Luật kinh doanh Luật sư – ThS. Lê Minh Nhựt
Nhận xét và đánh giá của giảng viên
Lê Thị Kim Ngân – SV lớp TN09DB2
Luật kinh doanh Luật sư – ThS. Lê Minh Nhựt
MỤC LỤC
Chương I 1
GIỚI THIỆU 1
Chương II 3
Chương III 14
NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆC CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN TRONG CÔNG TY CỔ
PHẦN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 14
Chương IV 23
KẾT LUẬN 23
Luật kinh doanh Luật sư – ThS. Lê Minh Nhựt
cổ phần, nêu lên những mặt ưu điểm, nhược điểm của chúng. Đồng thời tìm hiểu những thực
trạng trên thực tế về các vấn đề có liên quan và từ đó đưa ra những đóng góp, kiến nghị.
IV. Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Phuơng pháp thu thập nghiên cứu tài liệu, tham khảo các chuẩn mực, quy định và giáo trình
học tập.
- Phương pháp phân tích và rút ra nhận xét.
- Cuối cùng để đưa ra những thực trạng của chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần
thì phương pháp định tính được sử dụng để nhận định, suy luận vấn đề, thông qua đó đưa ra
những kiến nghị nhằm cải thiện những thực trạng không tốt về vấn đề này.
V. Bố cục của bài tiểu luận
Bố cục của bài tiểu luận được chia làm 4 chương
- Chương I: Giới thiệu tổng quát về đề tài
- Chương II: Những quy định hiện hành về chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần.
- Chương III: Những đóng góp và kiến nghị đối với việc chuyển nhượng cổ phần trong
công ty cổ phần ở nước ta hiện nay.
- Chương IV: Kết luận
Lê Thị Kim Ngân – SV lớp TN09DB2 2
Luật kinh doanh Luật sư – ThS. Lê Minh Nhựt
Chương II
NHỮNG QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN.
I. Khái niệm:
1. Khái niệm chuyển nhượng cổ phần:
Cổ phần: là phần vốn nhỏ nhất của công ty hay nói cách khác đi vốn của công ty được
chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Cổ phiếu: của công ty cổ phần là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán
ghi sổ để xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó.
Chuyển nhượng cổ phần: là hành vi làm thay đổi ( mua bán, biếu tặng, thừa kế…) số
lượng cổ phần đang nắm giữ.
mang tính ràng buộc nghĩa vụ vật chất của cổ đông sáng lập với người mua nhằm tránh tình
trạng tuyên truyền lừa đảo.
3.2. Đối với cổ phần ưu đãi:
Qui định về chuyển nhượng cổ phần ưu đãi phụ thuộc vào điều lệ công ty và Luật doanh
nghiệp 2005.
Cổ phần ưu đãi biểu quyết: Theo khoản 3 điều 87 Luật Doanh nghiệp 2005, chỉ có các
Tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập mới có quyền nắm giữ cổ phiếu ưu đãi
biểu quyết; đây là loại cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phiếu phổ thông, số
phiếu biểu quyết của một số cổ phần ưu đãi biểu quyết do điều lệ công ty qui định; cổ đông sở
hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác. Sau 3
năm kể từ ngày cấp giấy Chứng nhận đăng kí kinh doanh, cổ phần ưu đãi biểu quyết sẽ được
chuyển đổi thành cổ phần phổ thông và được tự do chuyển nhượng như cổ phần phổ thông
được phát hành trước đó. Việc cấm chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết nhằm đảm bảo
cho những thành viên sáng lập có thể duy trì được ý tưởng kinh doanh ban đầu của mình,
tránh cho công ty mất tính ổn định trong những năm đầu thành lập.
Cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác: Không bị
điều chỉnh trong Luật Doanh nghiệp 2005 nên tùy từng điều lệ của công ty qui định những
điều kiện để được chuyển nhượng khác nhau.
Ví dụ: Công ty cổ phần nhựa Tân Đại Á có qui định cổ phần ưu đãi chỉ được chuyển
nhượng sau 4 năm kể từ ngày phát hành hay như đối với công ty cổ phần du lịch Việt Nam -
Hà Nội thì cổ phần mua với giá ưu đãi đối với công nhân viên lại được tự do chuyển nhượng
trong khi cổ phần ưu đãi dành cho nhà đầu tư chiến lược lại bị cấm chuyển nhượng hoặc
chuyển nhượng có điều kiện
3.3. Một số trường hợp đặc biệt trong chuyển nhượng cổ phần:
Cổ phần phát hành riêng lẻ:
Theo nghị định số 01/2010/NĐ-CP cổ phần mà các công ty cổ phần khi phát hành riêng
lẻ không được chuyển nhượng trong thời hạn một năm kể từ ngày phát hành
1
.
1
bản chấp thuận của thống đốc ngân hàng nhà nước
2
:
Các giao dịch mua bán mức cổ phần trọng yếu (đây là giao dịch mua bán của cổ đông
nắm giữ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên);
Các giao dịch mua bán cổ phần dẫn đến cổ đông đang sở hữu mức cổ phần trọng yếu trở
thành không sở hữu cổ phần trọng yếu và ngược lại.
Cổ đông cá nhân, cổ đông pháp nhân có người đại diện vốn góp là thành viên Hội đồng
quản trị, thành viên Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc trong thời gian đảm nhiệm chức danh và
trong thời gian 01 năm, kể từ thời điểm không đảm nhiệm chức danh, được chuyển nhượng cổ
Dưới 100 nhà đầu tư không phải nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp
2
Theo nghị định 59/2009/NĐ_CP ngày 16/7/2009 về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại.
Lê Thị Kim Ngân – SV lớp TN09DB2 5
Luật kinh doanh Luật sư – ThS. Lê Minh Nhựt
phần nhưng phải giữ lại tối thiểu 50% tổng số cổ phần mà mình sở hữu vào thời điểm được Đại
hội đồng cổ đông bầu hoặc được Hội đồng quản trị bổ nhiệm và phải có văn bản báo cáo Ngân
hàng Nhà nước trước khi thực hiện việc chuyển nhượng cổ phần tối thiểu 15 ngày làm việc đối
với số cổ phần được phép chuyển nhượng.
Trong thời gian đang xử lý các hậu quả theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông do
trách nhiệm cá nhân, các thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát, Tổng giám
đốc không được chuyển nhượng cổ phần, trừ trường hợp các thành viên này:
- Là đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức bị sáp nhập, hợp nhất, chia
tách, giải thể, phá sản theo quy định pháp luật;
- Bị bắt buộc chuyển nhượng cổ phần theo quyết định của Tòa án.
Đồng thời, phải có sự chấp thuận của ngân hàng nhà nước nếu có sự chuyển nhượng cổ
phần của ngân hàng cổ phần do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài
3
:
trực tiếp tự kiểm tra, đánh giá chất lượng của cổ phần chào bán. Hình thức này xảy ra với
người chuyển nhượng và người được chuyển nhượng thường là những người quen biết nhau.
Thủ tục giao dịch do hai bên tự thỏa thuận theo qui định của luật dân sự.
Đối với các hành vi chuyển nhượng khác như cho - tặng, thừa kế… cũng thuộc hình
thức chuyển nhượng trực tiếp.
1.2. Qui trình thủ tục chuyển nhượng : gồm 6 bước.
• Bước 1:Tiếp nhận hồ sơ
Công ty cổ phần ( hoặc là công ty chứng khoán nhận quản lý sổ
cổ đông của công ty) tiếp nhận hồ sơ và yêu cầu chuyển nhượng cổ phần của cổ đông
Hồ sơ chuyển nhượng bao gồm:
Giấy chuyển nhượng cổ phần (yêu cầu chuyển nhượng cổ phần) hoặc hợp đồng chuyển
nhượng cổ phần có chữ kí của bên mua và bên bán ( nếu một trong hai bên là tổ chức thì phải
có chữ kí của người được ủy quyền hoặc đại diện theo pháp luật và con dấu của tổ chức đó).
Sổ chứng nhận cổ đông hoặc giấy sở hữu cổ phần của bên chuyển nhượng và bên nhận
chuyển nhượng (nếu bên mua cũng là cổ đông của công ty).
Giấy tờ khác của bên chuyển nhượng:
Đối với cá nhân:
- Giấy photo chứng minh nhân dân/Hộ chiếu (được ghi trên Giấy chứng nhận cổ phần)
của bên chuyển nhượng (có bản chính để đối chiếu).
Trong trường hợp cổ đông không thể thực hiện trực tiếp thủ tục chuyển nhượng có thể
thực hiện ủy quyền cho người khác, người được ủy quyền nộp 1 bản Giấy chứng nhận ủy
quyền và mang theo chứng minh nhân dân/ hộ chiếu để đối chiếu hoặc 1 bản sao y công chứng,
mẫu xác nhận mẫu chữ kí của cổ đông có chứng thực của chính quyền địa phương (bản chính).
Đối với tổ chức:
- Giấy xác nhận đăng kí kinh doanh (1 bản sao có công chứng).
- Văn bản chấp thuận chuyển nhượng cổ phần của hội đồng thành viên/ hội đồng quản
trị hoặc người có thẩm quyền theo qui định của điều lệ tổ chức và bên chuyển nhượng.
- Giấy giới thiệu của tổ chức và chứng minh nhân dân của người được tổ chức giới thiệu
thay mặt tổ chức thực hiện giao dịch chuyển nhượng (bản chính).
Giấy tờ khác của bên nhận chuyển nhượng:
• Bước 4: Lập phiếu hẹn cấp/ trả sổ cổ đông
Tùy theo mỗi công ty mà thời gian hẹn cấp/trả sổ cổ đông sẻ khác nhau. Thông thường
là 5-10 ngày đối với cá nhân thực hiện chuyển nhượng cổ phần và 15 ngày đối với tổ chức.
• Bước 5: In sổ cồ đông
Bộ phận quản lý sổ cổ đông của công ty căn cứ vào hồ sơ chuyển nhượng để thực hiện
bút toán chuyển nhượng: ghi tăng/gảm cổ phần trên Sổ cổ đông.
Trường hợp người nhận chuyển nhượng đã có Sổ cổ đông: công ty cổ phần ủy quyển
cho công ty chứng khoán ký phần xác nhận trên Sổ cổ đông.
Trường hợp cấp phát mới Sổ cổ đông: bộ phận quản lý sổ cổ đông in đầy đủ thông tin
lên Sổ cổ đông theo mẩu quy định của công ty, sau đó tập hợp chuyển các hồ sơ chuyển
Lê Thị Kim Ngân – SV lớp TN09DB2 8
Luật kinh doanh Luật sư – ThS. Lê Minh Nhựt
nhượng và Sổ cổ đông mới để lấy chử ký của Chủ tịch Hội Đồng Quản trị công ty trên sổ cổ
đông. Sau khi ký xác nhận các hồ sơ chuyển nhượng và Sổ cổ đông mới được chuyển trả lại
toàn bộ cho bộ phận quản lý sổ cổ đông .
Đối với người chuyển nhượng: thu lại Sổ chứng nhận cổ đông và huỷ Sổ cổ đông nếu
chuyển nhượng toàn bộ số lượng cổ phần sở hữu.
• Bước 6: Cấp/trả Sổ cổ đông
Bộ phận quản lý sổ cổ đông cấp/ trả Sổ cổ đông cho bên chuyển nhượng và bên được
chuyển nhượng sau khi đã hoàn tất các thủ tục trên.
Đối với những công ty cổ phần sử dụng dịch vụ quản lý "Sổ cồ đông và hỗ trợ thủ tục
chuyển nhượng" của công ty chứng khoán. Bộ phân quản lý sổ cổ đông của công ty cổ phần sẽ
là công ty chứng khoán, tất cả các khâu nhận hồ sơ, kiểm tra, in Sổ cổ đông cho khách hàng sẽ
do công ty chứng khoán thực hiện.
2. Chuyển nhượng gián tiếp:
2.1. Cổ phần được giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán:
Thị trường chứng khoán tập trung ( Sở giao dịch chứng khoán) – là nơi các nhà môi giới
thực hiện cuộc đấu giá mua – bán chứng khoán cho khách hàng của họ. Thị trường này hoạt
động theo đúng các quy định của pháp luật, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã được đăng
biểu hay đặc biệt được biệt lệ.
giấy yêu cầu mở tài khoản với những nội dung sau: số chứng minh thư, số điện thoại, phương
thức giao dịch (chữ kí, dấu,…).
Số chứng minh thư này sẽ là mã số kinh doanh của nhà đầu tư, đồng thời là mả số quản
lí của công ty chứng khoán về nhà đầu tư trên Sở giao dịch chứng khoán.
Sau đó, nhà đầu tư sẽ kí hợp đồng giao dịch với công ty chứng khoán trên cơ sở mẫu
hợp đồng mở tài khoản ký giữa công ty chứng khoán và khách hàng ban hành kèm theo Quyết
định số 04/1998 của Ủy ban chứng khoán Nhà nước về quy chế tổ chức và hoạt động của công
ty chứng khoán.
Nội dung hợp đồng là khách hàng đề nghị bên công ty chứng khoán mở một tài khoản
chứng khoán (gọi là tài khoản) đứng tên khách hàng để lưu giữ, quản lí tiền, chứng khoán và
thực hiện giao dịch chứng khoán cho khách hàng thông qua Sở giao dịch chứng khoán. Mỗi
nhà đầu tư chỉ được mở tài khoản tại một công ty chứng khoán. Do vậy, trước khi định mở tài
khoản giao dịch chứng khoán, nhà đầu tư nên tự lựa chọn công ty chứng khoán để mở tài
khoản. Việc mở tài khoản chứng khoán hiện nay được các công ty chứng khoán thực hiện miễn
phí, đồng thời khách hàng cũng không phải ký quỹ, đặt cọc khoản tiền nào.
Ký quỹ
Trước khi tiến hành giao dịch, nhà đầu tư phải kí quỹ tại công ty chứng khoán. Trong
tài khoản giao dịch chứng khoán của khách hàng tại Công ty phải có đủ 100% giá trị chứng
khoán đặt mua hoặc 100% số lượng chứng khoán đặt bán.
Lê Thị Kim Ngân – SV lớp TN09DB2 10
Luật kinh doanh Luật sư – ThS. Lê Minh Nhựt
• Bước 2:Nhà đầu tư đặt lệnh giao dịch
Đặt lệnh
Nhà đầu tư muốn mua hay bán chứng khoán sẽ đến gặp công ty chứng khoán. Người
đầu tư có thể sử dụng nhiều phương tiện khác nhau để đặt lệnh như đặt lệnh trực tiếp bằng
phiếu lệnh (order slip), điện thoại, fax.
Khách hàng kí hợp đồng ủy thác mua hoặc bán chứng khoán với công ty chứng khoán.
Khách hàng đặt lệnh mua, bán chứng khoán với phòng tiếp thị bằng phiếu lệnh. Nội
dung chi tiết của lệnh gồm có: Lệnh mua hay lệnh bán; tên chứng khoán – mã số chứng khoán;
số lượng chứng khoán; giá.
• Bước 4: Thông báo kết quả giao dịch:
Sở giao dịch chứng khoán sau mỗi đợt khớp lệnh sẽ thông báo kết quả cho lệnh được
khớp đến công ty chứng khoán. Công ty chứng khoán xác nhận với đại diện giao dịch về kết
quả giao dịch sau khớp lệnh. Chi tiết xác nhận gồm có: Tên chứng khoán; khối lượng mua và
bán; tên (mã số) của bên thành viên đối tác; ngày, thời gian giao dịch được thực hiện; số hiệu
của lệnh được thực hiện; các chi tiết cần thiết khác theo quy định của sở giao dịch chứng
khoán.
Công ty chứng khoán chuyển kết quả giao dịch để thực hiện thanh toán tại Trung tâm
lưu ký chứng khoán và thanh toán bù trừ.
Công ty chứng khoán thông báo kết quả giao dịch cho các nhà đầu tư.
• Bước 5: Hoàn thành quá trình chuyển nhượng:
Nhà đầu tư nhận được chứng khoán (nếu là người mua) hoặc tiền (nếu là người bán)
trên tài khoản của mình tại công ty chứng khoán sau 3 ngày làm việc kể từ ngày mua bán
chứng khoán nếu quy định vể thời gian thực hiện thanh toán bù trừ chứng khoán là T+3.
2.2. Cổ phần giao dịch mua bán, chuyển nhượng tại thị trường phi tập trung
Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế trong nước và thế giới Thị trường OTC
(Over the counter) Việt Nam phát triển theo mô hình phát triển của thị trường giao dịch cổ
phiếu OTC của các nước trên thế giới. Tất cả các giao dịch các cổ phiếu chưa đủ điều kiện
niêm yết của các công ty đại chúng được giao dịch qua thị trường OTC với sự giám sát của các
cơ quan chức năng và tổ chức giao dịch theo các hình thức như một cổ phiếu đã niêm yết. Tuy
nhiên đối với cổ phiếu giao dịch trên sàn OTC có một số điểm khác biệt so với giao dịch cổ
phiếu trên thị trường chứng khoán tập trung về cách thức giao dịch và đặt lệnh như: không có
có biên độ khống chế về giá giao dịch cũng như giá tham chiếu. Thời gian khớp lệnh của hệ
thống kéo dài từ 10-15 giờ/ngày. Nhà đầu tư được phép mua và bán cùng 1 loại cổ phiếu trong
cùng 1 ngày giao dịch. Ở sàn chứng khoán tập trung thì lệnh mua bán chứng khoán sẽ được hệ
thống máy tính so khớp, còn ở sàn giao dịch OTC thì các đại diện giao dịch chọn lệnh để khớp.
Cách thức giao dịch sẽ được thực hiện như sau:
Lê Thị Kim Ngân – SV lớp TN09DB2 12
Luật kinh doanh Luật sư – ThS. Lê Minh Nhựt
Cả người mua và người bán đều mở tài khoản tại sàn giao dịch OTC. Sau khi người
HIỆN NAY
I. Những ưu điểm và nhược điểm của một số cách thức chuyển nhượng cổ phần theo
cách gián tiếp
1. Ưu và nhược điểm của cách thức chuyển nhượng cổ phần trên sở giao dịch chứng
khoán.
Ưu điểm:
Tạo điều kiện thuận lợi cho các cổ đông của doanh nghiệp thực hiện chuyển nhượng cổ phần
một cách thuận lợi, nâng cao tình thanh khoản cho cổ phần của các doanh nghiệp này.
Thông tin được minh bạch giúp giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư khi thực hiện giao dịch
trên sở giao dịch chứng khoán. Các báo cáo tài chính hằng năm của các công ty cổ phần đã
niêm yết buộc phải được kiểm toán, đồng thời, các giao dịch đều được thực các rủi ro như lừa
đảo, mua bán khống như cách giao dịch thông qua thị trường phi tập trung.
Nhược điểm :
Lê Thị Kim Ngân – SV lớp TN09DB2 14
Luật kinh doanh Luật sư – ThS. Lê Minh Nhựt
Số lượng công ty cổ phần đủ điều kiện để được niêm yết trên Sở giao dịchchứng khoán còn
quá ít nên làm cho thị trường kém sôi động, không đáp ứng được hết nhu cầu của nhà đầu tư.
Rủi ro thường xảy ra trong quá trình nhập lệnh vào hệ thống máy tính của các Broker khi khối
lượng giao dịch nhiều.
2. Những ưu diểm và nhược điểm của cách thức chuyển nhượng cổ phần qua thị
trường phi tập trung
Ưu điểm:
Tạo tính thanh khoản cho các cổ phiếu của các công ty cổ phần chưa có đủ điều kiện để niêm
yết chứng khoán.
Tạo điều kiện thuận lợi cho người mua và ngưới bán cổ phiếu có thể giao dịch mua, bán,
chuyển nhượng cổ phần dù ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào.
Khối lượng cổ phiếu giao dịch lớn, đa dạng, đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư.
Nhược điểm:
Khách hàng giao dịch trên thị trường OTC gặp nhiều khó khăn trong vấn đề thu thập và tiếp
cận thông tin.
yên, giảm hay người bán nghiêm túc, đứng đắn thì việc làm thủ tục chuyển nhượng không vấn
đề gì. Ngược lại, gặp phải người không trọng chữ tín thì dễ dàng bị đánh tháo và hứa hẹn trả lại
số tiền trước kia đã nhận, kèm với lãi suất ngân hoặc vì nhiều lý do khác đã bán quyền mua cổ
phần. Giá bán quyền mua thường thấp hơn thị trường phi tập trung
II. Thực trạng và giải pháp đối với chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần
1. Những hạn chế nghị định 01 trong chuyển nhượng cổ phần.
Ngày 4/1, Thủ tướng đã ban hành Nghị định số 01/2010/NĐ-CP về chào bán cổ phần
riêng lẻ có hiệu lực từ ngày 25/2/2010.
Nghị định trên nêu rõ, hạn chế chuyển nhượng cổ phần phát hành riêng lẻ thời hạn 1
năm, các đợt chào bán phải cách nhau tối thiểu là 6 tháng.
Đối tượng áp dụng của nghị định này là các công ty cổ phần, các doanh nghiệp chuyển
đổi thành công ty cổ phần - ngoại trừ các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển đổi thành
công ty cổ phần. Công ty cổ phần thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài không
được chào bán cổ phần trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên có quy định khác.
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý chào bán cổ phần riêng lẻ gồm: Ngân hàng
Nhà nước (trong trường hợp tổ chức chào bán là tổ chức tín dụng); Bộ Tài chính (doanh nghiệp
bảo hiểm cổ phần); Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (công ty cổ phần chứng khoán, công ty cổ
phần quản lý quỹ, công ty đại chúng (trừ các công ty đại chúng là doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực tín dụng, bảo hiểm); sở kế hoạch và đầu tư, ban quản lý khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế (tổ chức chào bán là các công ty cổ phần còn lại)
Lê Thị Kim Ngân – SV lớp TN09DB2 16
Luật kinh doanh Luật sư – ThS. Lê Minh Nhựt
1.1. Các hạn chế của Nghị định 01:
Đối chiếu quy định về hạn chế chuyển nhượng cổ phần trong trường hợp đã nêu tại
Điều 8 của Nghị định số 01/2010/NĐ-CP với quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005,
nhận thấy rằng quy định này là không đúng so với Luật Doanh nghiệp năm 2005. Cụ thể:
Luật Doanh nghiệp 2005 đã quy định rất rõ tại Điều 77 là “Cổ đông có quyền tự do
chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3
Điều 81 và Khoản 5 Điều 84 của Luật này” (trích Mục d Khoản 1 Điều 77). Như vậy, sẽ chỉ
Đầu tư) chủ trì cho biết, Nghị định mới quy định, “tất cả các Công ty cổ phần đều có quyền
phát hành cổ phần riêng lẻ, không quy định điều kiện hạn chế chuyển nhượng trước và sau
phát hành”.
Nghị định mới thay thế Nghị định 139 hướng dẫn Công ty cổ phần được thực hiện việc
chào bán riêng lẻ ngay sau khi đã thông báo với cơ quan có thẩm quyền là Phòng đăng ký kinh
doanh và phải sử dụng số vốn phát hành đúng như phương án đã thông báo với cơ quan đăng
ký kinh doanh.
Về mặt thủ tục, Nghị định thay thế Nghị định 139 cũng đơn giản hóa thủ tục chào bán
riêng lẻ. Công ty cổ phần chỉ cần thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh thay vì phải làm
thủ tục đăng ký.
Một trong những mục tiêu của Nghị định thay thế Nghị định 139 hướng dẫn chi tiết thi
hành Luật Doanh nghiệp là đơn giản hóa thủ tục chào bán riêng lẻ, nhằm tạo điều kiện tốt nhất
cho Công ty cổ phần huy động vốn. Công ty cổ phần chỉ có trách nhiệm thông báo thông tin về
đợt chào bán đến cơ quan có thẩm quyền theo dõi là Phòng đăng ký kinh doanh. Cơ quan quản
lý có trách nhiệm theo dõi và giám sát hoạt động sử dụng vốn của doanh nghiệp để có phát
hiện sai phạm trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng sai mục đích.
Nghị định 01 ra đời với những điều kiện chặt chẽ về chào bán riêng lẻ đã ảnh hưởng
phần nào đến hoạt động phát hành riêng lẻ của các doanh nghiệp, đặc biệt trong thời điểm
doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn khá cao để tìm nguồn vốn thay thế nguồn vốn vay ngân
hàng lãi suất cao. Nghị định thay thế Nghị định 139 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
Doanh nghiệp sẽ có những điểm khác biệt về mặt pháp lý giữa hai văn bản quy phạm. Các
chuyên gia cho rằng, theo quy định về hiệu lực văn bản pháp luật, hai vản bản cùng cấp có quy
định khác nhau thì văn bản sau sẽ có quyền phủ định các quy định của văn bản ban hành trước.
Như vậy hy vọng, nghị định mới sớm ban hành tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động chào
bán riêng lẻ của Công ty cổ phần.
2. Thuế Thu nhập cá nhân từ việc chuyển nhượng Chứng khoán.
Theo điều 3 Nghị định 100/2008/NĐ-CP ngày 8/9/2008 của Chính phủ quy định thu
nhập từ chuyển nhượng vốn bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán phải chịu điều chỉnh của
Thuế thu nhập cá nhân.
Lê Thị Kim Ngân – SV lớp TN09DB2 18
4
.
4
Điều 16. Thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng chứng khóan, chuyển nhượng quyền mua cổ phiếu được xác định
bằng giá bán chứng khoán trừ (-) giá mua các chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng
Điều 17. Thuế suất
Thuế suất đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán là 20%/thu nhập tính thuế cả năm chỉ áp dụng đối với
trường hợp đối tượng nộp thuế đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn chứng từ, xác định thu nhập
Lê Thị Kim Ngân – SV lớp TN09DB2 19
Luật kinh doanh Luật sư – ThS. Lê Minh Nhựt
Thuế suất 20% được áp dụng cho kỳ tính thuế theo năm, được bù trừ lỗ lãi giữa các lần
chuyển nhượng, trường hợp bị lỗ thì sẽ được chuyển lỗ trong 5 năm tiếp theo. Trong năm, các
công ty chứng khoán có trách nhiệm tạm khấu trừ thuế 0,1% trên giá chuyển nhượng, cuối năm
cá nhân thực hiện kê khai, quyết toán cho thu nhập cả năm. Nếu cá nhân chọn nộp thuế theo
phương pháp này thì đầu năm thực hiện đăng ký với cơ quan thuế.
Thuế suất 0,1% được áp dụng trên giá trị từng lần chuyển nhượng chứng khoán. Nếu
lựa chọn phương pháp này, cá nhân không cần đăng ký với cơ quan thuế. Công ty chứng khoán
thực hiện khấu trừ và nộp thay tiền thuế của nhà đầu tư vào ngân sách nhà nước, đây cũng
chính là số thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng chứng khoán của nhà đầu tư.
Việc lựa chọn phương pháp kê khai, nộp thuế theo thuế suất toàn phần 20% sẽ thuận
tiện cho các nhà đầu tư có danh mục đầu tư gồm nhiều cổ phiếu, giao dịch nhiều lần trong
năm, vì chỉ phải tính toán lãi lỗ và quyết toán một lần cho toàn bộ các giao dịch trong cả năm.
Ngược lại, đối với các cá nhân có số lần thực hiện chuyển nhượng cổ phần ít thì áp dụng
phương pháp tính thuế ấn định 0.1% lại có lợi hơn.
Mặc dù, theo Thông tư 84/2009/TT-BTC, trong mọi trường hợp chuyển nhượng chứng
khoán, không phân biệt nộp thuế theo thuế suất ấn định 0,1% hay biểu thuế toàn phần với thuế
suất 20%, công ty chứng khoán hoặc đơn vị phát hành chứng khoán đều phải khấu trừ thuế ấn
định trước khi thanh toán cho người chuyển nhượng.
Có nghĩa là, cá nhân chuyển nhượng chứng khoán, dù đã đăng ký nộp thuế theo biểu
thuế toàn phần với thuế suất 20%, thì vẫn phải tạm bị khấu trừ 0,1% trên giá chuyển nhượng
hiện nay.
Cuối cùng, việc hoãn thu Thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng chứng khoán sẽ
là một tiền lệ không tốt, ảnh hưởng lớn đến việc ban hành các sắc thuế mới trong tương lai.
Do những điều kiện trên, Chính phủ đã thực hiện hoãn thu Thuế thu nhập cá nhân đối
với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán trong năm 2009, và bắt đầu áp dụng vào ngày
1/1/2010, khi nền kinh tế - tài chính nước ta đã phần nào có dấu hiệu phục hồi.
3. Chuyển nhượng chứng khoán thông qua môi giới tự do.
3.1. Thực trạng của việc chuyển nhượng chứng khoán thông qua môi giới tự do
Thực tế, ngoài thị trường còn xảy ra một hình thức chuyển nhượng cổ phần khá là phổ
biến đối với cổ phần của các công ty chưa đủ điều kiện để niêm yết trên sở giao dịch chứng
khoán, đó chính là giao dịch chuyển nhượng qua các nhà môi giới tự do.
Có một câu chuyện xảy ra như sau, vào một buổi chiều thứ sáu tại một công ty chứng
khoán trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Theo lời kể của những nhân chứng có mặt tại công
ty chứng khoán , một nhà đầu tư đã mua cổ phiếu OTC của ngân hàng Eximbank qua một nhà
“cò” (môi giới tự do) vào cuối giờ chiều. sau khi trả tiền, nhà đầu tư cầm giấy biên nhận hồ sơ
chuyển nhương cổ phiếu Eximbank kèm biên lai thu phí chuyển nhượng đến gặp nhân viên
Lê Thị Kim Ngân – SV lớp TN09DB2 21
Luật kinh doanh Luật sư – ThS. Lê Minh Nhựt
môi của công ty chứng khoán ở lầu trên đề nghị đóng dấu của công ty chứng khoán để xác
nhận giao dịch. Tại đây, nhân viên công ty chứng khoán kiểm tra và phát hiện đó là giấy biên
nhận giả. Nhà đầu tư quay xuống lầu tìm người bán thì người này đã lặn mất tăm.
Giấy biên nhận được xác định là giả mạo chữ ký của thủ quỹ, giao dịch viên, kiểm soát
và dấu mộc, phông chữ trên tờ giấy biên nhận giả cũng khác biệt với phông chữ của công ty
chứng khoán trên sử dụng. Ngoài ra, giấy biên nhận giả còn thiếu một yếu tố quan trọng là dấu
mộc tròn và mã số giao dịch ở phía dưới góc trái và những cái khác mà người giao dịch không
phát hiện ra.
Đây là một thực trạng vẫn thường xảy ra cho các nhà đầu tư đối với các giao dịch
chuyển nhượng cổ phần thông qua các nhà môi giới tự do.
Việc chuyển nhượng cổ phần thông qua các nhà môi giới tự do sẽ được tiến hành theo
cách các cổ đông cũ làm giấy chuyển nhượng cho nhà môi giới tự do (“cò”) nhưng phần
tình trạng những “hạt sạn” nhỏ lại gây ảnh hưởng lớn đến cả một nền kinh tế. Vì mục đích cuối
cùng của Luật là hướng nền kinh tế đi lên trên con đường phát triển, chứ không phải kiềm hãm,
gây khó khăn trở ngại cho các nhà đầu tư.
Các nhà làm luật cần phải hướng dẫn rõ ràng, cụ thể, cũng như có những biện pháp
nhằm hỗ trợ nhà đầu tư một cách tối ưu, mà trong đó công tác tuyên truyền, giải thích của các
cơ quan quản lý cần phải đặt lên hàng đầu. Bởi có thấu hiểu đạo lý thì người dân mới đồng
thuận và tự giác chấp hành.
Mặt khác, các nhà đầu tư gồm cá nhân và tổ chức cũng cần phải nắm rõ Pháp luật cũng
như các thông tin một cách chính xác, đầy đủ để tránh những hiểu lầm, hiểu sai có thể gây ra
thiệt hại không đáng cho bản thân và để có một chiến lược đầu tư thành công.
Lê Thị Kim Ngân – SV lớp TN09DB2 23