nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị viêm tụy cấp ở trẻ em - Pdf 20


1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm tụy cấp ở trẻ em là một bệnh trước đây được xem là hiếm, ít được
quan tâm chẩn đoán trên lâm sàng, vì vậy thường bị bỏ sót chẩn đoán [96] [118].
Những năm gần đây nghiên cứu của De Banto, Lopez, Werlin đã chứng minh
rằng viêm tụy cấp là một trong những nguyên nhân gây đau bụng cấp, đứng hàng
đầu trong các bệnh lý tụy ở trẻ em và cho thấy có sự gia tăng số bệnh nhi mắc
viêm tụy cấp; mỗi năm theo báo cáo ở các bệnh viện thực hành số bệnh nhân
viêm tụy cấp lên đến hàng 100 bệnh nhi hoặc nhiều hơn [65] [139] [233]. Ước
tính cho đúng tần suất và tỷ lệ mắc bệnh của bệnh viêm tụy cấp ở trẻ em là một
khó khăn. Tại Mỹ tần suất viêm tụy cấp khoảng khoảng 2,7/100.000 [83] [148],
tại châu Âu khoảng 1/500.000 [92]. Khác hẳn với người lớn, hai nguyên nhân
viêm tụy cấp thường gặp chủ yếu là sỏi đường mật và rượu, thì viêm tụy cấp ở
trẻ em nguyên nhân rất phong phú và đa dạng [73] [130] [208]. Bệnh sinh của
viêm tụy cấp rất phức tạp, hàng loạt các sự kiện xuất hiện không những ở trong
tụy mà còn xảy ra ở những cơ quan và các tổ chức khác dẫn đến viêm tụy cấp
nặng và các biến chứng. Chẩn đoán viêm tụy cấp ở trẻ em rất khó và phức tạp, vì
biểu hiện lâm sàng không điển hình như ở người lớn, hơn nữa không có tiêu
chuẩn vàng [71]. Mặc dầu amylaza, lipaza máu cho đến nay vẫn là xét nghiệm cơ
bản trong chẩn đoán viêm tụy cấp nhưng có giới hạn về độ nhạy và độ đặc hiệu.
Sau những năm 1985, sự ra đời của các phương pháp chẩn đoán hình ảnh, đã
đóng một vai trò trung tâm trong chẩn đoán và phân loại viêm tụy cấp. Như vậy
không có một dấu hiệu hay triệu chứng đặc hiệu nào riêng lẻ để chẩn đoán xác
định viêm tụy cấp, mà yêu cầu chẩn đoán xác định phải phối hợp các dấu hiệu
lâm sàng, xét nghiệm sinh hóa và chẩn đoán hình ảnh cũng như giải phẫu bệnh
[203]. Lâm sàng viêm tụy cấp có hai thể, thể nhẹ là một dạng tự lành chiếm 85%
các trường hợp viêm tụy cấp, khoảng 20 - 30% các trường hợp là viêm tụy cấp



1.1. ĐỊNH NGHĨA VIÊM TỤY CẤP
Viêm tụy cấp là quá trình viêm của tụy có hay không kèm theo tổn
thương khác nhau của mô xung quanh và các cơ quan ở xa [40].
Viêm tụy cấp ở trẻ em là một trong những bệnh lý thường gặp nhất của
tụy, nhưng về phương diện chẩn đoán và xử trí thì nó vẫn còn gặp nhiều khó
khăn. Hiện nay ít có các nghiên cứu tiến cứu ở trẻ em, nên việc chẩn đoán và
điều trị chủ yếu dựa vào các nghiên cứu ở người lớn.
1.2. TẦN SUẤT VIÊM TỤY CẤP TRẺ EM
Viêm tụy cấp là bệnh trước đây cho rằng không phổ biến ở trẻ em.
Những báo cáo đầu tiên về bệnh lý này khoảng 2-9 trường hợp mỗi năm.
Những nghiên cứu gần đây của De Banto, Lopez, Werlin, cho thấy có sự gia
tăng số bệnh nhi mắc viêm tụy cấp mỗi năm ở các bệnh viện thực hành lên
đến 100 hoặc nhiều hơn nữa [65] [139] [212] [234]. Thật là khó khăn để ước
tính cho đúng tần suất mắc bệnh của bệnh viêm tụy cấp ở trẻ em [28] [92].
Đến năm 1999 tại Mỹ còn cho rằng tần suất viêm tụy cấp ở trẻ em không
được chính xác, bởi vì hầu như các báo cáo chỉ có một vài trường hợp hoặc số
ít bệnh nhân. Ngày nay viêm tụy cấp ở trẻ em đã được chứng minh rằng là
một bệnh thông thường đứng hàng đầu về tỉ lệ mắc bệnh trong các bệnh lý ở
tụy ở trẻ em. Theo nghiên cứu của Glenda Romero-Urquhart thì tần suất ở trẻ
em khoảng 2,7/100.000 [83] [148]. Còn theo Gryboski, tần suất mắc bệnh ở
trẻ em tại châu Âu là hiếm gặp tỷ lệ khoảng 1/500.000 [92]. Nghiên cứu của
Olive MR [160] tại Australia, so sánh 2 giai đoạn 1993-1997 và 1998-2002,
thấy tăng tần suất mắc bệnh viêm tụy cấp trẻ em từ 22,8 ± 4,6 lên 38,2 ± 10,8
trường hợp / năm. Một nghiên cứu của David Hodges năm 2006 tại bệnh viện
Pittsburgh [160] cho thấy năm 1993 có 28 bệnh nhi mắc bệnh viêm tụy cấp,
thì đến năm 2004 tăng lên đến 141 trường hợp. Các tác giả đi đến kết luận

4
rằng tần suất viêm tụy cấp ở trẻ em có xu hướng tăng trong hơn thập kỷ qua

5
bụng thường gặp ở Việt Nam [8]. Năm 1935, lần đầu tiên Mayer, Hồ Đắc Di,
Tôn Thất Tùng đã mô tả bệnh viêm tụy cấp qua phẫu thuật, sau đó năm 1942,
Gs Tôn thất Tùng đã lưu ý bệnh cảnh viêm tụy cấp thể phù do giun đũa chui
vào ống mật tụy qua phẫu thuật, cùng lúc Phạm Biểu Tâm (1959) tại miền
Nam cũng có những nghiên cứu tương tự. Năm 1963 Nguyễn Như Bằng mô tả
thương tổn vi thể và đại thể của viêm tụy cấp do giun đũa đi vào ống mật tụy
qua 4 bệnh án ở trẻ em. Năm 1966, Nguyễn Xuân Thụ, 1975 Đỗ Kim Sơn và
Phạm Đình Châu có 8/20 bệnh nhân là trẻ em. Trong một công trình nghiên
cứu của Nguyễn Dương Quang nghiên cứu 2030 trẻ em từ 13 tháng đến 15
tuổi bị giun đũa vào đường mật tụy từ 1959-1975 tác giả cũng đã ghi nhận có
nhiều trường hợp giun đũa chui vào ống wirsung gây ra viêm tụy cấp [4]. Lưu
Văn Thắng đã nghiên cứu 68 trường hợp bị viêm tụy cấp năm 1956-1958 tại
bệnh viện hữu nghị Việt Nam - CHDC Đức thì có 60 trường hợp là Viêm tụy
cấp thể phù [6]. Viêm tụy cấp thể phù ở Việt Nam phần lớn là do giun đũa
chui vào ống mật tụy gây ra, có khi đi kèm với sỏi mật. Những kết luận này
đều phù hợp với những nhân xét của các nghiên cứu trước đó của đa số các tác
giả như GS Tôn thất Tùng [8]. Những năm gần đây có nhiều bài viết liên quan
đến bệnh lý này ở trong nước với các tác giả như Hoàng Trọng Thảng và cộng
sự [5], Nguyễn Ngọc Kha [1], và cho đến nay đây là một đề tài nghiên cứu cấp
nhà nước đã và đang được tiến hành nghiên cứu tại bệnh viện Việt - Đức Hà
Nội trên mọi khía cạnh, nhưng chủ yếu nghiên cứu ở người lớn.
1.4. NGUYÊN NHÂN VIÊM TỤY CẤP Ở TRẺ EM
Nguyên nhân gây viêm tụy cấp ở trẻ em rất khác biệt ở các nước khác nhau
1. Nhiễm trùng và viêm tụy cấp: tất cả các loại nhiễm trùng đều có thể
gây ra viêm tụy cấp. Một trong những nguyên nhân thường gặp ở trẻ em là
nhiễm virus. Những nguyên nhân này có thể gây viêm tụy cấp bằng nhiễm
trùng tụy trực tiếp. Ký sinh trùng như giun đũa là một nguyên nhân thường
gặp của viêm tụy cấp ở một số vùng trên thế giới, đặc biệt ở một số nước đang
phát triển, chúng gây bệnh do làm tắc nghẽn các ống tụy (hình 2.3). Nhiễm

vào năm 1996, đây là bệnh di truyền trội 80%, xuất hiện trên lâm sàng trước
15 tuổi, bắt đầu 5 tuổi, type I là đột biến gen trypsinogen ở NST7q35, typ II là
một đột biến ở vị trí khác. Đột biến gen ở vị trí 122 của trypsinogen R122H

7
hay gặp, những đột biến khác trên gen trypsinogen được tìm thấy ở những phả
hệ khác gây viêm tụy di truyền là N29I, A16V, D22G, K23R và R122C. Ba
đột biến R122H, R122C và N29I là ba đột biến chiếm phần lớn trong số các
bệnh nhân này [112] [171].
8. Viêm tụy cấp ở trẻ em do nguyên nhân rượu và thuốc: Nghiện rượu
là một nguyên nhân không thường gặp ở trẻ em nhưng phải nghĩ đến để phòng
ngừa, đặc biệt trẻ lớn [167]. ở người lớn nguyên nhân này thường được quan
tâm hàng đầu [32]. Một số lượng lớn các loại thuốc đã được nhấn mạnh được
coi như là nguyên nhân viêm tụy cấp, tỉ lệ này ngày càng gia tăng do quá trình
điều trị bằng các tác nhân hoá trị liệu trong các bệnh lý khác nhau. Hơn 85
loại thuốc đã được báo cáo là nguyên nhân cũng như là yếu tố thuận lợi gây
viêm tụy cấp ở trẻ em [202]. Một số loại thuốc được xác định là nguyên nhân,
một số loại được coi như là yếu tố khởi bệnh. Ngoài ra trong một số bệnh về
mạch máu, colagen, bệnh tự miễn, thuốc, độc tố cũng được đề cập đến nhưng
thật khó khăn để hiểu hết được chúng đóng vai trò nguyên nhân hay yếu tố
khởi phát bệnh ở trẻ em.
9. Rối loạn chuyển hoá và dinh dưỡng: Tăng canxi máu là nguyên nhân
thông thường gây viêm tụy cấp trong nhóm chuyển hoá thứ phát sau cường
cận giáp và tăng triglycerid máu >1000 mg/dl. Tăng canxi và lipid máu là hai
nguyên nhân xác định gây viêm tụy cấp, thấy cả ở người lớn và trẻ em đái
tháo đường, bệnh tăng tryglycerid máu có yếu tố gia đình với mức độ
tryglycerid máu >1000 mg /dl là yếu tố nguy cơ cao gây viêm tụy cấp.
10. Trên thế giới dạng viêm tụy cấp tái phát ở trẻ em [161] là một dạng
thường gặp mà rất thay đổi ví dụ như viêm tụy nhiệt đới thiếu niên hoặc viêm
tụy nhiệt đới canxi hoá, bởi vậy trong những điều kiện tuỳ thuộc vào từng khu

Thuỷ đậu (Varicella)

Dịch hạch
Chấn thƣơng
Liệu pháp tia ổ bụng
Nội soi và các thủ thuật xâm nhập
Chấn thương kín
Chấn thương sau phẫu thuật
Chấn thương đầu (Head trauma)
Bó bột toàn thân
Bỏng

Giải phẫu
Không có hoặc bất thường đường mật và
ống tụy
Loét hoặc thủng tá tràng
Bệnh đường mật tụy : Hẹp
Duplication cyst
Tụy nhẫn (Annular pancreas)
Loạn sản tụy
Bất thường chức năng đường mật tụy
Gastric trichobezoar
Bất sản tụy
Di truyền của tụy
Đường mật bẩm sinh
Thiểu sản tụy
U nang ống mật chủ
Tụy đôi (Pancreas divisum)
Giãn ống mật chủ dạng nang
U nang giả tụy

Viêm phúc mạc (Peritonitis)
Bệnh glycogen ở gan
Suy thận
Bệnh Wilson (Wilson disease)
Hội chứng Reye (Reye syndrome)
Bệnh nhiễm sắc tố sắt
Bệnh Sarcoidosis
Hội chứng huyết tán tăng u rê máu
Sốc nhiễm khuẩn (Septic shock)
Xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn
Bệnh lupus ban đỏ
Viêm tụy di truyền
Ghép tạng
Hyperalimentation
Viêm loét đại tràng
Không rõ nguyên nhân
Trên 25% các trường hợp 1.5. BỆNH SINH VIÊM TỤY CẤP
Có ba giai đoạn đặc trưng cho bệnh sinh của viêm tụy cấp. Đầu tiên là
hiện tượng khởi phát trong viêm tụy cấp, tiếp theo là một loạt các hiện tượng
xảy ra trong tế bào làm tổn thương tế bào tụy và mô tại chỗ. Cuối cùng, các tế
bào nang tụy bị phá hủy dẫn đến đáp ứng viêm tại chỗ và toàn thân khác nhau
bao gồm các hiện tượng sản sinh cytokines, hoạt động của các chất oxy hóa và
rối loạn tuần hoàn tại chỗ. Giai đoạn nặng trên lâm sàng bị chi phối bởi các
hiện tượng trầm trọng vừa nêu và gây ra đáp ứng viêm có tính chất hệ
thống.Viêm tụy cấp là một vòng luẩn quẩn do sự tự hoạt động không thích
hợp của các enzyme tụy và sự phá huỷ các tuyến và tế bào.


Ngoài quá trình tự tiêu của tế bào tuyến là do các enzym tiêu hoá, còn
có nhiều quá trình khác cũng tham gia vào sự tổn thương tế bào trong giai 12
đoạn sớm của viêm tụy cấp. Nhiều tác giả đã đề cập đến vai trò của oxygen
phản ứng trong viêm tụy cấp, sự rối loạn chức năng khung tế bào do quá trình
peroxide hoá lipid và tăng tính thấm tế bào có liên quan đến sự giải phóng các
gốc oxy tự do là một bằng chứng, thêm vào đó, sự bất thường cung cấp máu
cũng tham gia vào giai đoạn sớm của viêm tụy cấp. Cuối cùng, hoạt hoá các
đại thực bào tại chỗ trong tụy và sự di chuyển bạch cầu vào trong tụy làm
nặng lên quá trình nhiễm trùng trong viêm tụy cấp. Các tổn thương xảy ra
trong tế bào tuyến: (1) Sự huỷ hoại cơ quan trong tế bào (2) Sự huỷ hoại màng
tế bào (3) Sự giải phóng của các thành phần tế bào (phospholipase,
lysolecithin) và các chất trung gian (arachidonic acid, prostaglandins, IL-1,
and IL-6) của quá trình viêm (4) Tăng tính thấm của các mao mạch (5) Bạch
cầu đa nhân và các macrophage di chuyển đi vào nhu mô tụy và hoạt động (6)
Hình thành phản ứng của các sản phẩm hoá học (7) Khởi động các hoạt động
bổ thể, đông máu, và fibrinogen (8) Thoát một khối lượng dịch vào trong ổ
bụng (9) Viêm, phù nề, huyết khối (10) Phá huỷ mạch máu trong và ngoài tế
bào (11) Xuất huyết, hoại tử mỡ, hoại tử nhu mô tụy.
Những rối loạn sớm gây ra kích hoạt đáp ứng viêm tại chỗ liên quan
dến sự giải phóng các chất trung gian viêm vào tuần hoàn đó là các enzyme từ
lysosom của tế bào viêm, các hoá chất trung gian có hoạt tính từ mastocyt và
bạch cầu như histamin, bradykinin, prostaglandin (PG), leucotrien (LT) ,
hay các sản phẩm hoạt động thực bào của bạch cầu (Protease, ion H+, K+ ),
Các cytokin (Interleukin 1 (IL-1), IL-2, IL- 6, IL-8), yếu tố hoại tử u (Tumor
necrosis factor: TNF) và yếu tố hoạt hóa tiểu cầu (platelet activating factor:
PAF), Và hoạt hoá bổ thể C3a, C5a, đặc biệt sự có mặt của các gốc tự do
nitric oxide (NO). Những cytokin và chemokin này là trung gian cho đáp ứng
14

PAF = platelet aggregating factor; TNFa = tumor necrosis factor alpha; PG =
prostaglandine; IL = interleukine; Tx = thromboxane; LT = leucotriene; APP =
acute phase protein; SIRS = syndrome de reponse inflammatoire systemique (Hội
chứng đáp ứng viêm hệ thống); PLA 2 = phospholipase A secretoire (non
pancreatique) type II.
Sơ đồ 1.3. Cơ chế suy chức năng đa cơ quan trong viêm tụy cấp theo Selon
Neoptolemos [154]

1.6. CÁC DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VIÊM TỤY
CẤP Ở TRẺ EM
Bệnh viêm tụy cấp ở trẻ em trên lâm sàng rất thay đổi vì các triệu
chứng và dấu hiệu lâm sàng luôn thay đổi tùy từng bệnh nhân. Triệu chứng cổ
điển trong viêm tụy cấp ở trẻ em vẫn là đau bụng, buồn nôn và nôn [41] [201].
Đau bụng: Đặc điểm của đau bụng là cấp, đột ngột. Vị trí thường đau
là vùng bụng trên, chủ yếu là thượng vị, hạ sườn trái. Đau tăng lên khi ở thể
nặng, ngay trong một vài giờ hoặc vài ngày, hay khi ăn vào, có thể đau âm ỉ
liên tục. Hơn 90% bệnh nhân đau bụng thay đổi từ nhẹ đến nặng [167]. Đau

15
thường lan ra sau lưng tương ứng vị trí của tụy, đau lan ra sau phúc mạc chiếm
khoảng 40-50% trường hợp hoặc đau có thể lan ra cánh tay, ngực hoặc vùng
bụng dưới, ở một số bệnh nhân có tư thế chống đau như gập người ra phía
trước, tư thế gối ngực. Đau có khi không đáp ứng với thuốc giảm đau. ở thể

quốc tế tại Atlantta 1992.
Triệu chứng trong hội chứng đáp ứng viêm
- Nhiệt độ cơ thể > 38oC hoặc <36oC. - Nhịp tim > 90 l/phút.
- Nhịp thở > 20 l/ph hoặc PaCO2 < 1,3 kPa.
- Bạch cầu > 12000 hoặc < 4000 hoặc 10% có dạng tế bào gốc.
Tổn thương phổi trong viêm tụy cấp: thay đổi trong khoảng 15-55%, tuỳ
theo mức độ từ hạ oxy máu nhẹ không có triệu chứng lâm sàng cho đến biểu hiện
bất thường trên X- quang phổi, cuối cùng là hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS).
Các nghiên cứu đều ghi nhận tổn thương phổi trong viêm tụy cấp nặng thì 1/3
trường hợp tử vong trong giai đoạn đầu, trong đó 50% tử vong có phối hợp với
tổn thương phổi nặng [199]. Tình trạng nhiễm trùng tại chỗ, nhiễm trùng ở các
cơ quan làm xấu thêm hoặc kéo dài tình trạng tồn tại của ARDS [33] [36].
Nhịp thở nhanh: Thiếu oxy và tăng nhịp thở là 2 triệu chứng đầu tiên của
suy hô hấp [128]. Tình trạng suy hô hấp chiếm khoảng 40% trong các trường
hợp viêm tụy cấp, nhưng phần lớn tự lành.
Tràn dịch màng phổi: Thăm khám phổi có thể có triệu chứng xẹp phổi,
hoặc có thể có triệu chứng tràn dịch màng phổi đặc biệt là phổi trái. Nghiên cứu
của Lankisch (1994) nhận thấy rằng tràn dịch màng phổi là triệu chứng thường
thấy ở bệnh nhân viêm tụy cấp nặng và có tiên lượng xấu, ở bệnh nhân viêm tụy
cấp nặng có thể bị khó thở và dẫn đến suy hô hấp cấp [127].
Triệu chứng về thần kinh: bệnh nhân viêm tụy cấp cũng có thể có triệu
chứng về thần kinh có thể có lơ mơ, co giật và hiếm hơn là hôn mê.
Dấu hiệu purtcher’s võng mạc: là một biến chứng hiếm gặp của viêm tụy
cấp do động mạch sau hậu võng mạc bị tắc nghẽn, bệnh nhân bị mù đột ngột và
xuất hiện phủ lớp mờ đục toàn bộ mắt [197].
Suy thận: bệnh nhân viêm tụy cấp có thể bị thiểu niệu, vô niệu và suy
thận, nhiễm toan và rối loạn điện giải có thể xảy ra .
Dấu hiệu thăm khám bụng: thường là dấu hiệu ít có giá trị trong đánh

17

18
chân, các mô xung quanh khớp xương, tuyến thượng thận và buồng trứng
[30] [63] [77].
Dấu hiệu tăng áp tĩnh mạch cửa: Một số bệnh nhân có thể có dấu hiệu
tăng áp tĩnh mạch cửa bên trái do huyết khối tĩnh mạch lách và xuất hiện lách
lớn và xuất huyết do giãn tĩnh mạch.
Hoại tử đại tràng ngang trong viêm tụy cấp nặng là một biến chứng ở
bệnh nhân và có triệu chứng viêm phúc mạc nặng [218] [222].
Tiền sử: tiền sử phẫu thuật đường mật, tiền sử dùng thuốc, tiền sử chấn
thương bụng, tiền sử vết côn trùng cắn, tiền sử đái đường rất quan trọng trong
thăm khám lâm sàng bệnh viêm tụy cấp.
1.7. THỂ LÂM SÀNG
Bảng 1.2. Định nghĩa thể lâm sàng của hội thảo quốc tế Atlanta 1995
[40].
Từ
Định nghĩa
Viêm tụy cấp
Viêm cấp tính của tụy
Viêm tụy cấp nhẹ

Suy chức năng một cơ quan
Đáp ứng với điều trị hồi phục nước và điện giải ban đầu
Viêm tụy cấp nặng

Một trong những dấu chứng sau
Biến chứng tại chỗ (hoại tử tụy, u nang giả tụy, áp xe tụy)
Suy chức năng hơn 1 cơ quan

khi có ít nhất 3 điểm. Từ 0-2 điểm: 8,6% nặng, 1,4% tử vong; 2-4 điểm:
38,5% nặng, 5,8% tử vong; 5-7 điểm: 80% nặng, 10% tử vong.
So sánh độ nhạy của bảng điểm De Banto hơn hẳn bảng điểm của
Ranson và Glasgow sửa đổi 70% và 30%, 35%, giá trị tiên đoán âm tính là
91% và 85%, 85%. 20
Bảng 1.3. Bảng điểm đánh giá độ nặng ở trẻ em của De Banto [65].
Mức độ nặng khi có ít nhất 3 yếu tố dương tính
Khởi phát
Tiến triển sau 48h
Tuổi < 7
Cân nặng < 23 kg
Bạch cầu > 18,5x10 9/l
LDH > 2000 UI/l
Calcium < 8,3 mg/dl
Albumin < 2,6g/dl
ứ dịch > 75ml/kg/48h
Tăng ure máu > 5mg/dl
Bảng 1.4. Phân loại Glasgow sửa đổi
Phân loại Glasgow sửa đổi, chỉ cần 3 yếu tố là phân loại nặng
PaO2 < 60 mm Hg
Albumine < 32 g/l
Calci < 2 mmol/l
Bạch cầu > 15 x10 9/l
ASAT > 200 U/l
LDH > 600 UI/l
Đường máu > 10 mmol/l
Ure máu > 16 mmol/l

Tắc mạch do mỡ

21
Hẹp ống tụy
Hội chứng gan thận
Hoại tử mỡ
Can xi hoá tụy
Tăng đường máu
Hạ huyết áp
Xơ nang tụy
Tăng kali máu
áp xe trung thất
Dò tụy
Tăng lipid máu
Tràn dịch màng tim
phlegmon tụy
Hạ albumine máu
Tràn dịch màng phổi
U nang giả tụy
Hạ can xi máu
Viêm phổi
Dịch khu trú
Chướng bụng
Rối loạn tâm sinh lý
Nhiễm trùng ổ hoại tử
Vàng da
Suy thận
Tắc tá tràng
Rối loạn chuyển hoá
Huyết khối động tĩnh mạch

Suy thận
Thiểu niệu, tăng BUN và
Creatinine
Không thường gặp (2%-
15%)
Nhiễm trùng, hoại tử tụy
Sốt cao, Sốc nhiễm trùng
Thường gặp ở viêm tụy
cấp nặng
Đông máu rải rác trong
lòng mạch
Giảm HCT, bạch cầu và
tiểu cầu
Không thường gặp
Hạ can xi
Hạ can xi trong một vài
ngày đầu
Không thường gặp
Dị hoá Protein
Sụt cân, hạ albumin máu,
phù
Thường gặp ở viêm tụy
cấp nặng 22
Bảng 1.7. Bảng các biến chứng muộn của viêm tụy cấp [89]
Biến chứng
Dấu hiệu
Tần suất

giới hạn bình thường thì có giá trị chẩn đoán viêm tụy cấp, cả ở người lớn và
ở trẻ em (bảng 4.13).

23
Những bệnh có tăng amylase máu: Một số hiện tượng viêm trong ổ
bụng có tăng amylase máu, nhưng thường tăng nhẹ gấp 2 lần bình thường như
tắc ruột, loét dạ dày, 1 số khối u như carcinoma ở phổi, thực quản, u và buồng
trứng, viêm tuyến mang tai [58] [80] [185].
Độ nhạy, độ đặc hiệu của amylase máu trong chẩn đoán viêm tụy cấp: ở
điểm cắt amylase gấp 3 lần bình thường các nghiên cứu cho thấy amylase toàn
phần độ nhạy là 83%, trong khi đó p-amylase là 94% và lipase 92% [58]
[195], độ nhạy của amylase trong ngày thứ 2-4 giảm xuống chỉ còn 30%,
trong khi đó lipase còn cao 80% [46] [47].
Riêng ở trẻ em, theo Lerner [135] cũng như Nelson (2004) [28], độ
nhạy và đặc hiệu của amylase máu ở trẻ em thấp hơn người lớn khoảng từ 75-
92, 20-60%.
Thời gian tăng amylase trong máu bệnh nhân viêm tụy cấp: Hoạt độ
amylase máu tăng trong vòng 2-12 giờ sau khi khởi bệnh và trở về bình
thường sau 3-5 ngày. ở bệnh nhân viêm tụy cấp nồng độ đỉnh của amylase
trong 48 giờ đầu tiên [195] [246], thời gian bán huỷ của amylase máu là 2 giờ
[13] [216]. Khoảng 85% bệnh nhân viêm tụy cấp có tăng amylase máu, và có
khoảng 15% viêm tụy cấp mà amylase máu bình thường.
Tăng amylase máu kéo dài trong viêm tụy cấp thường là dấu hiệu của
các biến chứng viêm tụy cấp như u nang giả tụy và áp xe tụy [23] [28] [202].
0
2
4
6
8
10

có giá trị chẩn đoán viêm tụy cấp, cả ở người lớn và ở trẻ em.
Lipase máu trong viêm tụy cấp: Trong viêm tụy cấp, lipase máu thường
tăng cao gấp nhiều lần so với bình thường, nhưng theo điểm cắt gấp 3 bình
thường, độ nhạy là 100% và độ đặc hiệu là 93% trong chẩn đoán viêm tụy cấp
[169], theo Ranson (1995) độ nhạy 85-100% [177]. Theo Nelson độ nhạy và độ
đặc hiệu của lipase cao từ 86-100% và 50-99% [28], nếu phối hợp cả amylase và
lipase máu thì độ nhạy trên lâm sàng có thể lên đến 94% [58] [165] [238].
Thời gian tăng lipase trong máu bệnh nhân viêm tụy cấp: Lipase máu
tăng muộn hơn so với amylase, mức tăng đạt đỉnh 24 giờ và kéo dài hơn và
trở về bình thường từ 8-14 ngày [215]. Thời gian bán huỷ của lipase là 7-14
giờ. Lipase máu âm tính ở những bệnh nhân viêm tụy cấp bị suy thận.

25
1.9.1.3. Trypsinogen: Trypsinogen 1 và trypsinogen 2 là hai dạng isoenzymes
chủ yếu và chiếm 20% protein tiết từ tụy [105], tăng nồng độ của chúng trong
máu đã được chứng minh có ích trong việc chẩn đoán viêm tụy cấp, nhưng
không được sử dụng rộng rãi trong lâm sàng [100] [107]. Trypsinogen -2 đã
được chứng minh có mối liên quan với mức độ nặng nhẹ của bệnh [100],
[107], [114] [134].
Nồng độ trypsinogen bình thường trong máu: Trypsinogen-1 từ 5,6 đến
69 mg/l, 18 đến 90 mg/l cho trypsinogen-2 [99] [107] [125].
Độ nhạy, độ đặc hiệu của trypsinogen trong chẩn đoán viêm tụy cấp: ở
bệnh nhân viêm tụy cấp người ta thấy rằng có sự tăng rất nhanh nồng độ của
trypsinogen-2 trong máu, và có thể tăng gấp 10-20 lần so với giới hạn bình
thường. Theo nghiên cứu của Kemppainen E [113] ở Helsinki, cho thấy giá trị
chẩn đoán của trypsinogen có độ nhạy là 94%, độ đặc hiệu là 95%. Theo Marko
Lempinen và nghiên cứu của Hedstrom và cs 1996 [100], cho thấy độ
nhạy và độ đặc hiệu của trypsinogen -2 trong nước tiểu là 68% và 80%, giá trị
dự báo dương tính (PPV) là 62% và giá trị dự báo âm tính (NPV) là 84%.
Thời gian tăng trypsinogen trong máu bệnh nhân viêm tụy cấp:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status