Họ tên: LÊ QUANG TUYẾN
Lớp : XHH54
MSV : 543703
BÀI TẬP XÃ HỘI HỌC CHÍNH TRỊ
Đề tài: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC
CÔNG ĐOÀN VỚI VẤN ĐỀ ĐÌNH CÔNG CỦA
CÔNG NHÂN NƯỚC TA
I. Phần mở đầu
1.lý do lựa chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, Công đoàn là thành viên của hệ thống chính trị. Từ khi ra đời Công
đoàn đã có được vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với lịch sử nước nhà. Công đoàn cùng
với Đảng, Mặt trận tổ quốc, Đoàn thanh niên lãnh đạo công nhân, nông dân, trí thức và các
tầng lớp lao động khác đứng lên đấu tranh đòi quyền lợi cho dân tộc, giai cấp và cho người
lao động. Khi đất nước thống nhất, Công đoàn vẫn gánh trên vai mình sứ mệnh lịch sử cao
cả đó là bảo vệ lợi ích dân tộc, lợi ích của giai cấp mình bằng những việc làm cụ thể hữu ích.
Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi. Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy
vọt. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản
xuất. Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham
gia, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh. Để có thể
nắm bắt được thời cơ và phát huy cao độ nội lực thì chúng ta cần phải quan tâm tới mỗi con
người nói chung cũng như mỗi công nhân, lao động nói riêng. Việc bảo vệ quyền lợi của
giai cấp công nhân có liên quan tới: việc làm, thời gian lao động, tiền lương lao động, nhà ở,
bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, phòng chống độc hại
Hiện nay, việc làm là vấn đề quan trọng, bức xúc đối với công nhân, lao động. Trong
những năm qua, Nhà nước đã có nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích tạo điều kiện cho
các thành phần kinh tế phát triển, cho nên vấn đề việc làm của công nhân, lao động đã bớt
gay gắt, tỷ lệ người không có việc làm giảm bớt. Tuy vậy, hàng năm vẫn còn từ 6 - 7% số
công nhân lao động thất nghiệp và thiếu việc làm. Điều này đòi hỏi phải có những việc làm
cụ thể, tích cực hơn nữa trong vấn đề này, bởi Việt Nam vẫn là nước có tỷ lệ thất nghiệp vào
loại cao trên thế giới và khu vực.
Tiền lương là nguồn thu nhập chính của công nhân, viên chức và lao động, tuy đã từng
Đề tài đi vào nghiên cứu thực trạng Vai trò của tổ chức Công đoàn đối với vấn đề đình
công của công nhân nước ta trong thời gian gần đây.
2.2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển công đoàn trên thế giới và ở nước ta dể thấy sự
giống và khác nhau của quá trình hình thành và phát triển của công đoàn nước ta với thế
giới
Nghiên cứu những tính chất, nhiệm vụ, phương thức hoạt động và tổ chức của công đoàn Việt
Nam để hiểu rõ hơn về công đoàn nước ta
Nghiên cứu về đình công : định nghĩa về đình công, nguyên nhân
Nghiên cứu thực trạng đình công của nước ta thời gian gần đây
Nghiên cứu thực trạng của vai trò công đoàn Việt Nam trong việc đình công của công nhân lao
động trong thời gian gần đây để thấy được thực trạng hoạt động của công đoàn nước ta.
Nêu nguyên nhân và hướng giải quyết cho thực trạng trên
Chỉ ra những hướng nghiên cứu trong tương lai về lĩnh vực trên
2.2 phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu trong đề tài sử dụng là phương pháp thu thập thông tin và sử lý qua
các nguồn tài liệu:
Các bài báo , tạp chí viết về thực trạng hoạt động của công đoàn Việt Nam
Luật công đoàn , và điều lệ của công đoàn Việt Nam
Các nghiên cứu, luận án, sách về công đoàn Việt Nam
3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Thời gian gần đây có rất nhiều bài viết, những luận án, những nghiên cứu khoa học về
thực trạng hoạt động công đoàn nước ta như:
Đề tài “ Vai trò của Công đoàn Tổng công ty Sông Đà với việc tổ chức phong trào thi đua
trong công nhân viên chức – Lao động ” của Đỗ Minh Sang và sinh viên khoa xã hội học
trường đại học Công Đoàn .Đề tài chỉ ra vai trò quan trọng của Công đoàn trong việc tổ
chức phong trào thi đua trong công nhân viên chức lao động của Tổng công ty Sông Đà tuy
nhiên đề tài chỉ dừng lại ở một phạm vi hẹp của một công ty và chỉ trong phong trào thi đua
chứ chưa có sự bao quát chung nhất ở quy mô lớn và trong tất cả các hoạt động của công
nhân viên chức lao động.
đoàn ngày càng diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là sau Quốc tế II được thành lập ngày 14-5-1889
và trong những năm Chiến tranh thế giới lần thứ I tháng 8-1914. Thắng lợi Cách mạng tháng
10 Nga 1917 đã làm vang dội thế giới, giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Nga, thành lập nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, phong trào công đoàn thế giới bước
sang giai đoạn mới.Trong thời kỳ này, công đoàn Xô Viết có một vị trí cực kỳ quan trọng
trong tổ chức công đoàn quốc tế. Từ sự thắng lợi của Cách mạng tháng 10 Nga, phong trào
công nhân và công đoàn đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước khác trên thế giới như Ý,
Hung-ra-ri& Sự ra đời của quốc tế III (1919) và Công hội Đỏ (RILU) năm 1921 đã đánh dấu
một bước tiến mới của công đoàn thế giới.Chiến tranh thế giới lần II kết thúc, hệ thống các
nước Xã hội chủ nghĩa ra đời thể hiện sự cân bằng lực lượng giữa Chủ nghĩa xã hội và Chủ
nghĩa tư bản. Bấy giờ, tổ chức công đoàn đã tích cực tham gia quản lý kinh tế -xã hội. Trong
thời kỳ này, nhiều tổ chức công đoàn ra đời tiêu biểu nhất là Liên hiệp công đoàn thế giới
tháng 10-1945 (Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức này từ năm 1949);
Liên hiệp Quốc tế các công đoàn tự do (1949). Những tổ chức công đoàn mang tính quốc tế
này vẫn tồn tại cho đến ngày nay.Tuy nhiên, vào thập kỷ cuối của thế kỷ 20, khi chế độ Xã
hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, phong trào công đoàn thế giới đã có
những khủng hoảng về kinh nghiệm, mô hình tổ chức, nội dung và phương pháp hoạt động.
Ở các nước Xã hội chủ nghĩa còn lại như Việt Nam, Trung Quốc, Cu-ba, Cộng hoà dân chủ
nhân dân Triều Tiên, công đoàn dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền đang tiến
hành đổi mới để phù hợp với tình hình mới. Hiện nay, trong cơ chế thị trường đang diễn ra
sôi động trên phạm vi toàn thế giới, các tập đoàn tài chính quốc tế, các công ty đa quốc gia
đã áp dụng chính sách đầu tư linh hoạt và phương pháp quản lý mềm dẻo, tăng cường bóc
lột công nhân. Thêm vào đó là tình hình việc làm của công nhân và người lao động trên thế
giới đang trở thành vấn đề lớn.Vì vậy, công đoàn thế giới cần phải đổi mới, kiện toàn tổ
chức công đoàn phải phấn đấu vươn lên không ngừng vì sự nghiệp hoà bình thế giới, ổn
định kinh tế xã hội và bảo vệ người lao động.Trải qua một thời gian dài phát triển, nhiều tổ
chức công đoàn ở các quốc gia đã có đủ điều kiện nhận thức và kinh nghiệm xây dựng tổ
chức công đoàn, vai trò và vị trí công đoàn ngày càng được khẳng định. Nhiều tổ chức công
đoàn đã đứng ra đấu tranh đòi dân chủ, công bằng xã hội, đưa ra nhiều kiến nghị đòi tăng
tiền lương, giảm giờ làm, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống& cho người lao động. Từ
8-1930, thay mặt Đông phương Bộ của Quốc tế cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chỉ
định Công hội đỏ Việt Nam cử đại biểu đi dự Đại hội Công hội đỏ quốc tế lần thứ VI ở Mát-
xcơ-va. Khi ấy thông qua Công hội đỏ, đồng chí Trần Phú đã đi khảo sát phong trào công
nhân Nam Định Hải phòng, Hòn Gai& để viết bản Luận cương chính trị lịch sử. Được cử
làm trưởng ban Công vận trung ương, ngày 20-1-1931 tại Sài Gòn, đồng chí Trần Phú -
Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng đã triệu tập Hội nghị công nhân Đông Dương lần thứ I vạch
ra phương hướng tổ chức và đấu tranh cho phong trào công nhân và công đoàn.Trong thời
kỳ mặt trận dân chủ Đông Dương (1936-1939) hưởng ứng phong trào Đông Dương đại hội
và đòi tự do cơm áo hoà bình dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương hàng ngàn
cuộc bãi công của nửa triệu công nhân tham gia đã nổ ra liên tiếp ở các thành phố lớn trong
cả nước. Đầu năm 1937 công nhân đấu tranh sôi sục đòi quyền tự do lập nghiệp đoàn ở Hà
Nội, Sài Gòn, Vinh& Mặc dù bọn phản động thuộc địa ngăn cản, nhiều nghiệp đoàn vẫn
được thành lập và tự do hoạt động, báo chí vẫn tự do xuất bản và công khai tuyên truyền
Chủ nghĩa Mác- Lênin. Chưa giành được toàn bộ quyền tự do nghiệp đoàn, công nhân Việt
Nam không bỏ lỡ cơ hội lập các Hội ái hữu ở khắp nơi.Tháng 9-1939, Đại chiến Thế giới
lần thứ II bùng nổ, các tổ chức của công nhân và công bộ công đoàn phải rút vào bí
mật.Trong thời kỳ vận động Cách mạng tháng Tám (1939-1945), Hội công nhân cứu quốc -
một lực lượng quan trọng của Mặt trận Việt Minh được thành lập nhất là ở Bắc và Trung
Bộ. Hội công nhân cứu quốc vừa bí mật đấu tranh đòi quyền lợi hằng ngày, vừa tổ chức các
đội võ trang làm nòng cốt cho cuộc nổi dậy ở đô thị.Cách mạng tháng Tám thành công, nhân
dân lao động Việt Nam từ chỗ là dân nô lệ mất nước đã đứng lên làm chủ đất nước, chủ xí
nghiệp. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh
nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà- nhà nước do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Để
thực sự thống nhất về tổ chức công đoàn, Hội nghị cán bộ công nhân cứu quốc họp ngày 20-
5-1946 quyết định đổi Hội công nhân cứu quốc thành Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.
Ngày 20-7-1946, tại thủ đô Hà Nội, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam chính thức tuyên bố
thành lập đánh dấu bước ngoặt của phong trào công đoàn Việt Nam với một tổ chức thống
nhất và ổn định thật sự trong cả nước.Tháng 1-1949, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam lần
thứ I họp ở Thái Nguyên đã bầu ra Ban chấp hành Trung ương do đồng chí Tôn Đức Thắng
làm Chủ tịch danh dự và đồng chí Hoàng Quốc Việt làm Chủ tịch.Trong sự nghiệp cách
Tính chất của một tổ chức là đặc điểm riêng tương đối ổn định của tổ chức, để từ đó phân
biệt tổ chức đó với đó chức khác. Công đoàn Việt Nam có tính chất giai cấp của giai cấp
công nhân và tính chất quần chúng rộng lớn.
Biểu hiện tính chất giai cấp công nhân của
• Công đoàn Việt Nam đoàn Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
• Hoạt động của Công đoàn Việt Nam nhằm thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng
đề ra và thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xóa bỏ chế độ người
bóc lột người, xây dựng chế độ xã hội mới không có người bóc lột người.
• Xây dựng tổ chức Công đoàn Việt Nam đảm bảo thống nhất hành động của giai
cấp công nhân Việt Nam.
• Xây dựng đội ngũ cán bộ Công đoàn theo đường lối cán bộ của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
• Tổ chức và hoạt động Công đoàn quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ - một
nguyên tắc tổ chức của giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Biểu hiện tính chất quần chúng của Công đoàn Việt Nam
• Công đoàn Việt Nam kết nạp đông đảo công nhân, viên chức và lao động vào tổ
chức Công đoàn. Mọi người công nhân, viên chức và lao động đều có quyền tự
nguyện gia nhập và ra khỏi tổ chức Công đoàn theo quy định của Điều lệ Công
đoàn Việt Nam.
• Cơ quan lãnh đạo của Công đoàn Việt Nam bao gồm những người được quần
chúng người lao động tín nhiệm để đại diện cho họ.
• Nội dung hoạt động của Công đoàn Việt Nam đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng
của người lao động.
• Cán bộ Công đoàn trưởng thành từ phong trào công nhân, từ phong trào quần
chúng ở cơ sở.Hai tính chất của Công đoàn nêu trên có mối quan hệ gắn bó với
nhau và đều quan trọng như nhau.
II.3Chức năng của công đoàn Việt Nam ( theo điều 2 chương 1 luật công đoàn)
Chức năng của một tổ chức là sự phân công tất yếu, sự quy định chức trách một cách
tương đối ổn định và hợp lý trong điều kiện lịch sử – xã hội nhất định.
Đình công – bãi công là một sản phẩm của nền kinh tế thị trường. Đình công là sự kiện
lao động đình lại vì nhiều công nhân viên từ chối tiếp tục làm việc. Đình công có ảnh hưởng
bắt đầu từ cách mạng công nghiệp khi lao động đã tập trung số lượng lớn (trước thời kỳ này
cũng có nhưng không được xem xét do tính chất chưa đủ để tạo nên bản chất của đình công)
Đình công thường xảy ra khi công nhân viên bất bình với giới chủ. Đình công được chính
thức công nhận vào đầu thế kỷ 20 (trước đó, do thế lực của giới tư bản, đình công được xem
là bất hợp pháp)
3.2 Đình công- sản phẩm của nền kinh tế công nghiệp
Đình công ra đời đồng thời với nền kinh tế công nghiệp tập trung vào cuộc cách mạng
công nghiệp lần thứ 1. Đình công nổ ra khi giữa người làm công và giới chủ xảy ra xung đột
về quyền lợi mà không thể giải quyết qua các phương thức đàm phán khác. Theo An
Nguyên, Rice University, nhìn từ góc nhìn của lý thuyết mặc cả đình công là một thủ thuật
trong một chiến lược có tính toán để người lao động mặc cả với giới chủ. Đình công tự nó
không thần thánh hay xấu xa mà chỉ là một phương thức của người yếu thế sử dụng để đấu
tranh với người chủ. Nhưng thường vì lợi ích đôi bên (nhu cầu về quyền lợi) các cuộc đình
công thường được giải quyết. Có thể xem đình công là khủng hoảng nhất thời và lành mạnh
để duy trì một mối quan hệ lâu bền.
3.3 Nguyên nhân sảy ra đình công
Giữa chủ và thợ có mối quan hệ kép. Nếu xem lợi nhận là miếng bánh được chia làm 2
phần thì đình công thường là sự tranh giành tỷ lệ giữa 2 phần bánh. Tuy nhiên, khi đình
công xảy ra, cả cái bánh có thể bị nhỏ lại (giảm sản lượng) hoặc mất đi (phá sản). Xét về
mặt giới chủ, luôn muốn lợi nhuận ở mức cao nhất nên tìm cách giảm chi phí trả lương hoặc
tăng cường chính sách cho giới làm thuê mà điều này làm nhỏ đi phần lợi nhuận của giới
chủ. Giới làm công lại muốn tỷ lệ này tăng lên, một khi giới làm công thấy miếng bánh lớn
mà mình được chi phần nhỏ thì sẽ có các hình thức đấu tranh để giành được nhiều hơn. Đình
công là một trong những phương pháp đó.
Đình công nổ ra khi giữa chủ và thợ không thể đối thoại và không có thông tin về nhau. Vì
thế, công đoàn đóng vai trò quan trọng trong các cuộc đình công của công nhân. Với vai trò
của mình, công đoàn có thể kiểm chứng thông tin về miếng bánh và đại diện công nhân mặc
cả về điều kiện lao động. Tuy nhiên, mặc cả tập thể và đình công là nhu cầu thiết yếu và tự
Minh với 504 cuộc, chiếm 40,3%; Bình Dương với 279 cuộc, chiếm 22,3%; Đồng Nai với
258 cuộc, chiếm 20,7%; các tỉnh còn lại chỉ có 209 cuộc, chiếm 16,7% Tính riêng năm
2009, cả nước xảy ra 216 cuộc đình công. Số cuộc đình công hầu hết vẫn diễn ra ở những
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với 157 cuộc, chiếm 72,6%.
Còn theo Văn phòng Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, trong 2 tháng đầu năm 2010
đã xảy ra 64 vụ đình công. Tuy nhiên, theo các chuyên gia trong lĩnh vực lao động thì con
số này chưa thể hiện đầy đủ, bởi trên các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh cho thấy
các cuộc đình công vẫn tiếp tục gia tăng. Cụ thể những ngày đầu năm 2010 mặc dù tình hình
kinh tế đang có dấu hiệu hồi phục nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn xảy ra đình công. Đáng
chú ý là số nhiều các vụ đình công vẫn xảy ra ở các DN có vốn nước ngoài. Vụ đình công
mới đây nhất xảy ra tại Công ty TNHH Endo Stainless Steel (100% vốn Nhật Bản) tại Khu
công nghiệp Nội Bài (Hà Nội), tiếp theo là Công ty TNHH Bando Vina (đóng tại xã Thanh
Điền, huyện Châu Thành, Tây Ninh)
Hầu hết lý do mà các công nhân đưa ra để họ tổ chức đình công ở tất cả các DN đều tập
trung vào các vấn đề, như làm tăng ca, điều kiện làm việc, sinh hoạt không bảo đảm, lương
thưởng quá thấp không lo đủ cho cuộc sống; thực hiện một số nội quy, quy định quá khắt
khe đối với người lao động không những không khuyến khích người lao động tăng năng
suất mà còn có tác động ngược trở lại
Chỉ trong vòng 3 tháng đầu năm 2011, đã có 220 cuộc đình công tại Việt Nam: “Thông
tin từ báo Lao Động hôm Thứ Tư 20-4-2011”. Bản tin trên báo nhà nước nhan đề “Gia tăng
tranh chấp lao động ở các doanh nghiệp” đã ghi lời ông Nguyễn Duy Vỹ, Phó Trưởng ban
Chính sách – Pháp luật, Tổng LĐLĐ VN, rằng tình hình tranh chấp lao động (TCLĐ) có xu
hướng gia tăng về số lượng, phức tạp về tính chất và nghiêm trọng về quy mô mức độ. Ba
tháng đầu năm 2011 đã có 220 cuộc TCLĐ. Ông Vỹ đưa ra thống kê, theo báo Lao Động, về
số cuộc đình công: “Theo thống kê, từ năm 2009-2010, cả nước đã xảy ra 3.620 cuộc ngừng
việc tập thể, đình công tự phát của người lao động. Trong đó, năm 2010, có 424 cuộc và
riêng 3 tháng đầu năm 2011 đã có tới 220 cuộc”. Nếu tính về mật độ, các cuộc đình công
xảy ra tại Sài Gòn nhiều hơn ở Hà Nội. Tính theo thời gian, ngày càng đình công nhiều hơn
ở cả 2 thành phố này.
Báo Lao Động ghi về các cuộc đình công ở Hà Nội:
chung của nhiều doanh nghiệp trên cả nước ta.
Theo chương 14, Luật Lao động hiện hành thì tất cả các công đoạn để tổ chức một cuộc
đình công đều do tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp thực hiện. Thế nhưng, hơn 1.000
cuộc đình công diễn ra suốt 10 năm qua, đặc biệt, những cuộc đình công tự phát gần đây đều
không thực hiện đúng theo quy trình này và hầu hết không có sự tham gia của tổ chức công
đoàn
Một cuộc đình công được coi là hợp pháp khi diễn ra theo đúng trình tự: Gửi đơn kiến
nghị lên chủ doanh nghiệp; khi không thoả thuận được thì báo cáo lên trọng tài lao động;
sau khi trọng tài lao động hoà giải không được thì lúc ấy phải lấy ý kiến tập thể công nhân
để tổ chức đình công… Tất cả các công đoạn này đều do tổ chức công đoàn trong doanh
nghiệp thực hiện. Thế nhưng, hơn 1.000 cuộc đình công diễn ra suốt 10 năm qua, đặc biệt,
những cuộc đình công tự phát gần đây đều không thực hiện đúng theo quy trình này và hầu
hết không có sự tham gia của tổ chức công đoàn. Điều này không chỉ cho thấy một số điểm
trong Luật của chúng ta chưa sát với thực tế, mà còn phản ánh một thực tế khác: vai trò của
tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, ngày
càng mờ nhạt. Ông Nguyễn Bá Linh, Chủ tịch công đoàn ngành công nghiệp Hải Phòng,
thừa nhận: "Cán bộ công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp chưa đi sâu đi sát, chưa nắm được
đầy đủ tâm tư nguyện vọng của người lao động nên không kịp phản ứng khi bức xúc lên đến
cao trào”( .theo báo VOV new)
Một cuộc điều tra do Viện Khoa học xã hội thực hiện tại 24 doanh nghiệp cho thấy, chỉ
có 16% người lao động cảm thấy công đoàn có vai trò trong giải quyết tranh chấp. Trong lúc
lãnh đạo doanh nghiệp chưa nắm bắt kịp thời tâm tư người lao động thì tổ chức công đoàn
cơ sở lại chưa đủ sức với vai trò là người đại diện duy nhất cho quyền lợi công nhân ở
doanh nghiệp để cùng thảo luận, bàn bạc với chủ doanh nghiệp về những kiến nghị của công
nhân, thậm chí có những phát ngôn không đúng…
Không chỉ có bộ máy công đoàn trong các doanh nghiệp còn yếu, mà ngay cả đội ngũ cán
bộ ở nhiều liên đoàn lao động cấp tỉnh, thành phố cũng thể hiện sự thiếu am hiểu về pháp
luật, do vậy không thể tư vấn đầy đủ cho các cấp công đoàn cơ sở cũng như người lao động
về chế độ, chính sách, trình tự luật pháp mà các cuộc đình công cần tuân thủ.
Trong rất nhiều trường hợp, chủ tịch công đoàn là người chủ lao động đưa ra, chứ không
lao động).
Trong một bài báo cáo kết quả khảo sát thực tế của viện công nhân và công đoàn năm
2009 về tình hình quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong
phần đánh giá về hoạt đọng của công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp đã cho ta thấy vai
trò rất mờ nhạt của công đoàn trong các tranh chấp của công nhân với giới chủ và công nhân
đang dần mất lòng tin đối với công đoàn, cụ thể là: Qua điều tra tỷ lệ lao động gia nhập
Công đoàn trong các doanh nghiệp nước ngoai đã thành lập công đoàn cơ sở cho thấy: có
59,3% lao động gia nhập công đoàn. Tỷ lệ này là khá thấp so với tỷ lệ chung các loại hình
doanh nghiệp trên cả nước. Kết quả đáng lưu ý là, khi được hỏi về việc có muốn tham tổ
chức Công đoàn hay không nếu chưa là đoàn viên, chỉ có 28,3% lao động trong doanh
nghiệp nước ngoài khẳng định “có muốn”; tỷ lệ nói không chiếm 5,9% và 53,3% lao động
không trả lời. Qua đây cho phép ta khẳng định, hoạt động của nhiều công đoàn cơ sở trong
các doanh nghiệp nước ngoài chưa thực sự hiệu quả, chưa thu hút được người lao động và
đoàn viên tham gia. Có 33,9% công nhân lao động đánh giá công đoàn cơ sở hoạt động có
hiệu quả. Tỷ lệ đánh giá chưa tốt, chưa hiệu quả là 23,1%, còn nặng về hình thức là 6,7% và
bị áp đặt, lệ thuộc là 16,2%. Một điều đáng chú ý ở các doanh nghiệp này đó là việc thu phí
của các đoàn viên chỉ để thăm hỏi hiếu hỷ cho đoàn viên công đoàn mà không hề dùng cho
các hoạt động khác, điều này cho thấy các hoạt động của công đoàn ở đây là rất hạn chế.
Còn có những công đoàn cơ sở không thu đoàn phí vì doanh nghiệp không nhất trí, điều đó
thể hiện việc công đoàn quá phụ thuộc vào các doanh nghiệp. Về tỷ lệ nhận biết của đoàn
viên về việc công đoàn thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ (48,3%) tham gia giải quyết
tranh chấp lao động (33%). Đó là con số rất hạn chế về hoạt động của công đoàn.
Từ những báo cáo trên cho ta thấy một điều hoạt động của công đoàn tại các công ty có
vốn nước ngoài là khá mờ nhạt nhất là trong việc giải quyết tranh chấp lao động. Và thực tế
từ các cuộc đình công là việc công nhân chủ yếu đình công ở các công ty có vốn đầu tư
nước ngoài, đáng lẽ ra tại những nơi này tổ chức công đoàn phải hoạt động mạnh, có tiếng
nói để bảo vệ cho người lao động nước mình nhưng công đoàn đã không làm được thế và
đôi khi lại lệ thuộc quá nhiều vào người chủ.
Trong thời gian gần đây hoạt động công đoàn cũng có một số chuyển biến tích cực như
việc một số công đoàn đôc lập tại một số doanh nghiệp đã ra đời nhưng nhìn chung hoạt
đó, đề án này sẽ rất khó hiện thực.
Thứ hai, luật pháp của Việt Nam chưa đồng bộ và việc thực hiện chưa nghiêm.
• Luật pháp của Việt Nam chưa đồng bộ và việc thực hiện chưa nghiêm nên phía
chủ sử dụng lao động thường biết luật nhưng vẫn vi phạm pháp luật. Theo Luật
Đầu tư nước ngoài tại ViệtNam: “Người sử dụng lao động, người lao động
Việt Nam và người lao động nước ngoài phải tuân thủ các quy định của pháp luật
lao động và pháp luật có liên quan; tôn trọng danh dự, nhân phẩm và phong tục
của nhau”. Tuy nhiên, chủ sử dụng lao động thường vi phạm pháp luật lao động
như không ký thỏa ước lao động tập thể, không ký hợp đồng lao động hoặc hợp
đồng lao động ngắn hạn để trốn tránh một số nghĩa vụ theo pháp luật đối với
người lao động; xây dựng chế độ tiền lương thấp trong khi định mức lao động lại
quá cao, thanh toán không đầy đủ chế độ phụ cấp, chế độ làm thêm giờ, chậm trả
lương, không giải quyết chế độ tiền thưởng, thậm chí có nơi chủ quản lý còn xúc
phạm nhân phẩm của người lao động….
• Vấn đề đặt ra là tại sao có hiện tượng nhiều doanh nghiệp biết rõ pháp luật
Việt Nam, nhưng vẫn cố tình vi phạm. Một trong những nguyên nhân cơ bản là
việc xử lý quá nhẹ tay, việc chế tài xử phạt các doanh nghiệp vi phạm pháp luật
lao động chưa đủ tính răn đe, nhiều nơi việc thực thi pháp luật chưa
nghiêm, chính quyền còn nương nhẹ, thiếu cương quyết trong xử lý vi phạm pháp
luật lao động dẫn đến doanh nghiệp xem thường và không ngại tái phạm.
.
• Đối với các doanh nghiệp FDI, cán bộ Công đoàn cơ sở cũng là người làm thuê
nhận lương từ giới chủ, do đó, họ cũng có tâm lý như nhiều công nhân khác: sợ bị
cắt lương, thưởng; sợ không hoàn thành nhiệm vụ được giao; sợ bị chủ trù dập, sợ
mất việc làm… trong khi luật chưa có qui định cụ thể bảo vệ quyền lợi cho cán
bộ Công đoàn khi họ gặp những trường hợp như vậy. Do đó, cán bộ Công đoàn
khó có thể làm tốt chức năng đại diện, bảo vệ, đấu tranh đòi quyền lợi cho người
lao động dù trong đó có một phần quyền lợi của chính mình.
Thứ ba, trình độ văn hóa của công nhân lao động thấp.
Trình độ văn hóa của công nhân lao động trong các doanh nghiệp , đặc biệt là
tiêu đào tạo, bồi dưỡng. Mục tiêu là đào tạo ra một đội ngũ cán bộ Công đoàn cơ sở có
trình độ học vấn, hiểu biết về luật pháp, bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng giao
tiếp một phần hay nhiều ngoại ngữ, có kỹ năng đàm phán, thương lượng, có tâm huyết,
nhiệt tình và biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo những kiến thức kỹ năng về hoạt
động Công đoàn phù hợp với các điều kiện tình hình riêng của đơn vị cũng như bối cảnh
chung của xã hội.
Về quản lý Nhà nước: Để tổ chức Công đoàn cơ sở làm tốt chức năng và nhiệm vụ của
mình, về phía Nhà nước cần có những hỗ trợ cần thiết để Công đoàn có điều kiện thuận lợi
hơn trong quá trình hoạt động, cụ thể là:
• Nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Tất cả các chế
độ chính sách liên quan đến quyền và lợi ích của người lao động đều phải đưa vào
luật hoặc văn bản dưới luật. Tiếp tục sửa đổi bổ sung pháp luật về giải quyết tranh
chấp lao động và đình công. Điều chỉnh bổ sung Luật Công đoàn cho phù hợp với
tình hình, điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay.
• Xây dựng cơ chế thương lượng cho Công đoàn cụ thể bằng văn bản có hiệu lực
của Nhà nước, xây dựng cơ chế đối thoại ba bên: công đoàn, lãnh đạo doanh
nghiệp và người lao động, để các bên hiểu và thông cảm nhau hơn.
• Đối với cán bộ Công đòan cần được thể chế hóa ở một số khía cạnh sau: quy chế
bảo vệ cán bộ Công đoàn tránh trường hợp cán bộ Công đoàn vì đấu tranh bảo vệ
quyền lợi cho công nhân lao động mà bị trù dập, mất việc làm; chế độ lương, phụ
cấp cho cán bộ Công đoàn hoạt động chuyên trách và kiêm nhiệm; cán bộ Công
đoàn hết nhiệm kỳ thì doanh nghiệp có trách nhiệm bố trí, sắp sếp lại chức vụ và
công việc phù hợp; hằng năm cán bộ Công đoàn được tham gia các khóa học - tập
huấn về chuyên môn do Công đoàn cấp trên hay cơ quan chức năng mở mà vẫn
được hưởng lương cùng các chế độ khác.
Đối với công nhân, người lao động: Phải có ý thức tự rèn luyện mình nhằm nâng cao
trình độ văn hóa, tay nghề, kiến thức pháp luật, ngoại ngữ và bản lĩnh chính trị; Sống và làm
việc có kỷ luật, có tác phong công nghiệp, gắn bó với doanh nghiệp và có ý thức xây dựng và
phát triển doanh nghiệp vì doanh nghiệp phát triển thì đời sống của công nhân lao động cũng
đựơc chăm lo đầy đủ hơn, lương thưởng cao hơn; Tích cực tham gia vào các hoạt động của
• Bài “ Đình công bất hợp pháp có dấu hiệu gia tăng Vai trò của công đoàn ở đâu?” của
Bảo Chân . />doan-o-dau.htm
• SỔ TAY CÔNG ĐOÀN >> Tháng 6 năm 2010 >> “Công đoàn Việt Nam trong thực hiện chức năng bảo vệ
lợi ích của người lao động” />malsp=10336&masp=1033341
• Vai trò của công đoàn đối với công nhân tại Việt Nam hiện nay.Gia Minh, phóng viên
đài RFA.
/>20061020.html
• Vai trò của công đoàn trong các cuộc đình công. />doan-trong-cac-cuoc-dinh-cong/20063/28341.vov
Các bài nghiên cứu
• Viện Công nhân và Công đoàn.Báo cáo kết quả khảo sát thực tế Về quan hệ lao động
trong
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài