CHƯƠNG IV
HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
Mục đích
- Giới thiệu về hệ thống tiền tệ quốc tế: khái niệm, các loại hệ thống tiền tệ quốc tế đã
tồn tại trong lịch sử
- Cung cấp cho sinh viên một số kiến thức cơ bản về tỷ giá hối đoái: khái niệm, các
phương pháp yết tỷ giá, các nhân tố ảnh hưởng và các phương pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái
1. Hệ thống tiền tệ quốc tế (HTTTQT)
1.1. Những vấn đề chung về hệ thống tiền tệ quốc tế
1.1.1. Khái niệm hệ thống tiền tệ quốc tế
Mỗi một quốc gia có một đồng tiền riêng biệt. Để giúp các nước trên thế giới có thể
tiến hành trao đổi buôn bán với nhau, cần có một hệ thống tiền tệ tạo điều kiện cho việc
chuyển đổi sức mua giữa các đồng tiền khác nhau của các nước khác nhau.
- Hệ thống tiền tệ quốc tế: HTTTQT là tập hợp các quy tắc, thể lệ và các tổ chức nhằm
tác động tới các quan hệ tài chính - tiền tệ quốc tế giữa các quốc gia trên thế giới.
- Hệ thống tiền tệ quốc tế: HTTTQT là một hệ thống các thủ tục nhằm thực hiện các
giao dịch thanh toán quốc tế giữa các nước dựa trên những nguyên tắc nhất định được các
nước chấp nhận và được đảm bảo bằng các hiệp định được ký kết chính thức.
- Mục đích hoạt động của HTTTQT: điều chỉnh các mối quan hệ tiền tệ quốc tế, bảo
đảm sự ổn định cho các mối quan hệ đó, từ đó tạo cơ sở cho các quan hệ kinh tế quốc tế nói
chung phát triển.
- Hai yếu tố cơ bản quy định sự hình thành và phát triển của một HTTTQT (2 yếu tố
đặc trưng phân biệt 1 HTTTQT này với một HTTTQT khác)
+ Chế độ tỷ giá hối đoái:
• Chế độ TGHĐ cố định
VD: Dưới chế độ bản vị vàng TGHĐ được quy định cố định căn cứ vào hàm lượng
vàng chứa trong tiền tệ hoặc khả năng chuyển đổi đồng tiền thành vàng.
4GBP = 1 ounce
35USD = 1ounce
132
tức là 1ounce=4GBP=35USD hay TGHĐ giữa GBP và USD là 1GBP = 8,75 USD.
133
1.2. Các hệ thống tiền tệ quốc tế
1.2.1. Hệ thống tiền tệ quốc tế thứ nhất – Chế độ bản vị vàng (Gold Standard System)
- Ra đời và phát triển trong thời kỳ 1867 - 1914
- Vàng được thừa nhận là tiền tệ thế giới (world currrency), được trao đổi tự do trên thế
giới, được dùng như là tiền tệ thanh toán duy nhất (cuối cùng) giữa các quốc gia và là phương
tiện dự trữ quốc tế chính thức.
- Chế độ TGHĐ cố định
+ Mỗi quốc gia sẽ phát hành tiền giấy của nước mình và đồng tiền đó được bảo đảm
bằng vàng.
+ Mỗi quốc gia sẽ công bố giá trị của đồng tiền nước mình qua hàm lượng vàng
VD: GBP có giá trị như sau: 7,3GBP = 1 ounce
USD có giá trị như sau: 35USD = 1 ounce
Nghĩa là 7,3 bảng Anh sẽ đổi được 1 ounce vàng và 1 ounce vàng có thể đổi lấy 35USD.
+ Tương quan giữa hàm lượng vàng của 2 đồng tiền được gọi là TGHĐ
+ Do hàm lượng vàng của mỗi đồng tiền là cố định (do giá trị của đồng tiền được tính
bằng một lượng vàng cố định) nên TGHĐ cũng cố định trong khuôn khổ chế độ bản vị vàng
cũng mang tính chất cố định.
VD: 1ounce = 7,3 GBP(Ê)
1 ounce = 35 USD ($)
TGHĐ giữa GBP và USD là 1GBP = 35/7,3 = 4,8$
- Phương tiện dự trữ: Vàng
- Với việc sử dụng vàng làm tiền tệ thế giới đã làm cho hoạt động buôn bán hàng hoá
gắn với việc vận chuyển vàng từ nước này sang nước khác (như ví dụ trên thì Anh phải vận
chuyển vàng sang Mỹ để bán đổi lấy USD). Khi CTTG2 bùng nổ làm cho việc vận chuyển
vàng trở nên khó khăn và đắt đỏ hơn. Vì vậy, đến cuối năm 1914, các quốc gia đã ngừng
chuyển đổi đồng tiền của mình ra vàng, áp đặt việc cấm xuất khẩu vàng để duy trì nguồn vàng
dự trữ của mình. Điều này đánh dấu sự sụp đổ của chế độ bản vị vàng.
1.2.2. Hệ thống tiền tệ quốc tế thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến: từ 1918 đến 1939
- HTTTQT giữa 2 cuộc thế chiến mang tính chất hỗn loạn
- Ngay trước khi CTTG 2 kết thúc, đại diện của 44 quốc gia đã nhóm họp tại Bretton
Wood, một vùng của New Hanmsphire (Mỹ) bàn về việc xây dựng một HTTTQT mới nhằm
135
thúc đẩy các quan hệ tiền tệ và TMQT. Kết quả của cuộc họp này là sự ra đời của IMF và WB,
hình thành HTTTQT mới với tên gọi là hệ thống Bretton Woods.
- Chế độ TGHĐ cố định
+ USD được coi là đồng tiền quốc tế, được đổi ra vàng theo hàm lượng vàng do chính
phủ Mỹ tuyên bố ở mức cố định là 1ounce = 35USD (1 ounce vàng = 3,035 gram vàng nguyên
chất).
+ Các quốc gia phải xác định giá trị đồng tiền nước mình trên cơ sở vàng và USD.
Chú ý rằng: khi 2 đồng tiền được xác định giá trị theo USD thì ta có thể tính được
TGHĐ giữa 2 đồng tiền đó.
VD: 2,5DEM = 1USD
240Ơ = 1USD
Ta có thể tính được TGHĐ giữa DEM và Ơ là: 96Ơ=1DEM
+ TGHĐ được xác định trên cơ sở so sánh với USD hoặc so sánh hàm lượng vàng
+ Các nước hội viên IMF phải duy trì giá trị tiền tệ của họ trong mức giá trị dao động
±1% so với mức TGHĐ cố định. Nếu có sự thay đổi về tỷ giá trên 1% thì phải được sự đồng ý
của IMF. Các quốc gia có thể thay đổi giá trị đồng tiền của nước họ so với USD và vàng
nhưng giá trị của USD phải được giữ cố định.
- Phương tiện dự trữ: vàng và USD nên còn được gọi là chế độ bản vị vàng- USD.
- Cuối những năm 60, nợ của chính phủ Mỹ tăng cao, vượt quá số dự trữ vàng, lạm
phát tăng, thâm hụt tăng… Các quốc gia khác tiến hành phá giá đồng tiền của mình so với
USD, làm cho thâm hụt trong cán cân thanh toán và sự thất thoát dự trữ vàng của Mỹ càng
căng thẳng hơn.
Vào 12/1971, Mỹ tuyên bố phá giá USD lần thứ nhất 8% so với vàng lên mức
38USD/ounce. Vào cuối tháng 2, đầu tháng 3/1973, chính phủ Mỹ tuyên bố phá giá USD lần
thứ hai xuống mức 42,22 USD/ounce [16; 523]. Từ đó, USD bị mất tín nhiệm, HTTTQT chao
đảo vì phụ thuộc vào USD. Dự trữ của các ngân hàng bằng USD bị mất giá. Hệ thống Bretton
Wood sụp đổ hoàn toàn vào 1973.
vị ngoại tệ là bao nhiêu, nó biểu thị có bao nhiêu lượng ngoại tệ bằng một đơn vị tiền tệ trong
nước.
• VD: Tại ngân hàng London công bố GBP/DEM = 1,4275
GBP/FRF= 4,8595
137
Với cách yết giá này, người Anh chưa trực tiếp biết được giá của 1 đơn vị ngoại tệ
DEM, FRF là bao nhiêu mà chỉ biết DEM thể hiện trên thị trường London là 1,4725DEM =
1GBP, nghĩa là mới thể hiện gián tiếp. Muốn tìm giá trị 1DEM, ta phải làm phép chia 1DEM
= 1/1,4275 = 0,7005GBP.
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
Quy ước trong bài giảng sử dụng phương pháp yết giá trực tiếp
2.2.1. Mức chênh lệch lạm phát giữa các quốc gia
- Trong điều kiện cạnh tranh, thông thường mức độ lạm phát của 2 nước nếu như khác
nhau sẽ dẫn đến giá cả hàng hoá ở cả 2 nước có sự biến động khác nhau, làm ngang giá sức
mua của 2 đồng tiền đó bị phá vỡ, tức là làm thay đổi TGHĐ.
2.2.2. Tình trạng cán cân thanh toán quốc tế
- CCTTQT của một nước trong một thời kỳ nhất định cho thấy một cách tổng hợp kết
quả của các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước đó.
- CCTTQT có thể cân bằng, thặng dư (thu>chi) hay thâm hụt (thu<chi). Tình trạng mất
cân đối trong CCTTQT sẽ ảnh hưởng đến cung cầu ngoại hối trên thị trường, do đó ảnh hưởng
đến TGHĐ
- Nếu CCTTQT thặng dư => thu > chi => dẫn đếnk khả năng cung ngoại hối > cầu
ngoại hối => giá trị đồng ngoại tệ giảm và nội tệ tăng =>TGHĐ giảm
- Nếu CCTTQT thâm hụt => tức là phản ánh nguồn chi ngoại hối của cán cân thanh
toán lớn hơn nguồn thu của nó => dẫn đến khả năng cung ngoại hối <cầu ngoại hối => giá trị
đồng ngoại tệ tăng, giá trị đồng nội tệ giảm => TGHĐ tăng
2.2.3. Mức chênh lệch lãi suất
- Khi mức lãi suất của một nước tăng lên một cách tương đối so với các nước khác
(trong điều kiện bình thường) thì sẽ thu hút được các nguồn vốn ngắn hạn của nước ngoài
chảy vào (vì lúc này giá trị của đồng nội tệ tăng, gửi tiền tiết kiệm sẽ có lợi hơn trước), làm
khoản lợi nhuận này thường được dùng để tái đầu tư hoặc mua hàng hoá trong nước giành cho
lần xuất khẩu sắp tới.
• khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào
• khuyến khích khách nước ngoài vào tham quan du lịch
+ Khi TGHĐ giảm xuống:
139
• Các khoản nợ nước ngoài tính bằng ngoại tệ mất giá, tăng khả năng trả nợ nước
ngoài.
• Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ có lợi nếu chuyển lợi nhuận ra nước ngoài
• Khuyến khích các nhà đầu tư trong nước đầu tư ra nước ngoài (xuất khẩu vốn)
• Khuyến khích du lịch ra nước ngoài
VD: Nhật Bản là nước luôn linh hoạt trong xử lý nền kinh tế trước sự thay đổi của
TGHĐ.
Với sức ép của Mỹ, Ơ lên giá so với USD.
1970: 1USD = 360Ơ
1980: 1USD = 240Ơ
1990: 1USD = 120Ơ
Khi Ơ lên giá sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu của Nhật Bản, trong khi vào những năm
1970-1990: nền kinh tế của Nhật Bản phát triển rất mạnh, hàng hoá được sản xuất ra nhiều,
nhu cầu xuất khẩu lớn.
Vậy Nhật Bản đã làm thế nào để hạn chế được ảnh hưởng xấu của sự lên giá của Ơ đối
với hoạt động xuất khẩu?
Nhật Bản đã thúc đẩy đầu tư sang Mỹ, từ đó giải quyết được tình trạng nền kinh tế quá
nóng.
2.4. Phương pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái
Trong nền sản xuất hàng hoá, TGHĐ chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố. Nhà nước có
thể áp dụng nhiều phương pháp để điều chỉnh TGHĐ, giữ cho TGHĐ ở mức phù hợp với mục
tiêu phát triển kinh tế của đắt nước và làm giảm những ảnh hưởng xấu của TGHĐ đến hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Các biện pháp thường dùng để điều chỉnh TGHĐ là chính sách chiết khấu, chính sách
dùng nội tệ mua ngoại hối vào (theo tỷ giá cao hơn TGHĐ hiện hành) nhằm nâng TGHĐ đến
mức có lợi cho nền kinh tế.
- Để thực hiện chính sách hối đoai, đòi hỏi Ngân hàng TW phải có dự trữ ngoại hối
thường xuyên và đủ lớn để can thiệp vào thị trường khi cần thiết
- Chính sách hối đoái thường được dùng nhiều hơn và hiệu quả cao hơn so với chính
sách chiết khấu vì nó có nhiều lợi thế hơn
+ Với chính sách chiết khấu, ngân hàng thường ở thế bị động vì muốn tăng hay giảm tỷ
suất chiết khấu không phải lúc nào cũng thực hiện được.
141
Với chính sách hối đoái, ngân hàng ở thế chủ động hơn. Việc mua và bán phụ thuộc
vào yêu cầu và mức điều chỉnh TGHĐ.
+ Chính sách chiết khấu: không thể vận dụng một cách liên tục, thường xuyên.
Chính sách hối đoái: linh hoạt hơn, có thể thay đổi giá mua và giá bán theo thị trường.
2.4.3. Phá giá tiền tệ (Devaluation)
- Phá giá tiền tệ là sự đánh tụt sức mua của tiền tệ nước mình so với ngoại tề hay là sự
nâng cao chính thức chính thức TGHĐ của một đơn vị ngoại tệ.
- Phá giá tiền tệ là một việc làm bất đắc dĩ, khi mức độ mất giá của đồng tiền quá cao.
- Tác dụng của phá giá tiền tệ đối với nước tiến hành phá giá có thể là :
+ Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá, hạn chế nhập khẩu hàng hoá, do đó giúp khôi
phục lại sự cân bằng của cán cân thương mại (ngoại thương), góp phần cải thiện cán cân thanh
toán quốc tế.
Chú ý: Tuy nhiên, không phải lúc nào chính sách này cũng khuyến khích xuất khẩu. Vì
vậy, khi đã điều chỉnh được TGHĐ đến mức chấp nhận được thì phải ngừng phá giá. Một số
nước nhiều hàng hoá thì chấp nhận phá giá để xuất khẩu hàng hoá ồ ạt. Nhưng với Việt Nam
hàng hoá còn ít=> không nên.
+ Khuyến khích đầu tư vào trong nước (khuyến khích nhập khẩu vốn), hạn chế đầu tư
ra nước ngoài (hạn chế nhập khẩu vốn), từ đó làm tăng khả năng cung ngoại hối, giảm nhu cầu
về ngoại hối, nhờ đó TGHĐ sẽ giảm xuống.
+ Khuyến khích du lịch vào trong nước, hạn chế du lịch ra nước ngoài, vì vậy quan hệ
cung – cầu ngoại hối bớt căng thẳng.