Bộ t pháp
Viện khoa học pháp lý Đề tài KHOA HọC CấP Bộ
Đổi mới công tác đào tạo, bồi dỡng
đội ngũ công chức t pháp địa phơng
7524
22/10/2009
Hà Nội, 2007 Bộ t pháp
Viện khoa học pháp lý
Đề tài khoa học cấp bộ
đổi mới công tác đào tạo, bồi dỡng
đội ngũ công chức t pháp địa phơng Ban chủ nhiệm đề tài:
Trần Văn Quảng Chủ nhiệm
Vũ Văn Quý Phó Chủ nhiệm
Vũ Thị Hờng Th ký
Trần Thu Hờng Th ký
2. Đặc điểm của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa
phương
24
Phần thứ hai: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ
CÔNG CHỨC TƯ PHÁP ĐỊA PHƯƠNG
33
I. Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng 33
1. Công tác xây d
ựng quy hoạch, kế hoạch 33
2. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng 36
3. Chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng 36
4. Hình thức đào tạo, bồi dưỡng 41
5. Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng 42
6. Giảng viên 42
7. Cơ sở vật chất, kỹ thuật 43
II. Đánh giá về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa
phương
44
1. Đánh giá 44
1.1. Nh
ững ưu điểm, kết quả 44
1.2. Những hạn chế 46
2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 50
Phần thứ ba: PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC TƯ PHÁP ĐỊA PHƯƠNG
53
I. Mục tiêu và yêu cầu 53
1. Mục tiêu chung 53
2. Mục tiêu cụ thể 53
3. Yêu cầu 54
91
3. Đổi mới, hoàn thiện chương trình, giáo trình và ph
ương pháp đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ công chức tư pháp địa phương
Vũ Thị Hường - Vụ Tổ chức cán bộ
110
4. Đổi mới công tác đào tạo Trung học pháp lý đối với cán bộ, công chức tư pháp địa
phương
Ths Phan Xuân Trường - Trường Đại học Luật Hà Nội
120
5. Phương hướng đổi mới quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chứ
c tư
pháp địa phương
TS Trần Quang Minh - Vụ Đào tạo, Bộ Nội vụ
132
6. Phương hướng đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức chuyên
môn, nghiệp vụ ở địa phương
TS Trần Quang Minh - Vụ Đào tạo, Bộ Nội vụ
158
7. Bồi dưỡng kỹ năng xây dựng, thẩm định và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
cho đội ngũ
cán bộ tư pháp địa phương - Thực trạng và phương hướng đổi mới
TS Lê Hồng Sơn - Cục Kiểm tra VBQPPL
167
8. Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng thi hành án dân sự cho cán bộ, công chức
tư pháp địa phương - thực trạng và phương hướng đổi mới
Ths Nguyễn Thanh Thuỷ - Cục Thi hành án dân sự
178
5
16. Công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tư pháp ở Vĩnh Long - Thực trạng và
phương hướng đổi mới
Sở Tư pháp Vĩnh Long
278
PHỤ LỤC
1. Thống kê các lớp đào tạo, bồi dưỡng dành cho đội ngũ công chức tư pháp địa
phương
290
2. Chương trình khung bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức Tư pháp - Hộ tịch xã,
phường, thị trấn
300
3. Báo cáo tổng hợp k
ết quả hội thảo về đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
công chức tư pháp địa phương
304
4. Tổng hợp tình hình thực hiện Quyết định số 74/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước giai đoạn
2001-2005
309
6
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành, đội ngũ công chức các cơ quan tư
pháp địa phương bao gồm Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
(cấp tỉnh), Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp
chuyên môn.
Những năm qua, để củng cố, kiện toàn đội ngũ công chức tư pháp địa
phương, công tác đào tạo, bồi dưỡng đã được đẩy mạnh, nhưng nhìn chung
chưa đáp ứng được với yêu cầu nâng cao chất lượng, năng lực, trình độ của đội
7
ngũ cán bộ. Thực tế, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vẫn bị coi là thứ yếu,
chi phí tốn kém mà chưa thực sự được coi là một giải pháp then chốt cho việc
nâng cao trình độ, năng lực cán bộ. Ở một số địa phương, công tác này còn
mang tính chất tình thế, chưa có quy hoạch, kế hoạch cụ thể. Nội dung, chương
trình đào tạo, bồi dưỡng dành cho cán bộ, công chức ch
ưa được xây dựng
thống nhất, có hệ thống và phù hợp với năng lực của cán bộ và đặc thù của từng
nơi, từng giai đoạn. Hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng chưa linh hoạt
và chậm được đổi mới. Thêm vào đó là khó khăn về thiếu giảng viên, thiếu
kinh phí và cơ sở vật chất phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng.
Ngh
ị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị xác định
phương hướng cải cách tư pháp tới năm 2020 là “xây dựng đội ngũ cán bộ tư
pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp theo hướng nâng
cao và cụ thể hoá tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất đạo đức, chuyên môn
nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ”. Chiến
lượ
c cán bộ thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mà Nghị quyết Hội
nghị Trung ương lần thứ Ba (Khoá VIII) đã đề ra và chỉ rõ: học tập là quyền lợi
và nghĩa vụ của cán bộ, công chức, “mọi cán bộ, công chức phải có kế hoạch
thường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn và năng
lực hoạt động thực tiễn, bồi dưỡng đạ
o đức cách mạng”. Thể chế hoá và triển
khai thực hiện các chủ trương nói trên, chương trình cải cách tổng thể nền hành
pháp địa phương” là hết sức cần thiết nhằm góp phần tăng
cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương đáp
ứng với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá khái quát về đội ngũ cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ công chức tư pháp địa phương: nhữ
ng ưu điểm, kết quả đạt được, những
hạn chế, bất cập; tìm ra nguyên nhân của những tồn tại, bất cập.
- Xác định được mục tiêu, định hướng và những giải pháp cơ bản để đổi
mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương đáp
ứng với yêu cầu thực hiện nhiệ
m vụ trong giai đoạn mới.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đội ngũ cán bộ công tác tại các cơ quan tư pháp địa phương đang đảm
nhận công việc khác nhau, trong đó có những nhiệm vụ công tác tư pháp và
những công việc hỗ trợ như kế toán, văn thư, thủ quỹ Tuy nhiên, đội ngũ
công chức tư pháp địa phương được xác định thuộc phạm vi nghiên cứu của đề
tài này là những cán bộ đang trực tiếp thực hiện những công việc liên quan đến
pháp luật, bao gồm:
- Đội ngũ cán bộ thuộc các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân,
giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa
phương, bao gồm: Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp - Hộ
tịch.
- Đội ngũ cán bộ thuộc các cơ quan thi hành án địa phương gồm thi hành
án cấp tỉnh và thi hành án cấ
p huyện.
9
4. Nhu cầu kinh tế - xã hội và địa chỉ áp dụng
Việc nghiên cứu đề tài đã phục vụ có hiệu quả cho việc xây dựng các
ụ Tổ chức cán bộ
10
Phần thứ nhất
CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC TƯ PHÁP ĐỊA PHƯƠNG
I/ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC TƯ PHÁP ĐỊA PHƯƠNG
1. Vị trí, vai trò của đội ngũ công chức tư pháp địa phương
Với vai trò là người trực tiếp thực thi pháp luật, là nhân tố quyết định đến
chất lượng, hiệu quả hoạt động và uy tín của ngành tư pháp, đội ngũ công chức
của ngành Tư pháp nói chung và đội ngũ công chức tư pháp địa phương trong
hơn 60 năm xây dựng và phát triển đã đóng góp tích cực vào việc đưa chủ
trươ
ng, đường lối, chính sách của Đảng vào thực tiễn cuộc sống, góp phần thực
hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị - xã hội của địa phương và bảo đảm sự
thống nhất quản lý của ngành Tư pháp từ trung ương tới cơ sở.
Theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003,
Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2005, Nghị định số 171/2004/NĐ-CP và
Nghị
định số 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 của Chính phủ quy định tổ
chức các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Uỷ ban nhân
dân cấp huyện, Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ
quy định về cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và Nghị định số
121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ quy định về chế độ, chính
sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấ
n, Nghị định số
50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 của Chính phủ quy định về cơ quan quản lý
thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và cán bộ, công chức làm công
tác thi hành án dân sự thì đội ngũ công chức tư pháp ở địa phương bao gồm:
Xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi trước hết phải có một hệ thống
pháp luật hoàn chỉnh với vai trò tối thượng của các đạo luật. Với nhiệm vụ giúp
Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lý công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật, đội ngũ công chức thuộc Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức Tư
pháp - Hộ tịch ở cấp xã góp phần vào việc bảo đảm sự th
ống nhất, tính hợp
hiến, hợp pháp của các văn bản trong hệ thống pháp luật thông qua các hoạt
động sau:
- Thẩm định, cho ý kiến về mặt pháp lý đối với các dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân và Hội đồng nhân dân trong các lĩnh vực;
- Chủ trì hoặc tham gia soạn thảo các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
trong lĩnh vực công tác tư pháp được phân công quản lý hoặc các l
ĩnh vực khác
do Uỷ ban nhân dân giao;
- Hướng dẫn rà soát, hệ thống hoá văn bản pháp luật trong các lĩnh vực;
- Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm
quyền theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện và kịp thời khắc phục các
sai phạm trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực.
12
Hai là, nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật qua công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật của các cơ quan tư pháp, nâng cao năng lực tiếp cận hệ thống
pháp luật, hệ thống tư pháp.
Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý xã hội, là công cụ thực hiện
quyền làm chủ và thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân. Để đáp ứng với
yêu cầu này, cùng với việc xây dựng, hoàn thiệ
n hệ thống pháp luật là việc phổ
biến, giáo dục pháp luật, nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật của nhân dân
nhằm hướng tới mục tiêu pháp luật được thực hiện có hiệu quả, hiệu lực trong
cuộc sống. Từ đó nhân dân có thể tiếp cận với pháp luật, ứng xử thích hợp
13
dân có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những
người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh thi hành”. Bản án, quyết định của
Toà án có được thi hành hay không liên quan trực tiếp đến tính nghiêm minh
của hệ thống pháp luật, chứng tỏ kỷ cương, phép nước được giữ vững. Đội ngũ
công chức của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện đang trực tiếp
tham gia vào việc thi hành án, bảo đảm cho bản án đã có hiệu lực pháp luật
được thi hành trên thực tế, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, cơ quan, tổ chức. Cùng với những cán bộ thuộc cơ quan thi hành án dân
sự, đội ngũ công chức của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp đang thực hiện nhiệ
m
vụ giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lý công tác thi hành án dân sự trên địa
bàn với việc làm đầu mối để nâng cao hiệu quả phối hợp giữa cơ quan thi hành
án với các cơ quan có liên quan ở địa phương trong công tác thi hành án dân sự.
Đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch, theo sự hướng dẫn của cơ quan thi hành
án cấp trên còn tham gia trực tiếp vào việc thi hành các bản án có giá trị dưới
500.000 đồng. Thực tiễn cho thấy, bảo đảm bả
n án được thi hành nghiêm chỉnh
có ý nghĩa quyết định đến uy tín của ngành Tư pháp và niềm tin của người dân
với pháp luật, lẽ phải và công lý.
Đồng thời, đội ngũ công chức tư pháp địa phương còn là những người trực
tiếp thực thi các quy định của pháp luật về công tác tư pháp trong các lĩnh vực
công chứng, chứng thực, đăng ký hộ tịch, qua đó bảo đảm quyền và lợi ích
chính đáng củ
a công dân, của tổ chức và cá nhân cũng như góp phần thúc đẩy
sự phát triển lành mạnh của các quan hệ dân sự, kinh tế trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, tham gia tích cực vào quá trình quản lý nhà nước bằng pháp luật
n đạo đức, phẩm chất và bản lĩnh chính trị nhằm đáp ứng với yêu cầu xây
dựng đội ngũ công chức tư pháp trong sạch, vững mạnh, hiện đại và chuyên
nghiệp theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 18/5/2005 của Bộ Chính trị về
Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định
hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
2. Thực trạng năng lực của đội ngũ công chức tư pháp địa phương
2.1. Đội ngũ công chức cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện
Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án dân sự đã
có bước phát triển mạnh về số lượng. Tính đến tháng 6/2006, các cơ quan thi
hành án dân sự địa phương đã có 6.823 cán bộ
, trong đó có 2.274 chấp hành
viên (không kể số chấp hành viên trong quân đội), gồm có 342 chấp hành viên
cấp tỉnh và 1.932 chấp hành viên cấp huyện. So với thời điểm 6/2005 thì số
lượng cán bộ của cơ quan thi hành án dân sự đã tăng 11,9% (714 người), số
lượng chấp hành viên tăng 4,6% (15người)
1
. Phần lớn số cán bộ được bổ nhiệm
chấp hành viên đều bảo đảm tiêu chuẩn, có trình độ Đại học Luật hoặc tương
đương. 1
Nếu so sánh với thời điểm tháng 12/2002 thì số lượng cán bộ của cơ quan thi hành dán dân sự địa phương đã
tăng hơn 50%; số lượng chấp hành viên tăng 9,3%. Nếu so sánh với 700 chấp hành viên lúc chuyển giao công
tác thi hành án dân sự sang Bộ Tư pháp quản lý thời điểm năm 1993 thì số lượng châp shành viên đã tăng 1574
người (gấp hơn 2 lần).
15
- Về trình độ: Trong tổng số 6.823 cán bộ thuộc cơ quan thi hành án thì
Mặc dù trình độ chuyên môn của
đội ngũ chấp hành viên đã từng bước
được nâng lên, nhưng kỹ năng nghiệp vụ, kinh nghiệm, năng lực thực tiễn của
đội ngũ chấp hành viên và cán bộ làm công tác thi hành án vẫn còn bộc lộ
nhiều hạn chế trước tính chất phức tạp ngày càng gia tăng của công tác thi hành
án, đặc biệt là các vụ án kinh tế lớn, có phạm vi và đối tượng thi hành án rộng,
liên quan đến nhiều lĩnh vực.
16
Một bộ phận chấp hành viên và cán bộ làm công tác thi hành án còn thiếu
tận tụy, có những biểu hiện tiêu cực, vi phạm pháp luật trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ như tham ô, nhận hối lộ, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho đương
sự (gợi ý xin tiền bồi dưỡng, tự định ra thời hạn thi hành án trái pháp luật, tiếp
xúc với đương sự tại nhà riêng…) làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với
pháp luật và các cơ
quan thực thi pháp luật. Từ năm 1993 đến năm 2002, Bộ
Tư pháp đã xử lý 493 trường hợp Chấp hành viên và cán bộ thi hành án vi
phạm kỷ luật. Thực tế này đòi hỏi bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thì cần thiết phải có biện pháp bồi dưỡng, giáo
dục, nâng cao bản lĩnh và ý thức trách nhiệm đối với đội ngũ cán bộ cơ quan thi
hành án dân sự
.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chấp hành viên trong một thời gian
dài chưa được thực hiện thường xuyên và có nền nếp. Hàng năm, mới chỉ được
thực hiện với đội ngũ chấp hành viên trưởng và những chấp hành viên mới
được bổ nhiệm. Các đối tượng khác thì giao lại cho Trưởng thi hành án cấp tỉnh
tổ chức tập huấn tại địa phương. Do vậy, có lúc, có nơi, m
ột số địa phương,
công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa được chú trọng, có địa phương trong gần 10
năm chỉ tổ chức tập huấn nghiệp vụ được 01 lần cho Chấp hành viên và cán bộ
đảm nhận công tác Tư pháp - Hộ tịch. Việc tăng cường về số lượng đã giúp cho
đội ngũ công chức tư pháp địa phương hoàn thành các nhiệm vụ được giao,
khẳng định vị trí, vai trò của mình trong bộ máy nhà n
ước nói chung và trong tổ
chức chính quyền địa phương nói riêng.
- Trình độ cán bộ từng bước được nâng cao trên các mặt chuyên môn
nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ, từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ có tính
chuyên môn hoá và chuyên nghiệp.
Trong những năm qua, nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ đã được thực hiện như tuyển dụng những người có đủ điều kiện, tiêu
chuẩn, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức… Nhờ đó, đội
ngũ công chức các cơ quan tư pháp địa phương đã có sự thay đổi quan trọng,
từng bước đáp ứng tiêu chuẩn chức danh cũng như yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.
Nếu như năm 1996, khoảng 50% đội ngũ cán bộ, công chức của Sở Tư pháp và
30-35% cán bộ, công chức Phòng Tư pháp có trình
độ đại học, cao đẳng luật,
thì đến năm 2004, tỷ lệ này tăng lên là 67,4% đối với Sở Tư pháp và 59,7% đối
với Phòng Tư pháp. Đối với đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã, nếu
như năm 2000, tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn từ Trung học (bao gồm tất
cả các chuyên ngành) trở lên là 31%, trong đó có 18,3% cán bộ có trình độ
chuyên môn Luật từ Trung học trở lên thì đến
đầu năm 2006, tỷ lệ này đã là
67,6% và 57%. Số lượng cán bộ cấp xã đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ đạt 81,9%.
Công tác đào tạo tin học, ngoại ngữ được quan tâm. Đến nay, đa số các công
chức của Sở Tư pháp đã qua đào tạo tin học và có thể khai thác, sử dụng máy
tính trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
- Phần lớn đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành v
ới
Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, trong sạch, lành mạnh, có năng lực chuyên
môn, ý thức tinh thần trách nhiệm để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được
ệc và khó có thể tham gia các khoá đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ dài hạn.
Chất lượng đội ngũ cán bộ chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, đặc biệt
là đội ngũ cán bộ Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã với hơn 30% cán bộ chưa có trình
độ Trung học Luật. Cá biệt có thời điểm (có sự thay đổi nhân sự theo nhiệm kỳ
của Hộ
i đồng nhân dân), số lượng công chức Tư pháp - Hộ tịch có trình độ đạt
tiêu chuẩn chỉ đạt tỷ lệ 50%, có tỉnh chỉ ở mức 30% . Đội ngũ cán bộ tư pháp
tuy được đào tạo cơ bản, nhưng việc bồi dưỡng, cập nhật kiến thức và bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời nên
đã ảnh hưở
ng một phần đến chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được
giao. Cán bộ Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã thường không ổn định và chưa đáp
ứng được với yêu cầu nhiệm vụ. Thực tế, một bộ phận không nhỏ cán bộ Tư
pháp - Hộ tịch sau khi được Sở Tư pháp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực
19
thì số cán bộ này lại được điều sang nhận công tác khác. Cán bộ thay thế một
phần không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, một phần không có kinh nghiệm làm
công tác tư pháp nên gây khó khăn không nhỏ đối với hoạt động tư pháp, khó
khăn trong công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tư pháp.
Sau một thời gian không ổn định về tổ chức, đến nay, Phòng Tư pháp cấp
huyện đ
ã được thành lập lại và củng cố tổ chức, kiện toàn đội ngũ cán bộ. Tuy
nhiên, thực tế ở các Phòng Tư pháp cấp huyện mới được thành lập lại có tình
trạng cán bộ thiếu kinh nghiệm, thực tiễn công tác, chưa được bồi dưỡng
nghiệp vụ tư pháp, cá biệt còn có trường hợp chưa đáp ứng được tiêu chuẩn
chức danh. Bên cạnh đó, do tổ chức Phòng Tư pháp không
ổn định nên đội ngũ
cán bộ tư pháp cấp huyện không được quan tâm đầu tư thoả đáng, trong đó có
nhằm xây dựng đội ngũ công chứng viên có đầy đủ năng lực, giỏi về chuyên
môn, nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt, vô tư, khách quan, tận tuỵ với công
việc.
Để tạo nguồn cán bộ, bổ sung cho đội ngũ công chứng viên, trong thời
gian qua, 6 lớp đào tạo công chứng viên đã
được tổ chức với sự tham gia của
300 người, đa số là các chuyên viên nghiệp vụ Phòng Công chứng, ngoài ra, có
một số người đang công tác trong ngành tư pháp được Sở Tư pháp cho đi học
lớp đào tạo công chứng viên để tạo nguồn.
Hạn chế của đội ngũ công chứng viên đó là một tỷ lệ không nhỏ công
chứng viên có bằng Đại học hệ chuyên tu, tại chức (212 người - chi
ếm 53,5%).
Đây là vấn đề cần lưu ý khi thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng nhằm khắc phục
những tồn tại hạn chế của loại hình đào tạo, chú trọng kịp thời đến việc bổ
sung, cập nhật các kiến thức cần thiết cho cán bộ.
Công chứng viên là một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ cần phải được
khuyến khích công tác lâu dài, ổn đị
nh, nhưng một số Sở Tư pháp đã đặt vấn đề
chuyển công chứng viên sang làm công việc khác, ảnh hưởng đến hoạt động
chuyên môn và khó khăn trong việc thực hiện quy hoạch, đào tạo nghề cho cán
bộ nguồn và bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ.
II/ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC TƯ PHÁP
ĐỊA PHƯƠNG
Đào tạo và bồi dưỡng là hai khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong
đời sống xã hội, có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành và phát triển nguồn
nhân lực - nguồn tài nguyên quý của quốc gia. Xuất phát từ quan điểm coi cán
bộ là nhân tố hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của cách
mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng và của nhà nước. Ch
ủ tịch Hồ Chí Minh
nêu rõ “kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ”
4
.
1. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng
1.1. Khái niệm đào tạo
Đào tạo được hiểu là “việc dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết,
có nghề nghiệp”
5
hoặc là “làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu
chuẩn nhất định”
6
. Đào tạo còn được hiểu là “một quá trình truyền thụ kiến
thức mới để cán bộ được thông qua đào tạo có văn bằng cao hơn trình độ trước
đó”
7
.
Theo các định nghĩa nói trên, có thể hiểu đào tạo là một quá trình truyền
thụ kiến thức mới để người được đào tạo lĩnh hội, nắm vững tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo một cách có hệ thống, theo một quy trình nhất định nhằm chuẩn bị cho
người đó thích nghi với cuộc sống, có khả năng nhận sự phân công lao động
nhất định, góp phầ
n vào việc phát triển xã hội. Đào tạo góp phần làm biến đổi
hành vi của con người một cách có hệ thống thông qua hoạt động giảng dạy
nhằm cung cấp, chuyển giao một khối lượng kiến thức nhất định, các giá trị văn
hoá, chuẩn mực xã hội cho người được đào tạo. Đó cũng là quá trình học tập
của con người để có kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng làm vi
ệc trong một lĩnh
vực nhất định.
Đặc điểm cơ bản của đào tạo đó là:
- Quá trình học tập có hệ thống. Đào tạo được tổ chức theo một quy trình cụ
.
Như vậy có thể hiểu bồi dưỡng là quá trình học tập nâng cao trình độ hiểu
biết, tư cách đạo đức, phẩm chất chính trị của người được bồi dưỡng. Bồi
dưỡng nhằm mục đích bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ
năng nghề nghiệp trên cơ sở kiến thức đã được đào tạo bồi dưỡng trước đó.
Đi
ểm khác biệt giữa bồi dưỡng với đào tạo là bồi dưỡng chưa tạo được
bước ngoặt căn bản về trình độ, kỹ năng nghề nghiệp của đối tượng được bồi
dưỡng. Tuy nhiên, bồi dưỡng thường đáp ứng được ngay yêu cầu cập nhật kiến
thức mới, bổ sung tri thức làm cho người được bồi dưỡng có thể tiếp c
ận và vận
dụng kịp thời vào thực tiễn để thực thi có hiệu quả nhiệm vụ được giao.
1.3. Các yếu tố cấu thành của “đào tạo, bồi dưỡng”
- Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng là người cần trang bị hoặc nâng cao năng
lực, trình độ. Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng giữ vai trò trung tâm để các cơ quan
quản lý và thực hiện đào t
ạo xác định mục tiêu, nội dung, chương trình cũng như
áp dụng các phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp.
- Nội dung đào tạo, bồi dưỡng là những kiến thức, kỹ năng được truyền tải
đến cho đối tượng đào tạo, bồi dưỡng. Nội dung được thể hiện cụ thể trong kế
hoạch đào tạo, chương trình đào tạo, giáo trình, giáo án và các tài liệu gi
ảng
dạy khác.
- Hình thức đào tạo, bồi dưỡng là cách thức tổ chức tiến hành đào tạo, bồi
dưỡng, có thể diễn ra dưới hình thức tập trung, chính quy, tại chức, từ xa… 8
Đại từ điển tiếng Việt, Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam, NXB Văn hoá thông tin, 1998, tr 191
9
Mục
tiêu
Đối
tượng
Hình
thức
Nội
dun
g
Cơ sở
VC-KT
Người
dạy
Phương
pháp
24
2. Đặc điểm của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư
pháp địa phương
Với ý nghĩa là quá trình nâng cao trình độ, năng lực hiểu biết, bổ sung
kiến thức cho người được đào tạo, bồi dưỡng là đội ngũ công chức thì đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương có những đặc điểm nh
chức Tư pháp - Hộ tịch là một bộ phận của đội ngũ công chức thuộc Uỷ ban
nhân dân cùng cấp. Theo đó, biên chế, chế độ, chính sách cán bộ do Uỷ ban
nhân dân cùng cấp quản lý và thực hiện theo quy định của pháp luật. Bộ Tư