VAI TRÒ CỦA SINH THIẾT TỨC THÌ TRONG PHẪU THUẬT SOAVE XUYÊN HẬU MÔN TÓM TẮT - Pdf 20

VAI TRÒ CỦA SINH THIẾT TỨC THÌ TRONG PHẪU THUẬT
SOAVE XUYÊN HẬU MÔN

TÓM TẮT
Mục tiêu: Nhằm đánh giá vai trò của phương pháp cắt lạnh trong
phẫu thuật Soave xuyên hậu môn của bệnh Hirschsprung thông qua tính
chính xác và nhanh chóng.
Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu 55 mẫu tươi được lấy từ những
vị trí nghi ngờ ở bệnh nhân có đại tràng to. Đối chiếu với kết quả giải phẫu
bệnh của cắt thường để đưa ra chẩn đoán chính xác.
Kết quả: Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 9 ngày tuổi, lớn tuổi nhất là 7
tuổi. Nam/nữ là 3/1. Độ nhạy của phương pháp cắt lạnh là 100%, độ đặc
hiệu 83,3%.
Kết luận: Cắt lạnh trở thành một phương pháp có giá trị trong việc hỗ
trợ phẫu thuật viêntrong chẩn đoán và điều trị bệnh Hirschsprung.
.ABSTRACT
THE ROLE OF FROZEN SECTION IN TRANSANAL SOAVE
PROCEDURE OPERATION IN HUE CENTRAL HOSPITAL
Pham Nguyen Cuong * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 11 –
Supplement of No 3 - 2007: 101 - 105
Purpose: Evaluating the role of the frozen section method in
Transanal Soave procedure operation through its accuracy and rapidity.
Materials and methods: Prospective study on 55 fresh samples taken
from the suspective position of Megacolon patients during operation and
after that compare with the post-operation result (H.E staining) to confirm
the accuracy of the diagnosis.
Results: 55 patients were assigned into study, the youngest: 9 day-
old, the oldest: 7 y.o. Male/ female: 3/1. Age under 1 month: 58,2%.
Sensitivity of frozen section is 100%, specificity is 83,3%.
Conclusion: The method of frozen section is valuable to the
Transanal Soave procedure operation because of its accuracy and rapidity,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu:
1. Đánh giá vai trò của sinh thiết tức thì trong việc chẩn đoán bệnh
Hirschsprung trong phẫu thuật Soave xuyên hậu môn thông qua tính chính
xác và tính nhanh nhậy của nó.
2. Nhận xét một số đặc điểm dịch tễ của bệnh Hirschsprung.
ĐỐI TƯỢNG -PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng
Gồm 55 bệnh nhi được mổ cắt đoạn đại tràng do mắc bệnh
Hirschsprung tại Bệnh viện Trung ương Huế theo phương pháp Soave
đường hậu môn.
Phương pháp
Chúng tôi tiến hành phương pháp nghiên cứu tiến cứu.
Lâm sàng
Các bệnh nhân được ghi nhận đầy đủ các thông tin lâm sàng: tuổi
giới, vị trí bị bệnh và một số xét nghiệm khác.
Chẩn đoán Sinh thiết tức thì
- Bệnh phẩm
Các vùng nghi ngờ tổn thương được bấm sinh thiết ngay trong phẫu
thuật.
- Bệnh phẩm tươi (không cố định formol 10%) được cắt mảnh và làm
lạnh bằng gel Tissue-tek (của hãng Sakura-Nhật) trên máy cắt lạnh
(Microtome cryostal HM505E) ở nhiệt độ -30
o
C.
- Mẫu mô được cắt các lát có độ dày 3-5 m, dàn trên ít nhất 4 tiêu
bản.
- Các tiêu bản được nhuộm bằng phương pháp H-E.
- Kết quả được đánh giá trên kính hiển vi quang học có các độ phóng
đại khác nhau (từ 300 – 600 lần). Thời gian từ khi mẩu mô được lấy ra khỏi
cơ thể bệnh nhân đến khi có kết quả khoảng 15-20 phút.

3,6%

29%

9%

100%

Nhận xét: Độ tuổi sơ sinh chiếm tỉ lệ lớn nhất (58,2%). Bệnh nhân
thấp tuổi nhất là 9 ngày tuổi, lớn tuổi nhất là 7 tuổi.
Phân bố theo giới
Bảng 2: Phân bố theo giới
Giới Số
trường
hợp
Tỉ lệ %

Nam 43 78%
Nữ 12 22%
Tổng 55 100%
Nhận xét: Phần lớn nam giới mắc bệnh Hirshprung, chiếm 78%. Tỉ lệ
nam/nữ là 3,6.
Đối chiếu giữa chẩn đoán STTT và sinh thiết nến sau phẫu thuật
Bảng 3: Đối chiếu giữa chẩn đoán STTT và sinh thiết nến sau phẫu
thuật
Dương tính Âm tính

N

Chính

trường
hợp
50 4 1
Tỉ
lệ %
90,9

7,3

1,8

Nhận xét: Có 4 trường hợp chúng tôi phải lấy mẫu lần 2, 1 lấy mẫu
lần 3 và làm tiếp sinh thiết tức thì.
BÀN LUẬN
Một số đặc điểm lâm sàng:
Trong nghiên cứu của chúng tôi (bảng 1), 55 bệnh nhi được phẫu
thuật điều trị bệnh Hirschsprung theo phương pháp Soave có độ tuổi từ 20
ngày tuổi đến 7 tuổi. Teeraratkul và cs (2003) thấy rằng tuổi mắc bệnh mở
rộng từ 1 tháng tới 6 tuổi
(6)
. Trong nghiên cứu của Thepcharoennirund và cs
(2004) độ tuổi mắc bệnh từ 7 tháng tuổi đến 10 tuổi và từ 8 ngày tới 14 tuổi
theo nghiên cứu của Elhalaby và cs (2004)
(1,8)
. Như vậy độ tuổi mắc bệnh
trong nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự với nghiên cứu của các tác giả
trên.
Chúng tôi nhận thấy rằng nam giới thường mắc bệnh cao hơn nữ giới, tỷ
lệ nam/nữ trong nghiên cứu của chúng tôi là: 3/1. Một số tác giả nước ngoài
cũng đồng ý rằng tỷ lệ mắc bệnh Hirschsprung ở nam giới có thể lên tới

(2,5)
.
Tuỳ thuộc vào phạm vi và vị trí của đoạn không có tế bào hạch, bệnh
được chia làm nhiều thể:
- Thể kinh điển: đoạn không có tế bào hạch bắt đầu ở đoạn đại trực
tràng xa và lan rộng một khoảng đáng kể tới đoạn ruột gần bị dãn gần kề.
- Thể đoạn ngắn: đoạn không có tế bào hạch liên quan tới trực tràng và
trực đại tràng xích ma một khoảng chỉ vài cm, khoảng 3cm đoạn đại tràng xa bị
ảnh hưởng (thể phổ biến nhất).
- Thể đoạn cực ngắn: trong biến thể này, đoạn không có tế bào hạch hẹp
đến nỗi chẩn đoán có thể bị nhầm nếu sinh thiết được lấy quá cao.
- Thể đoạn dài: bất thường rộng hơn, liên quan tới hầu hết hoặc tất cả
đại tràng và đôi khi lan tới cả ruột non. Các bệnh nhân này biểu hiện các
triệu chứng tắc ruột không có megacolon.
Không có tế bào hạch đại tràng vùng: Chỉ một đoạn đại tràng ngắn bị
ảnh hưởng. Ngược lại với các thể trên, ở biến thể này các tế bào hạch có
không chỉ ở trên mà còn cả ở dưới đoạn không có hạch.
Để chẩn đoán bệnh Hirshprung cần sinh thiết thành cơ dày của trực
tràng và kiểm tra sự có mặt của tế bào hạch trong đám rối myenteric. Vì tế
bào hạch bình thường nằm rải rác gần cơ thắt hậu môn trong. Theo chuẩn
mực, sinh thiết nên lấy ở điểm cách van hậu môn 2 cm ở trẻ nhỏ và 3 cm ở
trẻ lớn, thậm chí một vài tác giả tin rằng sinh thiết cách van hậu môn 1-1,5
cm cũng đủ chẩn đoán. Nếu trên sinh thiết có biểu mô vảy hoặc biểu mô
chuyển tiếp thì sinh thiết là quá thấp
(2,6,9,10)
.
Cắt lạnh (frozen section) được sử dụng thường quy để kiểm tra sự
không có tế bào hạch và xác định mức độ cắt ruột trong phẫu thuật. Sinh
thiết mảnh toàn bộ bề dày thành ruột và cần được bấm vuông góc để tổ chức
có thể được định vị thích hợp. Để đánh giá độ tin cậy của cắt lạnh, mảnh

lâm sàng cần phải xác định được đúng vùng nghi ngờ tổn thương không có
hạch giao cảm và kỹ thuật sinh thiết cần phải chuẩn mực và đúng kỹ thuật.
Phẫu thuật viên nên sinh thiết một mảnh toàn bộ thành cơ và được bấm
vuông góc để tổ chức có thể được định vị thích hợp. Để đánh giá độ tin cậy
của cắt lạnh, mảnh sinh thiết được kiểm tra nên dài ít nhất 4mm và nên cắt
hàng loạt nhiều mảnh.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 55 trường hợp Hirschsprung được chẩn đoán bằng
sinh thiết tức thì chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
1. Bệnh nhân nam chiếm ưu thế trong bệnh Hirschprung, tỉ lệ
nam/nữ mắc bệnh là 3/1. Độ tuổi mắc bệnh từ 9 ngày tuổi đến 7 tuổi, nhóm
tuổi thường gặp là nhóm tuổi sơ sinh chiếm 58,2%.
2. Sinh thiết tức thì trở thành một phương pháp chẩn đoán có giá trị
giúp các Phẫu thuật viên căn cứ vào đó để tìm kiếm hạch thần kinh nhanh,
trong mổ, chủ động cắt đúng và đủ các đoạn đại tràng vô hạch thần kinh ở
những bệnh nhân Hischprung trong phẫu thuật Soave xuyên hậu môn, nhằm
đem lại kết quả phẫu thuật tốt nhất cho bệnh nhân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status