nội dung chủ yếu của đề tài và
có khả năng phân loại đối tượng khảo sát sao cho phù hợp ( phan loại người đi hay
không đi du lchj, dã ngoại với tập thể hay giữa những người tổ chức hay không tổ
chức các cuộc đi chơi tập thể…)
Sau khi xây dựng xong bảng câu hởi dự kiến, nhóm đã tiến hành điều tra thử
trên một số các bạn sinh viên ( 20 người ) nhằm tìm ra những điểm chưa hợp lí của
bảng câu hỏi và có điều chỉnh sao cho phù hợp
+ Giai đoạn 3 : điều tra thống kê ( phương pháp chọn mẫu)
Bảng câu hỏi phỏng vấn được điều tra bằng cách lấy mẫu thuận tiện, nhóm đã
tiếp cận những đối tượng của đề tài, đề nghi sự giúp đỡ của họ dưới dạng phỏng vấn
trực tiếp.Nhóm đã điều tra được tất cả 167 bạn sinh viên đang ở kí túc xá Đại học
Quốc gia và các day trọ trên cùng địa bàn.
+ Giai đoạn 4 : sau khi điều tra bảng câu hỏi xong, nhóm tiến hành tập hợp, sắp
xếp lại toàn bộ số liệu thu thập được.Dữ liệu được mã hóa, nhập máy tính và phân tích
với phần mêm SPSS 17.Trong đó đã định ra các cấp bậc đo lường cũng như các thang
đo dữ liệu, tóm tắt bằng các đại lượng thống kê mô tả, ước lượng….
+ Giai đoạn 5 : phân tích và giải thích kết quả.Từ đó dự đoán xu hướng phát
triển.
+ Giai đoạn 6 : báo cáo và truyền đạt kết quả nghiên cứu.
CHƯƠNG I: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu chung :
Gi i thi u b n bèớ ệ ạ
i ti p l n sauĐ ế ầ
Khong đi n aữ
Câu 1 Trong năm, lớp bạn thường tổ chức mấy lần đi Tỷ lệ
hanh vi
ĐI DU LỊCH,
DÃ NGOẠI
Kết quả
Mở
rộng
kiên
thức
Giải
tỏa
căng
thẳng
Giao
lưu
học
hỏi
du lịch, dã ngoại
Câu 2 Số người tham gia các cuộc du lịch, dã ngoại
của lớp bạn
Tỷ lệ
Câu 3 Thu nhập bình quân 1 tháng của bạn Thứ bậc
Câu 4 Bạn có thường xuyên tham gia hoạt động du
lịch ,dã ngoại không
Thứ bậc
Câu 5 Vì sao bạn không tham gia du lịch, dã ngoại Định danh
Câu 6 Nếu không tham gia du lịch,dã ngoại bạn có
nhu cầu giải trí nào
Định danh
Câu 7 Mức độ hài lòng của bạn về các dịch vụ du
một hoạt động vui chơi tập thể.
Nhìn chung, bảng câu hỏi phỏng vấn bao gồm 4 phần như sau :
Từ câu 1 đến câu 4 và câu 15 chung cho tất cả đối tượng điều tra.
Câu 5, câu 6 giành cho những người không tham gia hoạt động du lịch, dã
ngoại do lớp/nhóm/ câu lạc bộ tổ chức.
Từ câu 7 đến câu 11, là câu hỏi giành cho những người có tham gia các hoạt
động du lịch, dã ngoại nhưng không tham gia tổ chức.
Từ câu 12 đến câu 14 phần giành cho những người đã từng tham gia tổ chức
những hoạt động du lịch, dã ngoại cho lớp/ nhóm/ câu lạc bộ.
CHƯƠNG II : PHÂN TÍCH – ĐO LƯỜNG – ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRA
2.1 Phân tích chung :
Câu hỏi đầu tiên với mục đích kiểm tra tiềm năng du lịch, dã ngoại ở mỗi đơn
vị lớp/ nhóm/ câu lạc bộ cho kết quả như sau :
So lan to chuc cua lop
Tần số Tần suất Tần suất
hợp lệ
Tần suất tích
lũy
Không tổ chức
1 lần
2 lần
hơn 2 lần
Tổng
8
57
56
46
167
4.8
34.1
Tổng 35 103 20 9 167
Dựa vào bảng trên ta thấy không một sinh viên nào có thu nhập cao (> 3
triệu) lại không bao giờ tham dự các hoạt động du lịch, dã ngoại do tập thể tổ
chức.Hầu hết các bạn có thu nhập trung bình ( từ 1- 2 triệu ) chỉ thỉnh thoảng mới
tham gia các hoạt động này( 76/103).Những bạn có thu nhập thấp gần như không
tham gia thường xuyên các cuộc đi chơi ( 1/35).Có thể nói thu nhập góp phần rất lớn
trong việc quyết định đi chơi với tập thể của các bạn sinh viên.Tựu chung lại hầu hết
mọi người đều thỉnh thoảng mới đi du lịch, dã ngoại.
Trong số 26 bạn được điều tra trả lời là chưa từng tham gia( 15,6%),khi hỏi
lí do các bạn cho biết : 38,5% cảm thấy không hứng thú do không thích địa điểm đó,
không có những người bạn thân cùng đi hay đã từng đi những nơi đó rồi; 26,9% cho
biết họ không đủ tiền để tham gia; một số khác do không sắp xếp được thời gian hợp
lí để đi cùng với lớp ( 19,2%); số còn lại là do vấn đề sức khỏe.Khi những người này
không đi du lịch, dã ngoại, họ chọn lựa những nhu cầu giải trí khác phù hợp với mình
hơn như đi shopping( 8,1%), đi dự tiệc cùng bạn bè ( 8,1%) ,uống café (18,9%) , đi
xem phim ( 24,3%) và nhiều hoạt động khác nữa…
Quay lại với những người tham gia hoạt động du lịch, dã ngoại, khi phỏng
vấn về các dịch vụ ở địa điểm du lịch, mức độ hài long của họ như sau( đơn vị %)
Tiêu chí Không
hài lòng
Tạm được Bình thường Được Rất hài
lòng
Địa điểm 5 14,3 45,7 24,3 1
0,7
Phương tỉện đi lại 11,4 20 37,1 25,7 5
,7
Ăn uống 6.4 31,4 36,4 20 5
,7
Chỗ nghỉ ngơi 10 27,1 35,7 20 7
,1
tìm kiếm những thông tin cần thiết. Có rất nhiều kênh thông để bạn có thể tham khảo
và lựa chọn.Rất nhiều bạn chọn cách đơn giản, đỡ tốn kém là tìm hiểu thông qua bạn
bè, người quen, nhất là các anh chị năm trước có nhiều kinh nghiệm tổ chức (43,3%).
Ngoài ra còn một công cụ hữu ích khác là thông qua phương tiện thông tin đại chúng
như sách báo, tivi, hay internet… chiếm tỷ lệ khá lớn 31,7%. Một phuơng án khác đó
là tới trực tiếp nơi có ý định tổ chức tham khảo trước địa hình cũng như chỗ ăn nghỉ…
nhưng cách làm này xem ra khá tốn kém về mặt kinh phí, thời gian cũng như tiền bạc,
nó chỉ có thể áp dụng cho những địa điểm ở gần đây. Có một điểm cần lưu ý ở đây,
chỉ khoảng 3,3% tìm hiểu những thông tin cần thiết ở các công ty, trung tâm môi giới
chuyên cung cấp các dịch vụ về du lịch, một con số rất nhỏ.
Khi tổ chức các hoạt động này, thường sẽ vướng phải những khó khăn nhất
định như liên hệ nhà xe, nhà nghỉ hay chỗ ăn uống dễ bị ép giá do không thể nắm bắt
đầy đủ thông tin thực tế ở nơi đi du lịch, thậm chí đôi khi phải tự túc về vấn đề ăn
uống hay các công cụ dụng cụ cần thiết cho quá trình vui chơi.Tuy nhiên, khi làm
khảo sát điều tra thu được kết quả sau :
Tiêu chí Giá trị trung bình
Thông tin về địa điểm và các dịch vụ liên quan 2,65
Kinh phí 3,18
An ninh 3,12
Khác 3,43
Có nghĩa hầu hết mọi người đều cho rằng những khó khăn nêu trên chỉ ở
mức bình thường, có thể khác phục được. Điều này một phần có thể lí giải do các bạn
sinh viên chịu trách nhiệm tổ chức thường tìm hiểu thông tin qua những người đi
trước hay bạn bè đã từng đi những nơi đó nên họ cảm thấy không khó khăn mấy. Làm
như thế thường xuyên,bạn sẽ không thể có cái nhìn đầy đủ về cuộc du lịch của bạn. Ví
dụ như không thể so sánh giữa nhiều địa điểm khác nhau để có thể tìm được địa điểm
phù hợp với mục đích của chuyến đi.
Thời điểm mọi người lựa chọn để đi du lịch, dã ngoại thường là nhưng dịp
được nghỉ lễ hay sau các kì thi căng thẳng, khi đó nhu cầu vui chơi là rất lớn. Vào
những dịp này mọi người có xu hướng đi du lịch dài ngày từ 2 -4 ngày tại những nơi
(0,05;2;164)
=3 << 26,408 bác bỏ giả thiết Ho .Có nghĩa
với mức thu nhập khác nhau sẽ tác động khác nhau tới việc thường xuyên tham gia
hay không.
b. Phân tích ANOVA về mức độ hài lòng về các dịch vụ khi đi du lịch,dã ngoại đến việc
tham gia thường xuyên hay không các cuộc đi du lịch, dã ngoại
Giả định :
Ho : mức độbác hài lòng của các dịch vụ có tác động như nhau
H1 : có it nhất hai yếu tố về sự hài lòng có tác đôngkhác nhau
Phân tích với phần mềm SPSS ta có bảng sau :
ANOVA
Sum of
Squares
Df Mean
Square
F Sig.
Mức độ hài lòng về
địa điểm du lịch, dã
ngoại
Between Groups 13.554 3 4.518 5.036 .002
Within Groups 122.017 136 .897
Total 135.571 139
Mức độ hài lòng về
phương tiện đi lại
Between Groups 8.499 3 2.833 2.551 .058
Within Groups 151.044 136 1.111
Total 159.543 139
Mức độ hài lòng về ăn
uống
Between Groups 21.024 3 7.008 8.170 .000
Giá trị kiểm định : Z= 1,35 < 1,645
Bác bỏ Ho chưa thể khẳng định trên 35% số người rất hưởng hứng việc thành lập
công ty nói trên.
b. Kiểm định tỷ lệ người có thu nhập trung bình từ 1- 2 triệu/ tháng chỉ thỉnh thoảng mới
tham gia các hoạt động du lịch,dã ngoại do tập thể tổ chức
Ta có n=103; mức ý nghĩa là 5% ; f= 0,74
Giả định Ho: p > 0.7
H1 : p <0.7
Giá trị kiểm định Z= 0,08 < 1.645 nên bác bỏ Ho, chưa thể khẳng định trên
70% số người có thu nhập trung bình từ 1- 2 triệu/ tháng chỉ thỉnh thoảng mới tham
gia du lịch, dã ngoại.
CHƯƠNG III : KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận :
Bảng câu hỏi phỏng vấn được phân tầng rõ ràng, có những câu hỏi chung cho
mọi đối tượng (từ câu 1 tới câu 4) và những câu hỏi dành riêng cho các đối tượng cụ
thể (như những người chưa bao giờ tham gia du lịch, dã ngoại cùng với tập thể, những
bạn có tham gia nhưng không nằm trong ban tổ chức và những thành viên trực tiếp
chuẩn bị cho chuyến đi du lịch, dã ngoại). Điều này đảm bảo tính khách quan trong
quá trình phỏng vấn và quá trình thực hiện đề tài.
Một trong những nguyên nhân để nhóm quyết định thực hiện đề tài này là từ
nhận thức chủ quan riêng - nhóm nhận thấy nhu cầu về du lịch, dã ngoại của sinh viên
là rất cao nhưng chưa được đáp ứng. Qua số liệu thu thập và phân tích đã chứng minh
điều này: dưới 5% những người được phỏng vấn chưa từng tham gia hoạt động du
lịch, dã ngoại với tập thể lớp. Từ thực tế điều này cũng hoàn toàn phù hợp: sinh viên
năm nhất có xu hướng chọn những chuyến du lịch, dã ngoại để tập thể mới làm quen
và thân thiện với nhau hơn, sinh viên năm hai chọn những chuyến du lịch, dã ngoại để
tăng cường tinh thần đoàn kết đồng thời mở rộng kiến thức sau khi đã trải qua giai
đoạn “ bỡ ngỡ”, sinh viên năm ba muốn có thêm những kỉ niệm qua những chuyến du
lịch, dã ngoại trước khi bước vào giai đoạn tốt nghiệp. Và các nhóm chơi thân cũng có
nhu cầu đi chơi và giải trí với nhau…
Phân tích dữ liệu chỉ ra rằng đa phần mọi người không hài lòng (chỉ ở mức
trung bình) đối với các dịch vụ, phương tiện đi lại và chỗ ngủ nghỉ. Nếu như các nhà
đầu tư thực sự muốn phát triển dịch vụ du lịch, dã ngoại cho sinh viên thì cần phải
khắc phục nhược điểm này. Có thể đưa ra một sự liên kết giữa những Trung tâm cung
cấp thông tin va các nhà cung cấp dịch vụ, mức đầu tư ban đầu cao hơn nhưng lợi
nhuận trong dài hạn sẽ lớn hơn. Một điều đáng lưu ý khác là chỉ 3,3% những bạn
trong ban tổ chức các cuộc du lịch, dã ngoại tìm hiểu thông tin ở các trung tâm hoặc
công ty chuyên tổ chức du lịch, dã ngoại. Đây là do thói quen làm việc theo kinh
nghiệm của thế hệ đi trước của sinh viên hay các trung tâm chưa thực sự cung cấp đầy
đủ thông tin, chưa đem lại niềm tin cho người tiêu dùng ? Hơn nữa dưới sức mạnh của
công nghệ thông tin việc tìm hiểu thông tin cũng trở nên dễ dàng hơn tuy mức độ
chính xác là không tuyệt đối. Nếu thực sự có một trung tâm hoặc công ty chuyên cung
cấp thông tin đầy đủ và chính xác thì việc tổ chức một chuyến du lịch, dã ngoại sẽ trở
nên dễ dàng hơn. Đồng thời với việc hỗ trợ hoặc có những tour du lịch trọn gói với
mức giá sinh viên sẽ khắc phục được những khó khăn về phương tiện đi lại, sự ép giá
về các dịch vụ nhà nghỉ và ăn uống, địa điểm cũng không trùng lặp tránh tạo nên sự
nhàm chán…sự thỏa mãn dành cho các chuyến du lịch, dã ngoại cũng tăng lên - tạo
nên uy tín cho trung tâm. Đây là sự có lợi từ hai phía qua sự tác động qua lại.
Qua quá trình thực hiện đề tài nhóm chúng tôi đã đưa ra được một số kết luận
cơ bản về cung và cầu du lịch, dã ngoại của sinh viên Làng Đại học Quốc gia Thành
phố Hồ Chí Minh. Với kết quả kiểm định không thể khẳng định có 35% mọi người
đồng ý thành lập một trung tâm chuyên về cung cấp nhu cầu du lịch, dã ngoại cho sinh
viên không phải là một con số thuyết phục các nhà đầu tư. Tuy nhiên số liệu này vẫn
chưa thật chính xác vì những ảnh hưởng của nhân tố chủ quan và sai sót trong quá
trình thực hiên đề tài nên các nhà đầu tư có thể căn cứ một phần kết quả của đề tài để
đưa ra một quyết định cuối cùng chính xác nhất.
3.2 Thuận lợi – khó khăn :
Trong quá trình tiến hành thực hiện đề tài, nhóm đã có những thuận lợi - khó
khăn và những hạn chế nhất định sau
3.2.1 Thuận lợi :
Quốc gia thành phố HCM. Một khi có công ty ở ngay gần đây sẽ dễ cho việc liên
hệ, cũng như thuê các công cụ dụng cụ mang theo khi đi du lịch, dã ngoại. Một
phân lí do khiến nhiều người không tìm đến các công ty môi giới như vậy vì các
côg ty ở qua xa và quan trọng hơn hết chưa có công ty nào thiên về phục vụ sinh
viên.
LỜI KẾT
Đề tài trên dù nhóm đã cố gắng hoàn thiện ở mức tốt nhất có thể nhưng chắc
chắn vẫn còn những khiếm khuyết nhất định. Những số liệu nhóm thu thập được vì
nhiều lí do có thể vẫn chưa chính xác ở nhiều chỗ. Mong rằng nhóm sẽ nhận được sự
đóng góp, giúp đỡ của giảng viên bộ môn cũng như các bạn. Mong rằng đề tài của
chúng tôi sẽ mở ra một hướng kinh doanh mới để có thể đáp ứng ngày một nhiêu hơn
nhu cầu của sinh viên nói chung cũng như sinh vien làng đại học quốc gia nói riêng.
Phụ lục :
1.PHIẾU KHẢO SÁT NHU CẦU ĐI DU LỊCH – DÃ NGOẠI CỦA SINH
VIÊN TẠI LÀNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Xin chào các bạn, chúng tôi là nhóm sinh viên khoa Kinh tế- Luật đang thực
hiện đề tài “ nhu cầu đi du lịch, dã ngoại của sinh viên làng đại học Quốc gia TP
HCM” nhằm hiểu rõ hơn nhu cầu, những khó khăn cũng như mong muốn của sinh
viên khi đi du lịch, dã ngoại.Từ đó tìm ra hướng đi cho ý tưởng thành lập trung tâm
chuyên cung cấp thông tin, dịch vụ cho những hoạt động du lịch, dã ngoại của sinh
viên.
Rất mong nhận được sự hợp tác, giúp đỡ của các bạn ^_^
Câu 1 : Trong 1 năm, lớp/ nhóm/câu lạc bộ của bạn thường tổ chức đi du lịch,
dã ngoại mấy lần?
a. Không tổ chức Ngưng ghi chép vào bảng thống kê
b. 1 lần
c. 2 lần
d. > 2 lần
Câu 2 : Số người thường tham gia vào các cuộc du lịch, dã ngoại do lớp/ nhóm/
câu lạc bộ của bạn tổ chức là :
Tiêu chí 1 2 3 4 5
Địa điểm
Phương tiện đi lại
Ăn uống
Chỗ nghỉ ngơi
Câu 8 : các địa điểm du lịch, dã ngoại mà bạn thường đến ( có thể chọn nhiều
đáp án)
a. Vùng biển ( Vũng Tàu, Phan Thiết…)
b. Khu cui chơi giải trí, khu du lịch sinh thái ( suối Tiên, Giang Điền, vườn Xoài…)
c. Những nơi có khí hậu mát mẻ ( Đà Lạt, Mũi Né…)
d. Vùng sông nước ( các tỉnh miền Tây)
e. Những nơi khác
Câu 9 : Sau mỗi chuyến du lịch, dã ngoại cảm nhận của bạn về nó như thế nào
a. Tuyệt vời! nhất định tham gia các lần sau
b. Được
c. Bình thường
d. Chán !!!
Câu 10 : Trong một lần tôe chức, số tiền bạn thường chi ra cho du lịch, dã
ngoại là bao nhiêu
a. < 100k
b. Từ 100- 200k
c. Từ 200- 300k
d. >300k
Câu 11: Bạn đã từong tham gia hoạt động du lịch, dã ngoại cho lớp/ nhóm/ câu
lạc bộ chưa?
a. Có
b. Không
Nếu trả lời không tiếp câu 15
Câu 12 : Bnạ nhận thấy những khó khăn khi tổ chức hoạt động du lịch, dã
ngoại là gì?
Trường :…………………………………………
Sinh viên năm …………………………………
Rất cảm ơn sự hợp tác của các bạn !!!
2. Phân công công việc từng thành viên trong nhóm:
- Tiến hành khảo sát: Trần Thị Phương Thùy, Thi Thị Phương Ý, Nguyễn Xuân
Cường.
- Nhập, xử lý dữ liệu bằng SPSS: Bành Hoài Danh.
- Phân tích dữ liệu xuất ra từ SPSS: Nguyễn Thị Hương.
-Cả nhóm tiến hành tổng hợp, đưa ra nhận xét, hoàn thành đề tài.