TÁC DỤNG GIẢM ĐAU CỦA NIMESULIDE TRONG PHẪU THUẬT NHỔ RĂNG KHÔN DƯỚI LỆCH - Pdf 20

TÁC DỤNG GIẢM ĐAU CỦA
NIMESULIDE TRONG PHẪU
THUẬT NHỔ RĂNG KHÔN DƯỚI
LỆCH

TÁC DỤNG GIẢM ĐAU CỦA NIMESULIDE TRONG PHẪU
THUẬT NHỔ RĂNG KHÔN DƯỚI LỆCH TÓM TẮT
Mở đầu: Nimesulide là một kháng viêm nonsteroid thuộc họ
Sulfonanilide, có hiệu quả kháng viêm, giảm đau, hạ sốt mà không gây loét
dạ dày và được cơ thể dung nhận tốt. Tác động của Nimesulide đã được
chứng minh rõ ràng qua nhiều nghiên cứu lâm sàng và thực nghiệm.
Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả giảm đau của liều
uống 200mg Nimesulide sau phẫu thuật nhổ răng khôn dưới mọc lệch bằng
cách so sánh với hiệu quả của liều uống 1000mg paracetamol.
Kết quả cho thấy Nimesulide có hiệu quả giảm đau cao hơn
Parcetamol một cách có ý nghĩa.

trong những biệt dược mới thuộc nhóm AINS với hiệu quả giảm đau và ưu
điểm ngày càng gia tăng đó là Nimesulide (Nidol). Nimesulide là một thuốc
kháng viêm non-steroid thuộc họ Sulfonanilide, có đặc tính kháng viêm,
giảm đau, hạ nhiệt và được cơ thể dung nhận tốt.
Các thuốc kháng viêm non-steroid tác động chủ yếu là ức chế sự tổng
hợp Prostaglandin, tuy nhiên đặc tính này lại đi đôi với việc giảm dung nạp
và kích ứng ở dạ dày và ruột, hợp chất AINS mới với phương thức hoạt
đông thay đổi như Nimesulide đã cải thiện được đặc tính này.
Nimesulide ức chế nhẹ sự tổng hợp Prostaglandin, nhưng lại có nhiều
tác động khác nhau trên hiệu quả kháng viêm: nó ngăn cản sự phóng thích
oxy từ bạch cầu trung tính đã hoạt hoá và có hiệu lực thải trừ acid
hypochlorous mà không ảnh hưỡng đến chức năng bạch cầu trung tính, nó
còn làm giảm sự phóng thích Histamin từ các tương bào và ức chế sản xuất
yếu tố hoạt hóa tiểu cầu từ các bạch cầu aí kiềm.
Để đánh giá tác dụng giảm đau của Nimesulide trong việc giảm đau
sau phẫu thuật nhổ răng khôn dưới mọc lệch, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu tác dụng giảm đau của Nimesulide trong phẫu thuật nhổ răng
khôn dưới mọc lệch”.
Mục tiêu tổng quát của đề tài
Đánh giá tác dụng giảm đau của liều uống 200mg Nimesulide bằng
cách so sánh với liều 1000mg Paracetamol sau phẫu thuật nhổ răng khôn
dưới mọc lệch
Mục tiêu chuyên biệt l
Theo dõi sự dung nhận trên lâm sàng của cả hai loại thuốc trên.
Đưa ra những ý kiến về việc sử dụng thuốc giảm đau trong nhổ răng
và phẫu thuật răng miệng.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Chọn lựa bệnh nhân
60 bệnh nhân Việt Nam ở cả hai phái có chỉ định và nhu cầu nhổ răng
khôn dưới lệch ở cả hai bên với mức độ lệch tương đương. Bệnh nhân có

của Capsoni và CS, 1988) và có hiệu quả ức chế PDE nhóm 4 (nghiên cứu
của Bevilacqua và CS, 1991) mà không ảnh hưỡng đến hoạt động thực bào
của bạch cầu, nó cũng ức chế sản sinh ra gốc Oxy từ việc hoạt hoá Phorbol
diester của Protein kinase C.
Ức chế sự phóng thích Histamin
Nimesulide ức chế sự phóng thích Histamin từ các bạch cầu aí kiềm
do việc ức chế PDE nhóm 4 và hoạt hoá cAMP, ngoài ra trong thực nghiệm
nó còn làm giảm sự tổng hợp quá mức IgE. Histamin gây kích thích các thụ
thể Histamin H2 ở các bạch cầu nên ngăn cản các bạch cầu xâm nhập vào
vùng viêm, điều này giải thích khi có sự hiện diện của Nimesulide thì số
lượng bạch cầu ở vùng viêm cao hơn còn đối với các kháng viêm khác thì sự
thâm nhiễm lại giảm.
Hiệu quả trên yếu tố hoạt hoá tiểu cầu (PAF)
Tác động quan trọng nữa của Nimesulide thông qua cơ chế ức chế
PDE nhóm 4 là ức chế sự phóng thích PAF từ các bạch cầu ưa kiềm, đây là
một chất trung gian liên quan đến sự lan rộng của quá trình viêm.
Hiệu quả giảm nhiệt:
Người ta đã tìm thấy mối liên hệ mật thiết giữa khả năng ức chế PDE
nhóm 4 và hoạt động giảm nhiệt, các chất ức chế PDE nhóm 4 thường cũng
có tác động giảm nhiệt, từ đó có thể suy đoán rằng Nimesulide cũng có tác
động giảm nhiệt thông qua việc ức chế PDE nhóm 4 ở não.
Sự tập họp đồng chất và dị chất của bạch cầu đa nhân
Sự kiện các bạch cầu đa nhân dính với nhau (tập họp đồng chất) hay
dính với các khung Protein ngoại tế bào hoặc tế bào nội mô (tập họp dị chất)
làm gia tăng sự phóng thích các gốc Oxygen độc tố từ 10 đến 100 lần so với
các bạch cầu không kết dính. Nimesulide ức chế sự tập họp này của bạch cầu
bằng cách cản trở sự hoạt hóa các yếu tố cần thiết cho hoạt động kết dính.
Sử dụng Nimesulide rất hiệu quả trong một số bệnh viêm da dị ứng vì sự gắn
kết của các bạch cầu vào tế bào nội mô ở các mạch máu ở da.
Tác động kháng Protein của Nimesulide: vai trò căn bản của

và hai lần cách nhau sau hai tuần, các răng bên cạnh răng khôn nếu có chỉ
định nhổ cũng có thể được nhổ cùng một lần. Phẫu thuật được thực hiện
dưới gây tê vùng gai Spix và gây tê tại chỗ, thuốc tê sử dụng là Lidocain 2%
có thuốc co mạch là Adrenalin 1:100.000.
Trong khi phẫu thuật, phẫu thuật viên ghi nhận
Tổng liều thuốc tê được dùng cho mỗi trường hợp. Số răng nhổ. Thời
gian bắt đầu gây tê. Thời gian phẫu thuật. định lượng máu chảy. Định mức
độ chấn thương. Sau phẫu thuật, bệnh nhân sẽ nhận hai hộp thuốc. Một hộp
có ghi là thuốc điều trị (Nimesulide cho lần nhổ đầu tiên và Paracetamol cho
lần nhổ sau). Một hộp có ghi là thuốc cứu trợ (6 viên Paracetamol 500mg).
Một bảng câu hỏi.
Về nhà, bệnh nhân tự ghi nhận
Thời gian hết cảm giác tê. Thời gian và cường độ đau ngay trước khi
uống hai viên thuốc trong hộp thuốc điều trị (bệnh nhân đã được thông báo
chỉ bắt đầu uống thuốc khi cơn đau vừa phải hay dữ dội). Cường độ đau sau
mỗi giờ trong khoảng 6 giờ liên tiếp kể từ khi dùng hai viên thuốc đầu tiên.
Nếu sau khi uống thuốc trong hộp thuốc điều trị mà cơn đau vẫn còn dữ dội
không thể chịu đựng được thì bệnh nhân uống thêm hai viên trong hộp thuốc
cứu trợ, nhưng chỉ uống sau khi uống thuốc điều trị hai giờ còn thì nên cố
gắng chiụ đựng trừ trường hợp đau không chịu nổi.
Khi dùng thuốc trong hộp thuốc cứu trợ, bệnh nhân ghi lại thời gian
và liều dùng.
Trong thời gian này, bệnh nhân không dùng thêm thuốc giảm đau nào
khác, chỉ được dùng kèm với thuốc kháng sinh phổ rộng thông thường như
Amoxicicline 500mg, 1 viên x 3 lần /ngày.
Trong khi dùng thuốc, nếu gặp các tai biến thì ghi lại loại tai biến, thời
gian xảy ra.
Đánh giá kết quả
Thời gian tê: được tính từ khi bắt đầu chích cho đến khi bệnh nhân hết
cảm giác tê. Thời gian dùng thuốc: được tính từ khi bắt đầu gây tê cho đến

phẫu thuật viên sau phẫu thuật.
Số liệu bệnh nhân
Phái: Số
lượng
Tỉ lệ
Nam 24 48 %

Nữ 26 52 %

Tuổi: thay đổi từ 19 đến 38, trung bình 25.660  4.680.
Cân nặng: thay đổi từ 35 đến 68 kg, trung bình 51.020  8.522.
Số liệu kỹ thuật
Đánh giá thời gian phẫu thuật: (phút)

Trung
bình
Đ
ộ lệch
chuẩn
Nimesulide

8,300

2,452
Paracetamol

8,560

3,913


64,539
p
=0,297 >
0,05
Đánh giá mức độ chấn thương
Nhi
ều
(3)
Trung
bình (2)
Ít
(1)
TB
ĐLC
Nimesulide

0 19 31 1.380
 0.490
Paracetamol

0 26 24 1.520
 0.505

P=0.16
> 0.05
Đánh giá mức độ chảy máu:
Nhi
ều
(3)
Trung

4
5
1
0
L
úc
uống
0
1
4
4
1
2
3
1
giờ
sau
3
5
5
6
8
00
1
2
4
5

1
4
3
3
0
5
giờ
sau
2
2
1
2
9
1
0
00
1
2
4
5
1
0
6
giờ
sau
2
7

giờ
sau
0 3 0
5
giờ
sau
3 0 2 0
6
giờ
sau
5 4 0
So sánh giữa hai nhóm
Nimesulide

Paracetamol

t p
Lúc
uống
thuốc
5,720

2,176
5,720

2,204
0,000


0,115
4
giờ sau
2,378

1,542
3,685

1,920
2,067

0,041
5
giờ sau
1,060

1,150
1,880

1,934
2,576

0,01
6
giờ sau
0,760

0,960
1,580

4
giờ sau
22 24 4 0
5
giờ sau
25 25 0 0


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status