KIẾN THỨC THÁI ĐỘ THỰC HÀNH VỀ PHÒNG NGỪA LÂY
NHIỄM HIV/AIDS Ở NGƯỜI NỮ HÀNH NGHỀ MÁT-XA
Tóm tắt
Mục tiêu Xác định tỉ lệ nữ tiếp viên hành nghể massage tại tỉnh Bình
Dương trong năm 2006 có kiến thức, thái độ, và thực hành đúng trong phòng
chống HIV/AIDS.
Phương pháp Một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 396
người nữ đang hành nghề mát-xa trong các cơ sở mát-xa. Các đối tượng tự
điền, nặc danh, câu trả lời cho những câu hỏi về kiến thức, thái độ, thực
hành về phòng lây nhiễm HIV/AIDS, và những dữ kiện nền về dân số xã
hội. Số thống kê mô tả là tỉ lệ đối tượng có kiến thức, thái độ, thực hành
đúng. Tỉ lệ được so sánh với phép kiểm chi bình phương, mức độ kết hợp
được ước lượng bằng tỉ số số chênh, và khoảng tin cậy 95%. Phân tích đa
biến được thực hiện với hồi qui logistic.
Kết quả Tỉ lệ có kiến thức đúng về phòng chống HIV/AIDS, đánh giá
chung, là không cao (69,62%), trong đó, đặc biệt thấp, chỉ 20,45%, là kiến
thức đúng về những biện pháp phòng lây nhiễm. Trên 80% chấp nhận sử
dụng bao cao su khi quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, nhưng chỉ trên dưới
50% đồng ý với những biện pháp phòng chống khác, cũng như không phân
biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. Có 14,48% có quan hệ tình dục
ngoài hôn nhân, trong đó, chỉ có 50,34% luôn luôn sử dụng bao cao su. Tỉ lệ
thực hành đúng với những biện pháp phòng lây nhiễm khác là cao. Có mối
liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi với kiến thức; kiến thức với
thái độ; và kiến thức, tình trạng hôn nhân với thực hành.
Kết luận Kiến thức, thái độ, và thực hành trong phòng chống lây
nhiễm HIV/AIDS của những người nữ hành nghề mát-xa tại tỉnh Bình
Dương trong năm 2006 là còn kém. Giáo dục sức khỏe là vô cùng cấp thiết,
nhấn mạnh nhiều hơn vào các đường lây, và các biện pháp phòng lây, với
đối tượng ưu tiên là những người trẻ dưới 20 tuổi.
ABSTRACT
với HIV đã tăng lên trong từng vùng trên thế giới trong thời gian 2 năm qua.
Theo Ngân hàng Thế giới, hiện nay đang có sự gia tăng “nạn nhân” của dịch
HIV/AIDS toàn cầu trong số các cô gái trẻ [2], với sự gia tăng mạnh nhất ở
Đông Nam Á. Dịch HIV/AIDS khởi phát tại tỉnh Bình Dương vào năm
1993, và đến 31/10/2005, luỹ tích số trường hợp nhiễm HIV/AIDS là 4179,
số chuyển sang AIDS là 984, và số tử vong do AIDS là 257 [3]. Những
trường hợp nhiễm HIV/AIDS phần lớn tập trung vào lứa tuổi 20-29 (phù
hợp với thống kê chung của cả nước và trên thế giới [1]). Nhiều công trình
nghiên cứu và can thiệp đã được tiến hành trên các đối tượng nguy cơ cao
như mãi dâm, ma túy, tiếp viên nhà hàng, v.v., nhưng còn một đối tượng
chưa được quan tâm đến dù có nguy cơ nhiễm cao và có tác động đến sự lây
nhiễm, đó là những nữ tiếp viên hành nghề mát-xa. Để có những thông tin
cơ bản cho việc xây dựng những chương trình can thiệp toàn diện, nghiên
cứu này được thực hiện với mục đích xác định tỉ lệ nữ tiếp viên hành nghể
mát-xa tại tỉnh Bình Dương trong năm 2006 có kiến thức, thái độ, và thực
hánh đúng trong phòng chống HIV/AIDS.
Đối tượng và phương pháp
Một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành từ tháng Năm đến tháng
Bảy năm 2006 trên toàn bộ dân số mục tiêu là những người nữ đang hành
nghề mát-xa trong các cơ sở mát-xa tại tỉnh Bình Dương vào thời điểm
nghiên cứu. Để có 95% tin tưởng xác định được 50% nữ hành nghề mát-xa
có kiến thức, thái độ, hoặc thực hành đúng trong phòng chống HIV/AIDS,
với sai số cho phép là 5%, cỡ mẫu nghiên cứu được ước lượng là 385 đối
tượng. Sau khi được trình bày mục đích và nội dung của nghiên cứu, các đối
tượng tự điền, nặc danh, câu trả lời cho những câu hỏi về kiến thức (điều trị,
đường lây, và các cách phòng lây nhiễm HIV/AIDS), thái độ (đối với việc sử
dụng bao cao su trong quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, dùng riêng những
vật dụng cá nhân, đối xử với người nhiễm), thực hành (quan hệ tình dục
ngoài hôn nhân, sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục ngoài hôn nhân,
sử dụng riêng những vật dụng cá nhân, và xét nghiệm trong vòng 6 tháng
(3,54)
Ly dị 22
(5,56)
Goá 2
(0,51)
Trình độ học
vấn
Mù chữ 6
(1,52)
Tiểu học 50
(12,63)
Trung học cơ 276
sở (69,70)
Phổ thông
trung học
63
(15,91)
Cao đẳng, đại
học
1
(0,25)
Lý do hành
nghề
Không nghề 179
(45,32)
Thu nhập cao 95
(24,05)
Việc làm nhẹ
Trường học 12
(3,05)
Gia đình, bạn
bè
25 (6,35)
Cán bộ, cộng
tác viên y tế
126
(31,98)
Bảng 3. Kiến thức đúng về HIV/AIDS
Nội dung Tần số
(%)
Kiến thức
Đường lây 202
(51,01)
Khả năng
điều trị
219
(55,30)
Phòng lây
nhiễm
81 (20,45)
Kiến thức
chung đúng
275
(69,62)
Thái độ
Thực hành
Có quan hệ
tình dục ngoài hôn
nhân
43
(14,48)
Sử dụng bao
cao su khi quan hệ
tình dục ngoài hôn
nhân Luôn luôn 23
(50,34)
Thỉnh thoảng
12
(28)
Không sử
dụng
6
(14)
Không trả lời
2
tố
Kiến
thức
Tần
số (%)
OR
(KTC 95%)
p
Tuổi
(năm)
15-
19
17
(42,50)
1
20-
24
160
(72,40)
3,55
(1,77-7,09)
<0,001
25-
29
70
(71,43)
3,38
Kiến
thức đúng
Chưa
có gia đình,
đang có
chồng
1,78
(0,95-3,33)
0,07
Ly
thân, ly dị,
goá
30
(2,79-322)
0,005
Ở người có kiến thức chưa đúng
Chưa
có gia đình,
đang có
chồng
21,9
(2,49-192)
0,005
Đa số nữ hành nghề mát-xa ở nhóm tuổi 20-24, chưa lập gia đình,
trình độ học vấn trung học cơ sở, chọn nghề mát-xa vì không có nghề khác,
thời gian hành nghề từ một đến hai năm (Bảng 1). Hai kênh truyền thông
giáo dục sức khoẻ về HIV/AIDS được tiếp cận nhiều nhất là truyền hình, và
huấn luyện về kỹ thuật chuyên môn, và phải thi lấy chứng chỉ trước khi hành
nghề. Thu nhập của nhân viên mát-xa chủ yếu trên tiền “tip” của khách
hành, và phần trăm tính trên vé, tổng cộng trung bình khoảng 2 đến 3 triệu
đồng mỗi tháng. Có thể xem đây là một nghề không đòi hỏi chuyên môn
cao, lao động tương đối nhẹ nhàng, và thu nhập khá.
Nguồn thông tin về HIV/AIDS
Hai nguồn thông tin giáo dục sức khỏe về HIV/AIDS mà những người
nữ hành nghề mát-xa tiếp cận được nhiều nhất là truyền hình, và cán bộ y tế
hoặc cộng tác viên y tế (Bảng 2). Điều này đúng với thực tế truyền thông
giáo dục sức khỏe tại địa phương [6], và cũng cho thấy tính hiệu quả của
truyền hình và nhân viên y tế. Truyền thông đại chúng có vai trò quan trọng
trong công tác thông tin giáo dục truyền thông về phòng chống HIV/AIDS,
do đó, cần duy trì và phát huy hơn nữa hoạt động giáo dục sức khỏe của
truyền hình và nhân viên y tế.
Kiến thức về phòng chống HIV/AIDS
Chỉ khoảng phân nữa những người nữ hành nghề mát-xa tại Bình
Dương hiểu biết về đường lây và khả năng điều trị được của HIV/AIDS
(Bảng 3). Đặc biệt tỉ lệ biết đúng về những biện pháp phòng tránh là rất
thấp, chỉ có 20,54%, thấp hơn nhiều so với kết quả tương ứng của một
nghiên cứu tại Bình Dương năm 2002 trên những tiếp viên nhà hàng [2]. Để
được đánh giá là có kiến thức, đối tượng phải đạt được tối thiểu 75% tổng số
điểm của các câu hỏi liên quan, và một ngưỡng tương đối cao có thể là lý do
giải thích cho một kết quả thấp. Tuy nhiên, ngưỡng tính điểm này được đặt
trên cơ sở lý luận của một nghiên cứu vào thời điểm 2006, 13 năm sau khi
HIV/AIDS xuất hiện tại Bình Dương, và trong suốt khoảng thời gian đó,
những công tác truyền thông giáo dục sức khỏe đã được tiến hành thường
xuyên. Đây là một thông tin mà các ngành chức năng tại địa phương cần
quan tâm, vì nghiên cứu này được thực hiện vào thời điểm năm 2006, nhưng
sự hiểu biết của đối tượng nghiên cứu lại kém hơn. Một sự hiểu biết không
đầy đủ hoặc không toàn diện có thể dẩn đến những hành vi sai lầm, và tăng
khó với quan hệ ngoài hôn nhân, vì quan hệ tình dục là vấn đề riêng tư, nhạy
cảm, ngay cả với một bộ câu hỏi tự điền và nặc danh. Điều này hàm ý rằng
sự thực, tỉ lệ có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân ở những người nữ hành
nghề mát-xa còn cao hơn đã ghi nhận. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là
trong số những người có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, chỉ có 50,34%
luôn luôn sử dụng bao cao su, và 14% không bao giờ (Bảng 3). Việc sử dụng
bao cao su có thể nhằm mục đích phòng bệnh lây qua đường tình dục, hoặc
tránh thai. Khả năng sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục ngoài hôn
nhân tùy thuộc nhiều yếu tố như ý thức của bản thân, tính sẵn có, sự chấp
thuận của khách hàng. Dù do động cơ nào, trong điều kiện nào, nhưng tỉ lệ
sử dụng bao cao su thấp là một nguy cơ cao của cả nữ hành nghề mát-xa và
khách hàng của họ.
Tỉ lệ thực hành đúng trong việc sử dụng riêng những vật dụng cá nhân
(bàn chải răng, cắt móng, dao cạo) là cao, có thể do những vật dụng này là rẻ
tiền và luôn sẵn có. Tỉ lệ thực hành đúng về xét nghiệm trong vòng 6 tháng
qua là rất cao (86,47%) thể hiện sự quan tâm đến sức khoẻ bản thân. Bên
cạnh đó, còn có một qui định về khám sức khỏe định kỳ ở những người nữ
hành nghề mát-xa, và đây là một trong những tiêu chí kiểm tra hành nghề
khiến cho sự tuân thủ là cao.
Tình trạng hôn nhân có tương tác với kiến thức trong mối liên quan
giữa kiến thức với thực hành (Bảng 5). Khả năng suy diễn nhân quả là hạn
chế với thiết kế cắt ngang, tuy nhiên, nếu mối liên quan nhân quả thật sự tồn
tại thì có thể được lý giải như sau. Khi chưa hiểu biết đầy đủ về phòng
chống lây nhiễm HIV/AIDS, khả năng thực hành tốt hơn ở những người nữ
chưa có gia đình hoặc đang sống với chồng (so với những người ly thân, ly
dị, goá) có thể do một dự tính hôn nhân trong tương lai, hoặc để giữ sự bền
vững của gia đình.
Mát-xa là một công việc có mức độ lao động vừa phải, không đòi hỏi
chuyên môn cao, và thu nhập là khích lệ. Hầu hết những người hành nghề là
nữ, trẻ tuổi, và trình độ học vấn không cao. Trong thực tế, do nhiều điều kiện