Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
-30-
Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ góp phần hỗ trợ cho việc phân loại
nợ, quản lý chất lượng tín dụng phù hợp với phạm vi hoạt động, tình hình
thực tế của mỗi ngân hàng. Hệ thống xếp hàng tín dụng nội bộ của các ngân
hàng có thể có một số nội dung khác nhau phù hợp với hoạt động của mỗi
loại hình ngân hàng nhưng có những nội dung chung như: Các tiêu chí đánh
giá khách hàng chi tiết, cụ thể theo một hệ thống, quy trình trên c ơ sở đánh
giá khách hàng cả yếu tố định tính và định lượng. Theo đó phân chia khách
hàng thành 2 nhóm (Cá nhân và doanh nghiệp) với 10 hạng như sau:
+ Nhóm A: 3 hạng (AAA, AA, A), khá ch hàng tốt, đảm bảo khả năng
thu hồi đầy đủ nợ gốc, lãi tiền vay đúng hạn, rủi ro thấp.
+ Nhóm B: 3 hạng (BBB, BB, B): khách hàng quan hệ lần đầu, hoặc có
dấu hiệu suy giảm tài chính, không được ưu đãi khi cho vay, có khi phải hạn
chế cho vay.
+ Nhóm C: 3 hạng (CCC, CC, C) khách hàng yếu, có khả năng không
thanh toán được một phần nợ gốc, lãi tiền vay, khách hàng thuộc hạng này bị
hạn chế tối đa tín dụng, phải xử lý nợ bằng mọi biện pháp.
+ Nhóm D: khách hàng đặc biệt yếu kém, nợ gốc và lãi vay bị tổn thất
toàn bộ; khách hàng hạng này không được cho vay mới và tìm mọi biện pháp
xử lý, kể cả cưỡng chế và khởi kiện.
1.2.4. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Tín dụng Ngân hàng là hoạt động quan trọng đối với mỗi ngân hàng nói
riêng và đối với nền kinh tế nói chung. Đối với nền kinh tế tín dụng ngân
hàng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chính sách kinh tế của
Nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Đối với Ngân hàng, tín dụng Ngân hàng là một hoạt động mang lại phần
lớn thu nhập cho Ngân hàng do đó đánh giá đúng hiệu quả tín dụng sẽ giúp các
hàng Nhà nước ban hành, thẩm định cẩn thận trước khi cho vay, thường
xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn của người vay, lập quỹ dự phòng rủi ro
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
-32-
1.2.4.1. Chỉ tiêu chung
Doanh số cho vay
a) Doanh số cho vay bq 1 khách hàng =
Tổng số khách hàng
Chỉ tiêu này phản ánh số tiền vay mỗi lượt của mỗi khách hàng. Số tiền
càng cao chứng tỏ t ăng trưởng tín dụng càng nhanh, thể hiện mức sản xuất
cũng như quy mô hoạt động sản xuất, kinh doanh của khách hàng tăng lên.
Doanh số thu nợ
b) Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ bq 1 khách hàng
Đây là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng.
Vòng quay càng lớn với số dư nợ luôn tăng chứng tỏ đồng vốn Ngân hàng bỏ
ra đã được sử dụng một cách có hiệu quả. Tuy nhiên nếu số vòng quay tăng
quá nhanh có thể là do biểu hiện của sự giảm số dư nợ trong kỳ, điều này là
không tốt vì giảm dư nợ dễ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn.
Dư nợ trung, dài hạn hộ sản xuất
c) Tỷ trọng vốn vay trung dài hạn =
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn của
khách hàng để mở rộng sản xuất kinh doanh cũng như việc cơ cấu nguồn
ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn của ngân hàng ảnh hưởng mức độ rủi ro
Tổng dư nợ cho vay
Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất lượng tín dụng: Chỉ số
này càng cao thì chất lượng tín dụng ngày càng giảm và ngược lại. Vì vậy chỉ
số này càng thấp càng tốt, nó chứng tỏ hoạt động TDNH đối với hộ sản xuất
có hiệu quả cao. Hoạt động TDNH chứa đựng rất nhiều rủi ro ảnh hưởng đến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
-34-
sự an toàn trong kinh doanh của Ngân hàng. Do vậy việc đảm bảo thu hồi đủ
vốn đúng thời hạn thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu thấp là vấn đề quan trọng trong
quản lý, liên quan đến sự sống còn của Ngân hàng. Việc phân tích tình hình
nợ xấu luôn được tiến hành thường xuyên và kết quả thu được là thông tin
giúp cho Ngân hàng có kế hoạch kinh doanh thích hợp cho những giai đoạn
tiếp theo.
Nợ khó đòi chưa thu được
g) Tỷ lệ nợ khó đòi = x100%
Tổng nợ khó đòi
Tỷ lệ này ở mức cao là dấu hiệu cho thấy nguy cơ mất vốn cao, dẫn đến
rủi ro cho Ngân hàng.
Lợi nhuận thuần
h) Doanh lợi doanh thu = x100%
Doanh thu thuần
Ngoài những chỉ tiêu định hướng trên, mức lợi nhuận của Ngân hàng
cũng là chỉ tiêu quan trọng xem xét chất lượng tín dụng. Tỷ lệ này càng lớn
càng tốt, nó phản ánh trong một đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng lợi
nhuận thuần. Qua đó thấy được tình hình quản lý chi phí của Ngân hàng.
Lợi nhuận
Đảm bảo tiền vay bằng những tài sản có thể chuyển nhượng theo quy
định của pháp luật của chính khách hàng hay bên thứ ba cam kết bảo lãnh cho
khách hàng sự phòng ngừa tổn thất xảy ra khi khách hàng mất khả n ăng trả
nợ và đảm bảo vốn vay của ngân hàng có thể thu hồi được.
d) Mức độ quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng:
Những khách hàng có quan hệ tín dụng thường xuyên đối với ngân
hàng và được ngân hàng đánh giá cao sẽ có những khoản tín dụng thực sự có
chất lượng, do thông tin tương xứng, ít có rủi ro về đạo đức của người vay,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
-36-
hoặc việc xem xét cấp tín dụng sẽ dễ dàng hơn khi cấp tín dụng cho các
khách hàng mới.
1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
1.2.5.1. Các nhân tố khách quan
a) Môi trường kinh tế
Hoạt động Ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng đạt
hiệu quả cao hay thấp, rủi ro nhiều hay ít đều có quan hệ gắn bó hữu cơ tới sự
phát triển kinh tế của một quốc gia. Khi nền kinh tế chính trị ổn định tạo điều
kiện nâng cao chất lượng tín dụng và ngược lại.
Xét trên phương diện tổng thể, nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận
lợi cho hoạt động tín dụng. Cụ thể nó làm cho quá trình sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp, cá nhân tiến hành và phát triển một cách bình thường,
không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố lạm phát, khủng hoảng làm cho việc vay
và trả nợ không bị biến động lớn. Trong trường hợp này tín dụng phụ thuộc
vào khả năng quản lý của chính bản thân các Ngân hàng.
Tuy vậy, để xã hội tồn tại và phát triển đòi hỏi nền kinh tế phải có sự
tăng trưởng và phát triển. Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế một số nước đã sử
dụng. Nếu mức lãi suất cao hơn mức lợi nhuận của doanh nghiệp thì doanh
nghiệp sẽ khó có khả năng trả nợ Ngân hàng, ảnh hưởng đến quá trình tái sản
xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp nói riêng và sự phát
triển của nền kinh tế nói chung. Lúc này TDNH không còn là đòn bẩy thúc
đẩy sản xuất phát triển và theo đó chất lượng tín dụng cũng bị ảnh hưởng.
b) Môi trường xã hội
Tín dụng là sự vay mượn trên cơ sở lòng tin, nghĩa là quan hệ tín dụng
là sự kết hợp giữa 3 yếu tố: nhu cầu của khách hàng, khả năng của Ngân hàng
và sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau. Vì vậy, chất lượng tín dụng phụ thuộc
vào 3 yếu tố trên, trong đó sự tin tưởng là cầu nối quan hệ giữa Ngân hàng với
khách hàng. Ngân hàng có uy tín càng cao thì thu hút được lượng khách hàng
càng lớn. Khách hàng có tín nhiệm với Ngân hàng thường được vay vốn dễ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
-38-
dàng và được tạo điều kiện thuận lợi hơn những đối tượng khách hàng khác.
Tín nhiệm là cơ sở, là tiền đề để không ngừng cải tiến chất lượng tín dụng.
Về phía khách hàng: là những doanh nghiệp, hộ sản xuất đại diện cho
bên cung về nguồn vốn đồng thời cũng là bên cầu về vay vốn. Khi với tư cách
là người cung ứng vốn, họ mong muốn nhận được từ Ngân hàng một khoản
lãi tiền gửi hay những dịch vụ thanh toán thuận tiện. Sự tín nhiệm của khách
hàng với Ngân hàng sẽ làm tăng tính ổn định của nguồn vốn huy động. Với tư
cách là người đi vay, họ mong muốn nhu cầu vay của mình được đáp ứng với
lượng tiền, thời hạn, lãi suất phù hợp. Nếu nhu cầu vốn của khách hàng được
chấp nhận với thái độ ân cần, thủ tục đơn giản sẽ thu hút được nhiều khách
hàng tốt, khách hàng truyền thống, tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng được
thuận lợi, chất lượng tín dụng được đảm bảo.
Bên cạnh các yếu tố trên, chất lượng tín dụng còn chịu ảnh hưởng của
mạnh, ổn định, đảm bảo cho hoạt động của Ngân hàng được an toàn và hiệu quả.
d) Môi trường nhân khẩu học
Trong môi trường nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần cạnh tranh
khốc liệt, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chứa đựng rất
nhiều rủi ro, từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Trong quan hệ tín
dụng, doanh nghiệp là người được ngân hàng tín nhiệm trao quyền sử dụng
vốn. Vì vậy, rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng chính là
rủi ro của ngân hàng. Điều khẳng định này buộc chúng ta phải tiến hành xem
xét vấn đề về người cho vay có liên quan thế nào tới hiệu quả tín dụng.
- Trình độ quản lý, kỹ năng kinh doanh của khách hàng còn nhiều hạn
chế, trong khi đây chính là yếu tố hết sức quan trọng, quyết định hiệu quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp khi vay vốn họ lập
phương án sản xuất kinh doanh rất hiệu quả, chứng minh đầu vào và đầu ra khả
thi, nhưng do không tính h ết đến biến động của thị trường nên bị thua lỗ. Trong
một số món vay trung và dài hạn để nhập máy móc thiết bị, do phân tích dự án
không chính xác dẫn đến máy móc nhập về không phát huy được tác dụng gây