39 Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng và phát triển nông thôn 2 - Pdf 20

Khoá luận tốt nghiệp Phan Việt Hà - 743A
Lời giới thiệu
Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung
sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc trong những năm qua đã tạo ra
những thuận lợi và vừa là thách thức đặt ra cho các doanh nghiệp. Bởi vì các
doanh nghiệp phải tồn tại trong một môi trờng luôn luôn có sự cạnh tranh gay
gắt, phải tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quá trình hoạt động sản xuất của mình
và muốn tồn tại phát triển thì phải có lợi nhuận. Chính vì vậy, đã đặt ra yêu cầu
cấp bách là phải đổi mới hệ thống công cụ quản lý trong đó kế toán là một công
cụ quan trọng. Nó có vai trò tích cực đối với việc quản lý vốn, tài sản và việc điều
hành các hoạt động sản xuất kinh doanh ở từng doanh nghiệp và đồng thời cũng
là nguồn thông tin đáng tin cậy để nhà nớc điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô, kiểm
tra, kiểm soát hoạt động của các ngành, các khu vực. Do đó, việc đổi mới và
hoàn thiện công tác kế toán để thích nghi với yêu cầu và nội dung của quá trình
đổi mới cơ chế quản lý là một vấn đề rất cần thiết và cấp bách.
Nằm trong nhóm các ngành trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội, xây
dựng cơ bản nói chung và xây lắp nói riêng là một ngành sản xuất độc lập có
chức năng tái tạo cơ sở vật chất cho nền kinh tế. Sản phẩm lại mang nhiều đặc
điểm đặc thù chính vì thế các doanh nghiệp xây lắp phải hạch toán chính xác
các khoản chi phí và từ đó có biện pháp hạ giá thành sản phẩm nhằm hớng tới
mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp phải tập hợp
đầy đủ và chính xác chi phí sản xuất và xác định đợc giá thành. Giá thành sản
phẩm cao hoặc thấp, tăng hoặc giảm phản ánh kết quả của việc quản lý, sử dụng
vật t, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất sản phẩm. Kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai quá trình liên quan mật thiết với nhau.
Việc phấn đấu tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm đợc coi là điều
kiện tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp sản xuất.
Trong thời gian thực tập, em đã có điều kiện tìm hiểu về quá trình hình
thành và phát triển, cũng nh công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm ở Công ty xây dựng và phát triển nông thôn 2. Em xin chân thành cảm
1

Tuy các doanh nghiệp xây lắp có sự khác nhau về quy mô sản xuất, hình thức
quản lý nhng đều mang những đặc điểm nổi bật của hoạt động kinh doanh xây
lắp.
Trớc hết là những đặc điểm riêng về sản phẩm xây lắp. Sản phẩm xây lắp
có những đặc điểm rất riêng khác với sản phẩm của các nghành sản xuất khác và
những đặc điểm riêng này có ảnh hởng đến tổ chức kế toán trong các doanh
nghiệp xây lắp:
- Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc có qui
mô lớn kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất lâu dài. Đặc
điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý và hạch toán nhất thiết phải lập dự toán
( dự toán thiết kế, dự án thi công) cho sản phẩm xây lắp. Trong quá trình sản xuất
sản phẩm xây lắp phải so sánh thực tế với dự toán và lấy dự toán làm cơ sở, làm
thớc đo.
- Sản phẩm xây lắp đợc tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận với
chủ đầu t ( giá đấu thầu). Do đó, tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp không
đợc thể hiện rõ
- Sản phẩm xây lắp đợc cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất
( máy thi công, nhân công và nguyên vật liệu ) phải di chuyển theo địa điểm đặt
sản phẩm. Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng hạch toán tài sản vật
t rất phức tạp do ảnh hởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và trong quá trình
sản xuất dễ mất mat h hỏng.
3
Khoá luận tốt nghiệp Phan Việt Hà - 743A
- Sản phẩm xây lắp thờng có thời gian sử dụng rất lâu dài nên đòi hỏi việc
tổ chức quản lý và hạch toán sao cho chất lợng công trình bảo đẩm đúng dự toán
thiết kế nhằm bảo đảm chất lợng của công trình.
Từ những đặc điểm riêng về sản phẩm của doanh nghiệp xây lắp đã ảnh h-
ởng đến tổ chức công tác kế toán ở các doanh nghiệp này. Điều này đợc thể hiện
cụ thể ở nội dung, phơng pháp, trình tự hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm ở các doanh nghiệp xây lắp :

và lao động có liên quan đến khối lợng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ chứ không
phải mọi khoản chi ra trong kỳ hạch toán. Ngợc lại, chi tiêu là sự giảm đi đơn
thuần các loại vật t, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp bất kể nó đợc dùng vào
mục đích gì.
Chi phí và chi tiêu tuy là hai khái niệm khác nhau nhng lại có mối quan hệ
mật thiết với nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì
không có chi phí. Tổng số chi phí trong kì của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá
trị tài sản hao phí hoặc tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh tính vào
kì này, chi phí và chi tiêu không những khác nhau về lợng mà còn khác nhau về
thời gian, có những khoản chi tiêu kì này nhng vẫn cha đợc tính vào chi phí kì
sau ( chi mua nguyên vật liệu về nhập kho nhng cha sử dụng) và có những khoản
tính vào chi phí kì này nhng thực tế cha chi tiêu ( khoản chi phí trích trớc). Sở dĩ
có sự khác biệt giữa chi tiêu và chi phí trong các doanh nghiệp là do đặc điểm,
tính chất vận động và phơng thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản, quá
trình sản xuất và yêu cầu kỹ thuật hạch toán chúng.
b. Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
Chi phí sản xuất kinh doanh có rất nhiều loại, nhiều khoản khác nhau về
cả nội dung và tính chất, công dụng, vai trò, vị trí trong quá trình kinh doanh.
Do vậy để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán thì ta phải tiến hành phân
loại chi phí sản xuất. Xuất phát từ các mục đích và yêu cầu khác nhau của quản
lý, chi phí sản xuất cũng đợc phân loại theo những tiêu thức khác nhau.
Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại,
từng nhóm khác nhau theo những đặc trng nhất định.
Có rất nhiều cách phân loại chi phí khác nhau. Dới đây là một số cách
phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp đợc sử dụng phổ biến:
* Phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm:
5
Khoá luận tốt nghiệp Phan Việt Hà - 743A
Căn cứ vào mục đích và công dụng của chi phí trong giá thành sản phẩm
và để thuận tiện trong việc tính giá thành, toàn bộ chi phí đợc phân chia theo

Khoá luận tốt nghiệp Phan Việt Hà - 743A
ý nghĩa của việc phân loại chi phí theo tiêu thức này: Việc phân loại chi
phí theo tiêu thức này có tác dụng rất lớn đối với kế toán quản trị trong việc phân
tích điểm hoà vốn và phục vụ cho việc ra các quyết định cần thiết để hạ giá thành
sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
* Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố:
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu
đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh của chi
phí mà chi phí đợc phân chia theo yếu tố:
Theo cách phân loại này, những chi phí có cùng nội dung, cùng tính chất
kinh tế thì đợc xếp chung vào một yếu tố chi phí. Tuỳ theo yêu cầu và trình độ
quản lý ở mỗi doanh nghiệp, mỗi thời kỳ mà mức độ chi tiết của các yếu tố có thể
khác nhau.
Hiện nay, theo cách phân loại này gồm có những loại yếu tố sau:
- Yếu tố nguyên vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính,
vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ sử dụng vào sản xuất kinh
doanh ( trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi ).
- Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh
trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
- Yếu tố tiền lơng và các khoản phụ cấp theo lơng: phản ánh tổng số tiền l-
ơng và các khoản phụ cấp có tính chất lơng phải trả cho toàn bộ công nhân viên
chức trong doanh nghiệp.
- Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ phản ánh phần BHXH, BHYT, KPCĐ
trích theo tỷ lệ qui định trên tổng số tiền lơng và phụ cấp lơng phải trả cho cán
bộ, công nhân viên của doanh nghiệp.
- Yếu tố khấu hao TSCĐ : Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phảI trích
trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài : Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua
ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền : Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền

thể là từng loại sản phẩm, từng nhóm sản phẩm, cũng có thể là từng phân xởng,
tổ đội sản xuất, cũng có thể là từng công đoạn sản xuất kế tiếp nhau tuỳ theo
từng doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp xây lắp, do đặc điểm rất riêng của sản phẩm xây
lắp ( là những công trình, hạng mục công trình có qui mô lớn, kết cấu phức tạp,
8
Khoá luận tốt nghiệp Phan Việt Hà - 743A
mang tính đơn chiếc, có thời gian sản xuất lâu dài ) nên đối t ợng tập hợp chi phí
ở doanh nghiệp xây lắp là từng công trình, hạng mục công trình.
2. Giá thành sản phẩm xây lắp.
a. Khái niệm:
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí sản
xuất tính cho từng công trình, hạng mục công trình, hoặc khối lợng xây lắp hoàn
thành nghiệm thu, bàn giao và đợc chấp nhận thanh toán.
Đối với các doanh nghiệp xây lắp thì giá thành sản phẩm luôn mang tính
chất cá biệt. Mỗi một sản phẩm xây lắp có thể là một công trình, hạng mục công
trình hay một khối lợng xây lắp sau khi đã hoàn thành đều có một giá thành
riêng.
Giá thành sản phẩm có thể đợc tính cho khối lợng sản phẩm gọi là tổng giá
thành và có thể tính cho đơn vị sản phẩm gọi là giá thành đơn vị sản phẩm.
b. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp:
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành
cũng nh yêu cầu xây dựng giá cả của sản phẩm, giá thành đợc xem xét dới nhiều
góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Về lý luận cũng nh trên thực tế, ngoài
các khái niệm giá thành xã hội, giá thành cá biệt còn có giá thành công xởng, giá
thành toàn bộ
Trên thực tế giá thành sản phẩm xây lắp đợc phân loại theo các tiêu thức
sau đây:
* Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành: giá
thành đợc chia thành giá thành dự toán và giá thành kế hoạch, giá thành thực tế.

Việc xác định đối tợng tính giá thành là việc xác định từng sản phẩm, bán thành
phẩm, công việc lao vụ nhất định vì vậy đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị cụ
thể.
Trong doanh nghiệp xây lắp, do đặc điểm sản phẩm xây lắp có tính chất
đơn chiếc nên đối tợng tính giá thành là từng sản phẩm, công việc, từng công
trình, hạng mục công trình.
3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp.
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hai giai đoạn kế
tiếp nhau của một quá trình hạch toán sản xuất, chúng có mối quan hệ mật thiết
hữu cơ với nhau, làm tiền đề cho nhau, đồng thời có sự khác nhau về yêu cầu và
phản ánh. Nếu coi việc tính giá thành là công việc chủ yếu thì tập hợp chi phí sản
xuất phải đợc tính trên cơ sở tổng hợp và phân bổ chi phí theo những phơng pháp
khoa học. Trong các doanh nghiệp xây lắp thì việc tập hợp chi phí sản xuất là cơ
sở để tính giá thành sản phẩm xây dựng. Ngợc lại, dựa vào phân tích giá thành
sản phẩm để xem xét tình hình tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất trong kỳ
10
Khoá luận tốt nghiệp Phan Việt Hà - 743A
đó. Nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm bảo
đảm cho giá thành sản phẩm đợc phản ánh một cách chính xác và kịp thời.
Có thể phản ánh mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
qua sơ đồ sau:
Chi phí sx dở dang đầu kỳ
A B
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
C D
Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Theo sơ đồ ta có:
AC = AB + BD - CD
Hay
Tổng giá thành

chỉ gồm các chi phí liên quan đến khối lợng sản phẩm xây lắp đã hoành thành
trong kỳ. Về mặt chất thì giá thành công trình xây lắp là chi phí của một đối tợng
11
Khoá luận tốt nghiệp Phan Việt Hà - 743A
đã hoàn thành bàn giao, có giá trị dự toán riêng. Có nghĩa là sản phẩm đó đã đợc
xã hội thừa nhận giá trị sử dụng cũng đồng nghĩa với việc thừa nhận mọi chi phí
sản xuất để tạo ra khối lợng sản phẩm đó.
III. Phơng pháp và trình tự hạch toán chi phí sản xuất ở doanh nghiệp xây
lắp
1. Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất:
Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phơng pháp hay hệ thống
các phơng pháp đợc sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong
phạm vi giới hạn của đối tợng hạch toán chi phí.
Về cơ bản phơng pháp hạch toán chi phí bao gồm các phơng pháp hạch
toán chi phí theo sản phẩm, theo đơn đặt hàng, theo giai đoạn công nghệ, theo
phân xởng, theo nhóm sản phẩm.
Nội dung chủ yếu của các phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất là kế
toán mở thẻ (hoặc sổ) chi tiết hạch toán chi phí sản xuất theo từng đối tợng đã
xác định, phản ánh các chi phí phát sinh có liên quan đến đối tợng, hàng tháng
tổng hợp chi phí. Mỗi phơng pháp hạch toán chi phí ứng với một loại hạch toán
chi phí nên tên gọi của phơng pháp này biểu hiện đối tợng mà nó cần tập hợp và
phân loại chi phí.
Trong xây dựng cơ bản, kế toán thờng sử dụng phơng pháp trực tiếp để tập
hợp chi phí sản xuất cho các đối tợng tính giá thành. Phơng pháp tập hợp chi phí
trực tiếp đòi hỏi ngay từ khâu hạch toán ban đầu, các chứng từ kế toán đó phải
ghi chép riêng rẽ chi phí sản xuất cho từng đối tợng tính giá. Căn cứ vào những
chứng từ gốc đó, kế toán tập hợp chi phí sản xuất cho từng đối tợng tính giá thành
liên quan. Trong doanh nghiệp xây lắp chi phí sản xuất đợc tập hợp trực tiếp cho
những chi phí sản xuất cơ bản. Ngoài ra còn có phơng pháp tập hợp chi phí sản
xuất gián tiếp, nhng trong các doanh nghiệp xây lắp phơng pháp này ít đợc áp

Sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây dựng có thể là từng công trình,
hạng mục công trình dở dang cha hoàn thành đợc khối lợng xây lắp thi công, cha
đợc bên chủ đầu t nghiệm thu thanh toán.
Việc đánh giá sản phẩm xây lắp dở dang tuỳ thuộc vào phơng thức thanh
toán với bên giao thầu. Nếu thực hiện thanh toán theo giai đoạn xây dựng hoàn
thành bàn giao thì giá trị sản phẩm dở dang là khối lợng sản phẩm xây lắp cha
đạt tới điểm dừng kỹ thuật hợp lý và đợc đánh giá theo chi phí sản xuất kinh
doanh thực tế. Nếu thực hiện thanh toán khi công trình, hạng mục công trình
13
Khoá luận tốt nghiệp Phan Việt Hà - 743A
hoàn thành bàn giao thì giá trị sản phẩm dở dang là tổng chi phí sản xuất kinh
doanh tập hợp đến thời điểm cuối kỳ.
Trình tự đánh giá sản phẩm xây lắp dở dang nh sau:
- Cuối kỳ kiểm kê xác định khối lợng xây lắp dở dang, mức độ hoàn thành
- Căn cứ vào dự toán, xác định dự toán của khối lợng xây lắp dở dang cuối
kỳ theo mức độ hoàn thành.
- Tính hệ số giữa mức độ chi phí thực tế với chi phí dự toán của khối lợng
xây lắp theo mức độ hoàn thành (H) .
Chi phí của
khối lợng
xây lắp
=
Chi phí của khối lợng
xây lắp dở dang đầu kỳ
+
Chi phí sản xuất kinh doanh
xây lắp thực tế phát sinh
Giá dự toán của khối lợng xây lắp theo mức độ
hoàn thành
Chi phí thực tế của khối lợng xây lắp dở dang cuối kỳ

toán với ngời giao thầu. Vì vậy, trong từng kỳ báo cáo ngoài việc tính giá thành
các hạng mục công trình xây lắp đã hoàn thành, phải tính giá thành khối lợng
công tác xây lắp hoàn thành và bàn giao trong kỳ.
Trong các doanh nghiệp xây lắp thì chủ yếu sử dụng phơng pháp tính giá
thành theo công việc, phơng pháp này đợc tính nh sau:
- Trình tự xử lý đơn đặt hàng, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
theo công việc:
15
Đơn
đặt
hàng
Lệnh
sản
xuất
Tập
hợp
chi
phí
theo
Phiếu xuất kho vật liệu
Phiếu theo dõi lao động
Mức phân bổ chi phí sản
xuất chung
Các khoản
chi phí
Phiếu chi
phí công
việc
(phiếu
tính giá

16
Khoá luận tốt nghiệp Phan Việt Hà - 743A
thờng xuyên hàng tồn kho thì phải tiến hành ghi chép kế toán chi tiết hàng tồn
kho hàng ngày để có thể tính trị giá vốn hàng xuất kho cho từng mặt hàng. Việc
tính trị giá vốn hàng xuất kho có thể tính thờng xuyên cho từng lần xuất hàng
hoặc có thể tính định kỳ. áp dụng phơng pháp này thì doanh nghiệp có thể quản
lý chặt chẽ hàng tồn kho cả về mặt hiện vật và giá trị, đảm bảo tính chính xác khi
tính trị giá vốn hàng xuất kho. Từ đó đảm bảo tính chính xác khi hạch toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Trình tự hạch toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp xây lắp nh sau :
1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên, vật liệu chính,
vật liệu phụ, nhiên liệu, các cấu kiện, bộ phận rời lẻ (trừ vật liệu dùng cho máy
thi công) đ ợc xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm. Đối với những
vật liệu khi xuất dùng có liên quan đến trực tiếp từng đối tợng tập hợp chi phí
riêng biệt: công trình, hạng mục công trình thì tiến hành hạch toán trực tiếp cho
đối tợng đó. Trong trờng hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tợng
tập hợp chi phí, không thể tổ chức hạch toán riêng đợc thì phải áp dụng phơng
pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tợng có liên quan là từng
công trình, từng hạng mục công trình Tiêu thức phân bổ có thể là theo định
mức tiêu hao, theo khối lợng thực hiện
* Tài khoản sử dụng: Để theo dõi các khoản chi phí nguyên, vật liệu trực
tiếp kế toán sử dụng tài khoản 621 Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp. Tài
khoản này đợc mở chi tiết cho từng đối tợng tập hợp chi phí. Tài khoản này dùng
để phản ánh các chi phí nguyên, vật liệu phát sinh thực tế để sản xuất sản phẩm
xây lắp hoặc lắp đặt công trình. Đối với các thiết bị lắp đặt do chủ đầu t bàn giao
không phản ánh vào tài khoản này mà phản ánh ở tài khoản 002 Vật t hàng
hoá nhận giữ hộ, nhận gia công.
Kết cấu cơ bản của tài khoản này nh sau:

Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản phù lao phải trả cho công nhân
trực tiếp sản xuất sản phẩm nh: tiền lơng chính, lơng phụ và các khoản phụ cấp
có tính chất lơng ( phụ cấp khu vực, đắt đỏ, độc hại, phụ cấp làm đêm, thêm
giờ ).
* Tài khoản sử dụng:
18
Khoá luận tốt nghiệp Phan Việt Hà - 743A
Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 622-
Chi phí nhân công trực tiếp. Tài khoản này đợc mở chi tiết theo từng đối tợng tập
hợp chi phí: công trình, hạng mục công trình.
Tài khoản 622 phản ánh chi phí lao động trực tiếp tham gia vào quá
trình hoạt động xây lắp, sản xuất sản phẩm công nghiệp, cung cấp dịch vụ. Chi
phí lao động trực tiếp bao gồm cả các khoản phải trả cho ngời lao động thuộc
quản lý của doanh nghiệp và cho lao động thuê ngoài theo từng loại công việc.
Kết cấu cơ bản của tài khoản này nh sau:
Bên Nợ: Phản ánh các khoản đợc tính vào chi phí nhân công trực tiếp
trong kỳ.
Phản ánh khoản trích trớc tiền lơng nghỉ phép của công nhân
sản xuất.
Bên Có : Cuối kỳ kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp trong kỳ
Sau khi kết chuyển tài khoản này không có số d.
* Trình tự kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
- Căn cứ vào bảng tổng hợp tiền lơng phải trả cho công nhân sản xuất, kế
toán ghi:
Nợ TK 622
Có TK 334
- Căn cứ vào tiền ăn ca phải trả cho công nhân viên sản xuất, kế toán ghi:
Nợ TK 622
Có TK 334
- Trích trớc tiền lơng nghỉ phép cho công nhân sản xuất, căn cứ vào bảng

Bên Nợ: Phản ánh các chi phí liên quan đến hoạt động của máy thi
công( chi phí vật liệu cho máy thi công hoạt động, chi phí tiền lơng và các khoản
phụ cấp theo lơng, tiền công của công nhân trực tiếp điều khiển máy, chi phí bảo
dỡng, sửa chữa xe, máy thi công ) Chi phí vật liệu, chi phí dịch vụ khác cho xe,
máy thi công không bao gồm thuế GTGT hoặc gồm cả thuế GTGT.
Bên Có: Kết chuyển Chi phí sử dụng máy móc thi công vào bên Nợ TK
154- Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang.
TK 623 - Chi phí sử dụng máy móc thi công có 6 TK cấp 2
- TK 6231: Chi phí nhân công: Dùng để phản ánh lơng chính, lơng phụ,
phụ cấp lơng phải trả cho công nhân trực tiếp điều khiển xe, máy thi công, phục
20
Khoá luận tốt nghiệp Phan Việt Hà - 743A
vụ máy thi công nh: vận chuyển, cung cấp nhiên liệu, vật liệu cho xe, máy thi
công.
Tài khoản này không phản ánh khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
kinh phí công đoàn theo quy định hiện hành đợc tính trên lơng của công nhân sử
dụng xe, máy thi công. Khoản tính trích này đợc phản ánh vào tài khoản 627
Chi phí sản xuất chung.
- TK 6232: Chi phí vật liệu: Dùng để phản ánh chi phí nhiên liệu ( xăng,
dầu, mỡ ), vật liệu khác phục vụ xe, máy thi công.
- TK 6233: Chi phí dụng cụ sản xuất: Dùng để phản ánh công cụ, dụng
cụ lao động liên quan tới hoạt động của xe, máy thi công.
- TK 6234: Chi phí khấu hao máy thi công: Dùng để phản ánh khấu hao
máy móc thi công sử dụng vào hoạt động xây, lắp công trình.
- TK 6237: Chi phí dịch vụ mua ngoài: Dùng để phản ánh chi phí dịch
vụ mua ngoài nh thuê ngoài sửa chữa xe, máy thi công; bảo hiểm xe, máy thi
công; chi phí điện, nớc, tiền thuê TSCĐ, chi phí trả cho Nhà thầu phụ
- TK 6238: Chi phí bằng tiền khác: Dùng để phản ánh các chi phí bằng
tiền phục vụ cho hoạt động của xe, máy thi công, khoản chi cho lao động nữ
* Trình tự kế toán chi phí sử dụng máy thi công:

nhau)
Có các TK 511, 512
- Nếu doanh nghiệp không tổ chức đội xe, máy thi công riêng hoặc có tổ
chức đội xe, máy thi công riêng nhng không tổ chức kế toán riêng cho đội thì
toàn bộ chi phí sử dụng xe, máy ( kể cả chi phí thờng xuyên và chi phí tạm thời
nh: phụ cấp lơng, phụ cấp lu động của xe, máy thi công) sẽ đợc hạch toán nh sau:
+ Căn cứ vào số tiền lơng ( lơng chính, phụ không bao gồm
khoản trích về BHXH, BHYT, KPCĐ ), tiền công phải trả cho công nhân điều
khiển xe, máy, phục vụ xe, máy thi công, kế toán ghi:
Nợ TK 623.1 - Chi phí nhân công
Có TK 334 - Phải trả công nhân viên
+ Khi xuất kho hoặc mua nguyên, vật liệu phụ cho hoạt động của
xe, máy thi công:
Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo
phơng pháp khấu trừ:
22
Khoá luận tốt nghiệp Phan Việt Hà - 743A
Khi xuất vật liệu sử dụng cho hoạt động của xe, máy thi công trong kỳ, kế
toán ghi:
Nợ TK 623.2 Chi phí nguyên, vật liệu (giá cha có thuế)
Có các TK 152, 153
Trờng hợp mua vật liệu sử dụng ( không qua kho ) cho hoạt động của xe,
máy thi công trong kỳ chịu thuế GTGT, kế toán ghi:
Nợ TK 6232 Chi phí vật liệu ( giá cha có thuế)
Nợ TK 133 Thuế GTGT đợc khấu trừ ( Nếu đợc khấu trừ thuế GTGT)
Có các TK 33, 111, 112
Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo
phơng pháp trực tiếp:
+ Khi mua hoặc xuất nguyên, vật liệu sử dụng cho hoạt động của
xe, máy thi công trong kỳ, kế toán ghi:

phẩm sau chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí
sử dụng máy thi công. Đây là những chi phí phát sinh trong phạm vi các phân x-
ởng, bộ phận sản xuất của doanh nghiệp.
* Tài khoản sử dụng:
Kế toán sử dụng tài khoản 627 Chi phí sản xuất chung. Tài khoản này
dùng để phản ánh chi phí sản xuất của đội, công trờng xây dựng gồm: Lơng nhân
viên quản lý đội xây dựng; khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí
công đoàn đợc tính theo tỷ lệ quy định (19%) trên tiền lơng phải trả cho công
nhân trực tiếp xây lắp và nhân viên quản lý đội ( thuộc biên chế của doanh
nghiệp ); khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội và những chi phí
khác liên quan tới hoạt động của đội
Kết cấu cơ bản của tài khoản này nh sau:
Bên Nợ: Tập hợp chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ.
Bên Có: Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung.
Cuối kỳ phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tợng cần tính
giá và kết chuyển sang tài khoản tính giá thành.
Tài khoản 627 Chi phí sản xuất chung, có 6 tài khoản cấp 2.
- TK 6271 Chi phí nhân viên phân xởng: Phản ánh các khoản tiền l-
ơng, lơng phụ, phụ cấp lơng, phụ cấp lu động phải trả cho nhân viên quản lý đội
xây dựng, tiền ăn giữa ca của nhân viên quản lý đội xây dựng, của công nhân xây
24
Khoá luận tốt nghiệp Phan Việt Hà - 743A
lắp; khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ đợc tính theo tỷ lệ ( %) quy định hiện
hành trên tiền lơng phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp, nhân viên sử dụng
máy thi công và nhân viên quản lý đội ( thuộc biên chế của doanh nghiệp ).
- TK 6272 Chi phí vật liệu: Phản ánh chi phí vật liệu dùng cho đội
xây dựng, nh vật liệu dùng để sửa chữa, bảo dỡng TSCĐ, công cụ, dụng cụ thuộc
đội xây dựng quản lý và sử dụng, chi phí lán trại tạm thời, ( chi phí không có
thuế GTGT đầu vào nếu đợc khấu trừ thuế ).
- TK 6273 Chi phí dụng cụ sản xuất: Phản ánh chi phí về công cụ,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status