Nguyên nhân của khủng hoảng tài chính năm 2008, nêu diễn biến và tác động tới thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 20

NHẬN XÉT:
- VỀ TRÌNH BÀY:
o Hùng
o Hạnh
- VỀ HÌNH THỨC:
o Bản word trình bày k tốt
o Bản silde “cắt chữ”
- CÂU HỎI:
o Sự logic của bài trình bày? Đâu là mục đích nghiên cứu? Hệ
thống giải pháp??? Thu đc kết quả???
o TT Mỹ “ra lệnh” FED hạ lãi suất ???
o Đánh giá sức mạnh của đồng USD và các đồng tiền khác?
o KH tác động đến VN?
o Gói cứu trợ của CP Mỹ có hiệu quả k? Thực hiện đc mđích
đề ra k?
o So sánh KH 2008 và KH 29-33
o Nguyên nhân sâu sa của KH
o So sánh KH-Suy thoái?
o Nhóm có thể gọi đâu là cuộc KHKT hay KHTC
o KH có mang tính chu kỳ k? Nếu mang tính chu kỳ thì có
ngăn chặn đc k?
o Quang: FED k cứu LB
o Xuân: Các NH đem bảo hiểm 80% giá trị của các khoản nợ
thế chấp?
o Chi: KHTC tác động đến TTTC Mỹ nền TTCK VN
o Nhung: Thống kê số lượng NH lớn bị sụp đổ. Đánh giá sự
quản lý của FED?
o Trung: TQ rút tiền cho Mỹ vay? G.thích rõ hơn về cho vay
dưới chuẩn? Tập đoàn…
- ƯU ĐIỂM:
o So sánh NHTM và NHĐT

II, nợ thế chấp bất động sản
Đạo luật về nhà ở : một cá nhân hay một công ty muốn mua một bất động
sản , thì phải trả ngay tiền mặt trị giá khoảng 10% đến 25% trị giá nhà,
phần còn lại ngân hàng có thể cho vay , với điều kiên căn nhà đó được thế
chấp để bảo lãnh khoản tiền nợ => nợ thế chấp bất động sản
Trong 20 năm trở lại đây , FED đã hạ lãi suất từ 4%-5% xuống còn 1%-
2% => dễ mượn tiền để đầu tư , mua bất động sản => giá nhà tăng=>
nhiều người thế chấp nhà vay tiền. Ngân hàng ưu đãi cho khách hàng , thậm
chí có những khoản nợ dưới chuẩn ( người vay nợ không đủ tiêu chuẩn đi
vay nợ)
Như vậy nếu có nhiều người không có khả năng chi trả thì ngân hàng sẽ
tịch thu nhà, nhưng chưa thể bán ngay ngay trên thi trường => tính thanh
khoản kém , thiếu hụt tiền mặt trầm trọng
Điều đó khiến các tổ chức tài chính bảo hiểm cho các ngân hàng này cũng
bị thiếu tiền mặt => phá sản=> một loạt các ngân hàng cũng phá sản
III, nằm trong mắt bão
Những năm gần đây ,động cơ của nền sản xuất nước Mỹ không còn là sản
xuất mà là tiêu thụ
Tiêu dùng được khuyến khích=> đẩy người dân tới chỗ siêu nợ, hủy hoại sự
tiết kiệm
Vấn đề được đặt ra : vào lúc tín dụng đóng băng , sự lạm dụng tín dụng
đã nhấn chìm người dân vào cuộc khủng hoảng xấu nhất trong 100 năm qua
, liệu có thể khuyến khích người dân tiếp tục mua hang vì ủng hộ sự phát
triển kinh tế không
Nếu muốn bớt nợ, trong khi không tăng thêm lợi tức thì các gia đình phải
giảm chi tiêu => ảnh hưởng tai hại đến ngành bán lẻ
IV, CDS: con quái vật ăn thịt Wall street
JP Morgan đã sáng tạo ra một công cụ tài chính mới CDS ( tín phiếu trao
đổi món nợ xấu ) : là hình thức bảo hiểm, một đơn vị thứ ba phải nhận lãnh
rủi ro cho những món nợ trở nên xấu , và đổi lại , đơn vị này sẽ được nhận

Khủng hoảng tài chính bắt đầu từ hè năm 2007 và đỉnh điểm là sự
sụp đổ của hệ thống tài chinhs Mỹ năm 2008. và lây lan sang châu âu và
một loạt các nước khác.
Khủng hoảng tài chính Mỹ có nguyên nhân là do chính sách cho vay
bất động sản dưới chuẩn,và sự không kiểm soát được các công cụ tài chính
phái sinh.
Bắt đầu tại Mỹ, các ngân hàng cho vay bất động sản dưới chuẩn gặp
khó khăn từ năm 2/2007. Rất nhiều người mau nhà rồi, nhưng sau đó không
có tiền thanh toán cho ngân hàng hằng tháng, các ngân hàng cho vay trở
nên thiếu hụt vốn. Nhiều ngân hàng chuyên về bất động sản đã phải tuyên
bố phá sản.
Những diễn biến chính.
Tháng 6/2007 một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất nước Mỹ
bear stearn tuyên bố hai chi nhánh đầu tư của nó bị phá sản do vấn đề về ho
vay dưới chuẩn.
Ngày 3/8/2007 các thị trường chưng khoán giảm mạnh vi các nhà tư
sợ cơn khủng hoảng lan rộng.
Ngày 9/8/2007 ngân hàng Pháp BNP Paribas tuyên bố ngưng hoạt
động của 3 quĩ đầu tu bất đống sản. NHTW châu âu ( ECB) bơm 94,8 EUR
vào thị trường tài chính.
Ngày 10/8/2007 các thị trường chứng khoán trên thế giới đều sụp đổ.
Các ngân hàng TW lại bơm tiền vào.
Ngày 12/2/2008 ngân hàng northern rock của Anh gặp khó khăn về
vấn đề tiền mặt, chính phủ vội vàng quốc hữu hóa nó . chính phủ đã mua
hầu hết cổ phần của nó bằng tiền mặt do đó nó mới có tiền chi trả cho
khách hàng.
Ngày 16/3/2008 ngân hàng JP morgan chase, ngân hàng khổng lồ
của Mỹ mua lại Bear stearn.với giá 236 triệu USD với điều kiện bảo lãnh
30 tỉ usd nợ của Bear stearn.
Ngày 7/8/2008 hai tổ chức tài chính lớn nhất của Mỹ Fannie mac và

dụng hiệu ứng đòn bẩy. vốn tự có ít nhưng quản lí danh mục tài sản lớn.
Tỉ lệ đòn bẩy=tài sản/ vcsh. Morgan 1:32;goldman 1:22.
Ở Mỹ mỗi ngân hàng phải có tỉ lệ dự trũ tiền mặt là 8% để tránh dủi
do cho các ngân hàng. Nhưng ngân hàng đầu tư thì khác. Từ xưa đến nay
họ chỉ cần bỏ ra 5 usd và được phép vay 95 usd để đầu tư vào dự án nào đó.
Giả sử ngân hàng đầu tư va lãi được 10 usd thì lợi nhuận của ngân hàng sẽ
là rất lớn so với số 5 usd bỏ ra. Nhưng nếu thua lỗ 10 usd thì không những
ngân hàng mất 5 usd của mình mà còn mất 5 usd của các nhà đầu tư không
đủ tiền mặt chi trả và dẫn đến phá sản => rất rủi ro. Đó là một trong những
cơ chế các ngân hàng đầu tư ở phố wall.
Đến tháng 9/2008 bùng nổ khủng hoảng nợ tín dụng bất động sản.
Hàng trăm ngàn người dân nợ tiền ngân hàng và không có tiền thanh toán,
làm cho các ngân hàng đầu tư thiếu hàng trăn tỉ để thanh toán cho các nhà
đầu tư và nhiều ngân hàng tổ chức tài chính đã đi đến bờ vực phá sản.
3/2008 ngân hàng đầu tiên gặp khó khăn là bear stearn sau khi thiếu
nợ 29 tỉ cho các nhà đầu tư . JP morgan đã mua lại ngân hàng này với giá
236 triệu usd. Chính phủ Mỹ bảo hộ 30 tỷ trả nợ.
Tháng 9/ 2008 3 tổ hợp tài chính khổng lồ bị sụp đổ. Hai ngân hàng
đầu tư khổng lồ leman brother và merrlynch đi vào phásản, trong đó ngân
hàng merrillynch được ngân hàng bank of American mua lại.Tổ chức bảo
hiểm AIG đứng thứ 3 thế giới bị đe dọa phá sản, chính phủ phải bỏ ra 85 tỉ
usd mua lại 79.9% cổ phần của AIG.
 wall street chỉ còn lại hai tổ hợp tài chính lớn là JP
morgan và goldman sachs. Chính phủ yêu cầu 2 tổ chức này quay về
dạng ngân hàng thương mai cổ điển nhận tiền gửi, cho vay và phải
có kí quỹ 8%.
Như vậy trong 4 ngân hàng đầu tư lớn đã có hai ngân hàng phá sản
như hai đơn vị độc lập, hai ngân hàng khác phải biến thể để tồn tại.
II. khủng hoảng tại một số chức tài chính lớn.
1.Fannie mac và Fredie mac.

Đầu tháng 9/2008 giá trị cổ phiếu AIG gần như mất hết.
6/2008 34 usd
9/2008 3.75 usd
Từ đầu năm 2008 đến 25/9/2008 giá trị cổ phiếu mất 91% giá trị.
Trong 3 quí đầu năm 2008 AIG đã lỗ 18 tỉ usd, phần lớn trong số lỗ
này là cho vay thế chấp bất động sản dưới chuẩn và các khoản bảo hiểm tín
dụng bất động sản cho các tổ chức tài chính khác. FED lo sợ sự sụp đổ của
AIG do tầm vóc của nó quá lớn sự sụp đổ của nó có thể ảnh hưởng tới toàn
bộ hệ thống tài chính. Với lượng tài sản hơn 1000 tỉ usd hầu như tất cả các
tổ chức tài chính đều có bảo hiểm tại AIG. Ban lãnh đạo AIG bày tỏ muốn
vay FED một món tiền nhưng có vẻ FED không đồng ý.
Đến tháng 6/2008 AIG đã phát hành bảo hiểm vay bất động sản dưới
chuẩn 440 tỉ usd. Trong thời gian này hầu hết những ngân hàng bảo hiểm
tại AIG đều thiếu tiền mặt và đòi bồi thường.AIG không đủ sức chi trả do đó
cần gấp 85 tỉ usd để thanh toán cho khách hàng.
Ngày 17/9/08 FED đã cho AIG vay 85 tỉ usd theo các điều kiện sau.
Chính phủ nắm giữ 79.9 % cổ phần tại AIG, trong 2 năm phải bán tài sản
để trả lại tiền ho nhà nước với lãi suất 11.4%.
3. Lehman brother
Trong số những ngân hàng đầu tư lehman brother là mộ trong những
ngân hàng lớn nhất với hơn 100 năm uy tín. Với các lĩnh vực hoạt động chủ
yếu là ngân hàng đầu tư,quản lí tài sản…
Kết quả kinh doanh
Quí 3 năm 2008 lỗ 3,9 tỉ usd, gạch bỏ 13,8 tỉ usd nợ khó đòi.
Cổ phiếu cao nhất vào tháng 2/2007: 83,3 usd/cf
Thấp nhất vào 12/9/2008 : 3.65 usd/cf
Chấm dứt vào ngày 15/9/08
Lehman - cũng như các ngân hàng đầu tư khác - đã sử dụng nghiệp vụ chứng
khoán hóa (securitisation) để biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái
phiếu có gốc bất động sản (MBS, MBO, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường.

Tháng 9/2008 nợ khó đòi đã lên đến 31 tỉ usd ngân hàng không có
tiền mặt để chi trả. Đầu năm 2008 giới đầu tư mất đầu tư vào ngân hàng
bán tháo cổ phiếu của wahu trên thị trường chứng khoán. Trong 1 năm cổ
phiếu đã giảm 95 % từ 36.47 usd (2007) xuống 1.69 usd vào 9/2008
Ngân hàng này bị tịch thu bởi công ty liên bang bảo hiểm tiền gửi tich
thu và bán lại toàn bộ tài sản cho ngân hàng đầu tu JP morgan với giá 1.9 tỉ
usd. Đây là vụ phá sản ngân hàng thương mại lón nhất trong lịch sử tài
chính nước Mỹ.
III. kế hoạch giải cứu hệ thống tài chính của chính phủ - kế hoạch
Paulson.
Sau khi giải cứu phố wall, chính phủ yêu cầu kiểm kê lại thình hình
tài chính các tổ chức, phát hiện ra lỗ hổng khoảng 700 tỉ usd trong hệ
thông tài chính nước Mỹ.
Ngày 3/10/2008. thông qua kế hoạch Paulson với một số nội dung
chính sau đây.
- Chính phủ có thê mua lại toàn bộ các tín phiếu có thế chấp bất
động sản từ các định chế tài chính với giá cao nhất là 700 tỉ usd. Được
chia làm 3 giai đoạn trước mắt là 250 tỉ sau đó là 100 tỷ do nhà trắng
quyết định còn 350 tì phải thông qua quốc hội.
- Nếu sau khi bán các bất động sản mà các tổ chức này không giả
tiền cho nhà nước thì nhà nước sẽ mua cổ phiếu của chính các tổ
chức này.
- Chính phủ lập ra một quĩ bảo hiểm các tín phiếu bất động sản
rủi ro, các định chế tài chính sẽ đóng góp tài trợ cho quĩ này.
- Chính phủ giới hạn tiền lương cán bộ cao cấp của các tổ chức
không quá 500000 usd/ năm.
- Chính phủ tăng tiền gửi của dân chúng từ 100000 usd/năm lên
250000 usd/ năm một người/1tk/1nh.
- 5 năm nữa chính phủ sẽ ban hành kế hoạch mới cho phép các tổ
chức hoàn trả lại các khoản vay

15/10/2008 Iceland đã phải cử phái đoàn sang Nga để vay 6 tỉ usd.
II. khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại châu âu.
Nhiều ngân hàng ở châu âu tham gia vào tài trợ thị trường bất động
sản dưới chuẩn, nên khi thị trường tài chính Mỹ đi vào khủng hoảng nó đã
ảnh hưởng mạnh đến hệ thông ngân hàng châu âu.
- Tại Anh nhiều ngân hàng đã gặp khó khăn trong vấn đề tiền mặt:
Ngày 2/8/2008 northern rock đã thiếu tiền mặt trầm trọng, người Anh
nối đuôi nhau đến rút tiền tại ngân hàng. Chính phủ đã phải quyết định
quốc hữu hóa nó để ngăn chặn khủng hoảng lan sang các ngân hàng khác
Ngày 9/8/2008 một ngân hàng khác của anh là Halifax bank ò
Scotland phát hiện lỗ nặng với các khoản vay bất động sản và được chính
phủ Anh cho phép sát nhập với ngân hàng LOYDS TSB mặc dù ngân hàng
này có tài sản nhỏ hơn. Làm cho ngân hàng trở thành ngân hàng lớn thứ 3
ở Anh với 28% thị phần bất động sản ở Anh.
- Tại Thụy sỹ ngân hàng UBS gạch bỏ 44 tỉ usd nợ khó đòi chủ yếu là
bất động sản dưới chuẩn. chính phủ đã bơm cho ngân hàng này 60 tỷ.
- Tại ý thủ tướng Ý nói rằng ông hi vọng không có phá sản ở Ý. Các
ngân hàng ở Ý rất bảo thủ trong vấn đề cho vay bất động sản, họ chỉ cho
vay 50% giá trị ngôi nhà, một số ngân hàng Ý còn dư nhiều tiền mặt.
III.Các nước châu âu cứu nguy ngân hàng.
Đức xung phong bỏ ra 400 tỉ eur bảo hiểm cho tín dụng ngân hàng,
bơm 80 tỉ vào ngân hàng.
Pháp bỏ ra 320 tỷ EUR vào dòng chảy tín dụng của hệ thống ngân
hàng
Ý tuyên bố chi bao nhiêu cũng được để chặn đúng khủng hoảng.
Hà lan và Tây ban nha quyết định chi 200 tỉ eur và 100 tỉ eur để vực
hệ thống ngân hàng.
C. Khủng hoảng tại Châu á - Trung quốc.
Cơn sóng khủng khoảng tài chính ở Mĩ và châu Âu đã lan sang châu
á đặc biệt là Trung quốc nước có nền kinh tế đứng thứ 4 thế giới năm

thể đưa tới chính sách bảo hộ chống Trung Quốc.Indonexia,một trong
những thị trường lớn của châu á,áp dụng 1 loạt các biện pháp bảo hộ,hạn
chế các mặt hàng nhậ khẩu quần áo,đồ điện tử ,giầy dép,đồ chơi,thực phẩm
có xuất sứ từ Trung Quốc gây thêm khó khăn cho xuất khẩu Trung
Quốc.Tình trạng trên khiến nhiều xí ngiệp Trung Quốc đã phải đóng cửa.
Tại tỉnh Quảng Đông rất nhiều xí nghiệp đã đóng cửa mà không trả
nổi lương cho nhân viên,một số nhân viên đã xin nghỉ sớm và đòi được phát
lương ngay trước khi chủ xí nghiệp xin phá sản.
Tại Tứ Xuyên các miền sâu trong nội địa cán bộ thị xã xoay sở đủ
cách đẻ tạo việc làm cho hàng nghìn lao đọng di cư (từ nông thôn ra thành
thị),giờ họ trở về quê và gia đình họ không cần tới họ trong công việc đòng
áng.
Tại Hồng Kong có khoảng từ 10000-60000 xí nghiệp sẽ phải đóng
cửa hay đã đóng cửa trong thời gian sắp tới và ảnh hưởng của nó còn nằng
nề hơn trong đại lục.Vì các xí nghiệp trong đại lục bình thường ít và nhỏ
hơn các xí nghiệp của Hồng Kong.
Xuất khẩu suy giảm ảnh hưởng mạnh mẽ lên các lĩnh vực dệt
may,công nghiệp,và bất động sản vì giá bất động sản ở Trung Quốc đã giảm
35% so với thời điểm năm 2007.Tháng 8 năm 2008 số lượng nhà mới xây
được bán ra tại 16 vùng lớn ở Trung Quốc đã giảm 15% so với năm trước
.Số lượng nhà bán ở Bắc Kinh giảm 55% và ở Thượng Hải giảm 38% đã
kéo theo số bán giảm của các mặt hàng tiêu thụ dài hạn ví dụ các sản phẩm
gia dụng.Diễn biến thị trường thép và oto cũng không mấy sáng sủa.Số
lượng xe bán nội địa cũng thu nhỏ hơn so với năm trước.Giá một số kiểu xe
đã bị giảm một nửa so với năm ngoái.Giá bán các sản phẩm từ thép giảm
mạnh.
Lĩnh vực tiền tệ:các NHTM có tới 65% tiền vay nợ là các khoản thế
chấp bất động sảm.Đáng chú ý là không phải người Trung Quốc vay tiền
ngân hàng với lý do mua nhà mà thực ra họ dùng tiền để mua xe ôto hoặc
chứng khoán.Như vậy hiện nay nợ của Trung Quốc được tài trợ bằng tín

hoảng này sẽ không có tác động đáng kể đến hệ thống ngân hàng Việt Nam,
bởi lẽ:
Thứ nhất, mức độ hội nhập của nền kinh tế Việt Nam nói chung và của hệ
thống ngân hàng nói riêng với nền kinh tế và hệ thống ngân hàng Mỹ và thế
giới chưa sâu. Các ngân hàng Việt Nam hiện nay chủ yếu làm cầu nối cung
cấp dịch vụ thanh toán, bảo lãnh và bao thanh toán cho các doanh nghiệp
xuất, nhập khẩu. Bên cạnh đó, lượng vốn của các ngân hàng Việt Nam vay
trên thị trường quốc tế là không lớn nên có thể loại trừ khả năng xuất hiện
hiệu ứng rút vốn ồ ạt gây nên rủi ro về thanh khoản của hệ thống ngân
hàng.
Thứ hai, các ngân hàng và các tổ chức tài chính Việt Nam không sở hữu các
MBS của Mỹ, do vậy không phải gánh chịu những khoản lỗ phát sinh do
công cụ này giảm giá. Mặt khác, cấu trúc của hệ thống ngân hàng Việt Nam
còn khá đơn giản, các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng chưa phát triển, chưa
có sự liên thông ở mức tinh vi giữa TTBĐS và TTCK thông qua các công cụ
phái sinh tương tự như MBS của Mỹ. Các ngân hàng Việt Nam đầu tư vào
bất động sản chủ yếu thông qua hình thức trực tiếp là cho vay có đảm bảo
bằng tài sản hoặc bằng chính bất động sản hình thành từ vốn vay nên khả
năng tạo hiệu ứng dây chuyền kiểu Mỹ khi bất động sản giảm giá là rất khó
xảy ra.
Tuy nhiên, mặc dù hệ thống ngân hàng Việt Nam không chịu ảnh hưởng trực
tiếp từ cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn ra nhưng không phải là không
có vấn đề. Những vấn đề mà hệ thống ngân hàng gặp phải chủ yếu phát sinh
từ những yếu tố nội tại.
Trước hết, là vấn đề mô hình của hệ thống ngân hàng. Theo Khoản 2, Điều
20 của Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội ban hành năm 1997 và
được sửa đổi, bổ sung năm 2004 thì các loại hình ngân hàng ở Việt Nam
bao gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư,
ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.
Nhưng dưới gốc độ lập pháp thì cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có sự phân

sản sẽ làm tăng tỷ lệ nợ xấu trong những tháng cuối năm 2008 khi các
khoản cho vay vào bất động sản trước đây lúc thị trường này còn hấp dẫn
sẽ đáo hạn. Trong tình hình TTBĐS vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc thì việc
các ngân hàng phải đối diện với khoản lỗ lớn là khó tránh khỏi.
Ngoài ra, nguy cơ về tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn đang
còn tiềm ẩn, mặc dù các giải pháp thắt chặt tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô,
kìm chế lạm phát của Chính phủ đã phát huy tác dụng. Đầu 2009: lãi suất
cơ bản qua bốn đợt cắt giảm trong một thời gian ngắn đã được hạ xuống
còn 10%, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng được giảm xuống đáng kể đi kèm theo
việc tăng lãi suất trên tỷ lệ này, lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân
hàng và chiết khấu giấy tờ có cũng giảm khá mạnh. Song song đó, NHNN
đã mua lại tín phiếu bắt buộc phát hành cho các ngân hàng trước thời gian
đáo hạn trị giá 20,3 ngàn tỷ đồng. Những động thái trên là dấu hiệu “nới
lỏng chính sách tiền tệ” một cách linh hoạt của Chính phủ nhằm tăng tính
thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện để ngân hàng hạ lãi suất
cho vay để các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn. Qua đó, kích thích
sản xuất chống lại nguy cơ giảm phát và duy trì mức tăng trưởng của nền
kinh tế. Nhưng khi, lượng tiền mặt trong hệ thống tăng lên và các ngân hàng
đã giảm đáng kể lãi suất cho vay tương đương với mức cuối năm 2007 thì
các doanh nghiệp lại tỏ ra không mấy mặn mà. Nguyên nhân chủ yếu được
xác định là do ảnh hưởng của đợt lạm phát trong nước khi đó và của cuộc
khủng khoảng tài chính toàn cầu đang diễn ra đã làm sức mua trong nước
và trên thị trường các nước vốn là nơi tiêu thụ truyền thống sản phẩm xuất
khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam giảm mạnh. Như vậy, hệ thống ngân
hàng Việt Nam lại đối diện với một thách thức mới. Đó là tìm đầu ra cho
những đồng vốn của mình. Trong điều kiện TTBĐS “đóng băng” và TTCK
liên tục tuột dốc thì rõ ràng đây thật sự là một bài toán khó.
Những tác động đến thị trường chứng khoán (TTCK):
Các nghiên cứu cho thấy, cơn bão tài chính thế giới chưa có những tác động
lớn trực tiếp đến nền kinh tế nói chung và TTCK Việt Nam nói riêng. Cơ sở

Giá cổ phiếu tại thị trường Việt Nam chỉ trong vòng 1 tháng (từ 18/7/2008-
17/8/2008) đã giảm khoảng 11,2%.Mức giảm chung tại TTCK khu vực châu
Á từ ảnh hưởng của TTCK Mỹ là khoảng 15% (chỉ duy nhất Trung Quốc
tăng 18,2% do nước này đã áp dụng biện pháp về kiểm soát vốn).
Hai là, khủng hoảng tài chính đã làm cho các nhà đầu tư nước ngoài bán
ròng cổ phiếu, trái phiếu. Huy động vốn gián tiếp vào thị trường cổ phiếu
Việt Nam rất khó khăn do các nhà đầu tư sẽ hướng tới các kênh đầu tư an
toàn (flight to quality). Việc bán tháo chứng khoán khỏi thị trường Việt Nam
là có thể, mặc dù xác suất không cao do tính thanh khoản và quy mô của thị
trường.
Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán và quá trình cổ
phần hóa các doanh nghiệp nhà nước lớn trong các năm tới. Việc huy động
vốn thông qua thị trường vốn khó khăn trong khi thị trường tín dụng thắt
chặt sẽ chặn dòng vốn và đẩy chi phí tài chính của các doanh nghiệp lên
cao. Một khía cạnh khác của đầu tư gián tiếp là các giao dịch chênh lệch lãi
suất (carry trade) nhằm hưởng chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền trong
khi tỷ giá ổn định. Các giao dịch này thường mang tính đầu cơ ngắn hạn
cao. Với lãi suất toàn cầu sụt giảm và chính sách tỷ giá neo VND vào USD
của Việt Nam trong khi lãi suất VND vẫn ở mức cao, có thể dòng vốn này sẽ
chảy vào trong một số giai đoạn nhất định nhằm khai thác cơ hội chênh
lệch. Trong những trường hợp thoái vốn, dòng vốn này có thể tạo áp lực tỷ
giá cho VND.
Việc phát hành chứng khoán huy động vốn trên thị trường quốc tế cũng sẽ
khó khăn và chi phí tăng cao.
Tính từ đầu tháng 8/2008 đến đầu tháng 10/2008 các nhà đầu tư nước
ngoài đã liên tục bán ròng cổ phiếu với tổng giá trị lên 1.278 tỷ đồng và
khoảng 13,5 ngàn tỷ đồng đối với trái phiếu. Với giá trị bán ra khổng lồ này
đã góp phần không nhỏ vào sự sụt giảm của chỉ số VN-Index và Hastc-Index
thời gian đó. Trước đó, nhiều ý kiến đã “trấn an” các nhà đầu tư là sẽ
không có chuyện các nhà đầu tư ngoại rút vốn vì phần lớn các quỹ đầu tư

nhân tố dẫn dắt thị trường. Động thái mua vào hoặc bán ra của họ cũng sẽ
làm cho giá chứng khoán tăng hoặc giảm theo. Nhưng từ cuối tháng 9/2008
đến những tháng đầu 2009, rất nhiều thông tin tốt về nền kinh tế được phát
đi như lãi suất cơ bản và giá xăng liên tục giảm, chỉ số giá tiêu dùng giảm
đáng kể đã không nhận được những phản ứng tích cực nào từ thị trường và
chỉ số chứng khoán cả 2 sàn Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đều giảm.
Điều đó cho thấy nhà đầu tư Việt Nam đã không còn quan tâm đến các
thông tin tốt từ nền kinh tế trong nước nữa. Cái mà họ quan tâm là diễn biến
tình hình giao dịch ở các TTCK Mỹ, Anh, Nhật Bản…thế nào và sẽ có hành
vi đầu tư tương tự. Trong những tháng đầu 2009, diễn biến của các chỉ số
chứng khoán Việt Nam luôn cùng chiều với chỉ số của các thị trường trên.
Vậy là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã chuyển hướng tâm lý đầu tư
của các nhà đầu tư Việt Nam: từ đầu tư theo nhà đầu tư nước ngoài ở trong
nước sang đầu tư theo các “nhà đầu tư ngoài nước”. Tâm lý này trở thành
một rào cản không nhỏ cho các nỗ lực của Chính phủ nhằm vực dậy TTCK.
Nhiều chuyên gia đã chỉ ra rằng, khi thị trường tài chính có biến động mạnh
ở một hoặc nhiều nước phát triển, các TTCK toàn cầu có độ liên thông lớn
hơn rất nhiều so với thời kỳ ổn định và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy
luật đó.
Thứ tư, tâm lý giá xuống đã làm méo mó vai trò là “phong vũ biểu” phản
ánh “sức khỏe” nền kinh tế và đe dọa tính thanh khoản của thị trường. Đó
là khi, giá chứng khoán xuống quá thấp thì người bán lại không muốn bán
nhưng người mua cũng sẽ không dám mua do vẫn còn lo sợ chứng khoán sẽ
tiếp tục giảm nữa. Khi đó từ “khủng hoảng niềm tin” thị trường sẽ chuyển
sang một cuộc khủng hoảng khác nguy hiểm hơn nhiều: khủng hoảng về tính
thanh khoản.
Thứ năm, mặc dù không phải phát sinh mới đây do cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu nhưng TTCK Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều những vấn
đề khác như các vấn đề về khung pháp lý, vai trò quản lý, giám sát của Nhà
nước, tính minh bạch của thị trường:

hành chính sách tiền tệ quốc gia một cách linh hoạt. NHNN “không có chức
năng hoạch định mà chỉ là cơ quan chấp hành trong việc điều hành chính
sách tiền tệ. Các văn bản dưới luật thường được ban hành để xử lý vấn đề
mang tính chất vụ việc nhiều hơn là những vấn đề mang tính chất chiến
lược. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về ngân hàng phải được tiến hành
theo hướng nâng cao tính độc lập và vai trò chủ động trong quản lý, điều
hành linh hoạt chính sách tiền tệ, mở rộng thẩm quyền và tăng cường các
công cụ kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh ngân hàng của NHNN.
Song song đó, cần có sự tách bạch rõ ràng giữa hoạt động của NHTM và
NHĐT đồng thời nâng cao điều kiện cấp phép thành lập và hoạt động của
NHTM cổ phần và các CTTC. Các văn bản về ngân hàng phải đặt nền tảng
pháp lý để tạo ra môi trường kinh doanh ngân hàng minh bạch và nâng cao
tính cạnh tranh thông qua việc đẩy mạnh cổ phần hoá các NHTM Nhà nước
và hình thành cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc sáp nhập, hợp nhất và phá sản
ngân hàng.
– Tăng cường kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Trước hết,
NHNN cần đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra việc thực hiện
các quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng của
các ngân hàng và TCTD theo quy định Luật các tổ chức tín dụng và Quyết
định số 457/2005 ngày 19/4/2005 quy định cụ thể các tỷ lệ bảo đảm an toàn
trong hoạt động của TCTD và các văn bản khác. Đặc biệt, cần nghiên cứu
xây dựng và giám sát chặt chẽ hạn mức tín dụng đối với các lĩnh vực nhạy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status