32 Bàn về cách tính khấu hao tại sản cố định và phương pháp Kế toán khấu hao tại sản cố định theo chế độ hiện hành trong Doanh nghiệp - Pdf 20

NguyÔn ThÞ V©n Anh Bµn vÒ c¸ch tÝnh khÊu hao...…
LỜI MỞ ĐẦU
Mọi doanh nghiệp dù hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận hay vì mục
tiêu Xã hội, dù có cơ cấu tổ chức phức tạp hoặc đơn giản đều cần có kế
toán. Kế toán các phần hành là hoạt động theo dõi, phản ánh nhằm thông
tin về tình hình từng tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp cho nhà quản lý
và những người quan tâm.
Kế toán Tài sản cố định ( TSCĐ) là một phần hành đóng vai trò
quan trọng trong các phần hành kế toán TSCĐ là phần tài sản có giá trị lớn
trong thời gian sử dụng lâu dài. Tuy nhiên, trong hoạt động sản xuất kinh
doanh TSCĐ không thể tồn tại mãi hình thái ban đầu, nó sẽ bị mất đi về
mặt giá trị và người ta gọi đó là khấu hao TSCĐ. Theo chế độ kế toán hiện
hành, khấu hao nhằm kết hợp hợp lý chi phí và thu nhập. Tuy nhiên, do
tính chất TSCĐ khác nhau, do việc hạch toán kế toán TSCĐ trong các
doanh nghiệp là khác nhau, nên mỗi doanh nghiệp có các phương pháp
tính khấu hao TSCĐ và đưa vào chi phí sản xuất kinh doanh khác nhau.
Nghiên cứu về cách tính khấu hao TSCĐ và hạch toán khấu hao
TSCĐ trong doanh nghiệp là chủ đề rất thực tế hiện nay. Nhằm đưa ra sự
phù hợp nhất có lợi cho hoạt động từng doanh nghiệp, giải quyết những bất
cập của chế độ khấu hao TSCĐ hiện nay và có được những thông tin đầy
đủ nhất về khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp.
Qua đề tài “Bàn về cách tính khấu hao Tài sản cố định và phương
pháp kế toán khấu hao Tài sản cố định theo chế độ hiện hành trong Doanh
nghiệp” em xin đưa ra một số ý kiến nhằm giải quyết và khắc phục những
khó khăn mà các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp phải. Em hi vọng rằng
đây cũng là một tài liệu tham khảo quan trọng cho những doanh nghiệp
đang mắc phải khó khăn về khấu hao TSCĐ. Em xin chân thành cảm ơn
Giảng viên PGS.TS. Phạm Thị Gái đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.
Líp: KÕ To¸n 42B 1
NguyÔn ThÞ V©n Anh Bµn vÒ c¸ch tÝnh khÊu hao...…
PHẦN NỘI DUNG

Phân loại TSCĐ được thực hiện theo các hình thức sau:
2.1 Theo hình thái vật chất.
TSCĐ hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do doanh
nghiệp lắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với
qui định ghi nhận TSCĐ hữu hình.
TSCĐ vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng
xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất
kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp
với tiên chuẩn của TSCĐ vô hình.
2.2 Theo quyền sở hữu.
TSCĐ của doanh nghiệp: là những TSCĐ mà doanh nghiệp có đầy
đủ 3 quyền định đoạt quản lý và sử dụng.
TSCĐ đi thuê: là những tài sản mà doanh nghiệp không được quyền
định đoạt.
2.3 Theo phương thức hình thành TSCĐ.
TSCĐ được hình thành theo phương thức khác nhau như:
TSCĐ do doanh nghiệp tự mua sắm là những TSCĐ mà doanh
nghiệp mua bằng nguồn vốn chủ sở hữu hoặc vốn vay.
TSCĐ là sản phẩm xây dựng cơ bản hoàn thành là những tài sản
được hình thành qua đầu tư xây dựng cơ bản.
TSCĐ hình thành do trao đổi là những TSCĐ được hình thành do
doanh nghiệp trao đổi với các đối tượng khác bằng sản phẩm hàng hoá
dịch vụ hoặc bằng các tài sản khác không phải là tiền.
TSCĐ nhận của đơn vị khác góp vốn liên doanh.
Líp: KÕ To¸n 42B 3
NguyÔn ThÞ V©n Anh Bµn vÒ c¸ch tÝnh khÊu hao...…
TSCĐ nhận được từ đơn vị liên doanh dưới hình thành nhận lại vốn
hoặc nhận lại thu nhập.
TSCĐ tiếp nhận từ đơn vị xác nhập.
TSCĐ được biếu tặng hoặc viện trợ không hoàn lại.

Trong trường hợp các yếu tố tác động( như việc nâng cấp hay tháo gỡ một
hay một số bộ phận của TSCĐ…) nhằm kéo dài hoặc rút ngắn thời gian sử
dụng trước đó của TSCĐ, doanh nghiệp tiến hành xác định lại thời gian sử
dụng của TSCĐ trên đây tại thời điểm hoàn thành các nghiệp vụ phát sinh.
Doanh nghiệp phải lập biên bản nêu rõ các căn cứ làm thay đổi thời gian sử
dụng và thời gian sử dụng mới của TSCĐ và đăng ký lại với cơ quan tài
chính trực tiếp quản lý.
Các doanh nghiệp khi đăng ký thời gian sử dụng của TSCĐ ( đã
được xác định theo các qui định trên đây) với cơ quan tài chính trực tiếp
quản lý, phải nêu rõ tên, loại tài sản, các căn cứ để xác định thời gian sử
dụng, của các loại TSCĐ đã đăng ký trước đó.
Đối với các TSCĐ thuê tài chính thời gian sử dụng TSCĐ được xác
định là thời gian thuê TSCĐ ghi trong hợp đồng.
1.2 Đối với TSCĐ vô hình thời gian sử dụng do doanh nghiệp tự quyết
định cho phù hợp nhưng không quá 40 năm và cũng không dưới 5
năm.
1.3 Phương pháp khấu hao TSCĐ
TSCĐ trong doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương pháp
đường thẳng, nội dung như sau:
+ Căn cứ vào các qui định trong chế độ này doanh nghiệp xác định
thời gian sử dụng của TSCĐ và đăng ký với các cơ quan tài chính trực tiếp
quản lý.
+ Xác định mức trích khấu hao trung bình hằng năm cho TSCĐ theo
phương pháp dưới đây;

Líp: KÕ To¸n 42B 5
NguyÔn ThÞ V©n Anh Bµn vÒ c¸ch tÝnh khÊu hao...…
Mức trích khấu hao TB Nguyên giá của TSCĐ
Hằng năm của TSCĐ
=

+TSCĐ không cần dùng,chưa cần dùng đã có quyết định của cơ
quan có thậm quyền cho phép doanh nghiệp được đưa vào cất giữ,bảo
quản,điều động…cho doanh nghiệp khác;
+TSCĐ thuộc dự trữ nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý,gữ hộ;
+TSCĐ phục vụ các hoạt động phúc lợi trong doanh nghiệp;TSCĐ
của các đơn vị sự nghiệp,quốc phòng, an ninh (trừ những đơn vị thực hiện
hạch toánkinh tế) trong doanh nghiệp; những TSCĐ phục vụ nhu cầu
chung toàn Xã Hội không phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp như đê đập…vv nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý;
+ TSCĐ không tham gia vào hoạt động kinh doanh.
- Doanh nghiệp thực hiện việc quản lý, theo dõi các TSCĐ phục vụ
mục đích phúc lợi, TSCĐ của các đơn vị sự nghiệp, quốc phòng, an
ninh( trừ những đơn vị thực hiện hách toán kinh tế) trong doanh nghiệp;
TSCĐ phục vụ nhu cầu chung toàn XH không phục vụ hoạt động kinh
doanh của riêng doanh nghiệp mà nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý
như đối với TSCĐ cố định dùng trong hoạt động kinh doanh. Doanh
nghiệp xác định và theo dõi mức hao mòn của các TSCĐ này( nếu có) mức
hao mòn hằng năm được xác định bằng cách lấy nguyên giá chia cho thời
gian sử dụng TSCĐ xác định theo qui định.
Nếu TSCĐ có tham gia vào hoạt động kinh doanh thì trong thời gian
TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp thực hiện tính và
trích khấu hao vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
1.6 Doanh nghiệp không được tính và trích khấu hao đối với
những TSCĐ đã khấu hao hết nhưng vẫn sử dụng vào hoạt động kinh
doanh.
Đối với những tài sản chưa khấu hao hết đã hỏng doanh nghiệp phải
xác định nguyên nhân, qui trách nhiệm đền bù, đòi bồi thường thiệt hại…
và xử lý tổn thất theo qui định trong chế độ.
Líp: KÕ To¸n 42B 7
NguyÔn ThÞ V©n Anh Bµn vÒ c¸ch tÝnh khÊu hao...…

nghiệp đối với tài sản…;
+ Hao mòn vô hình phát sinh do việc thay đổi hay cải tiến dây truyền công
nghệ hay do sự thay đổi nhu cầu của thị trường về sản phẩm hoặc dịch vụ
do tài sản đó sản xuất ra;
+ Giới hạn có tính pháp lý trong việc sử dụng tài sản, thời gian kiểm soát
tài sản;
+Vòng đời của sản phẩm;
+Tính ổn định của ngành sử dụng tài sản đó và sự thay đổi về nhu cầu thị
trường đối với các sản phẩm hoặc việc cung cấp dịch vụ mà tài sản đó đem
lại;
+ Hoạt động dự tính của các đối thủ cạnh tranh hiện tại hoặc tiềm tàng;
+Sự phụ thuộc thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ vô hình với các tài sản
khác trong doanh nghiệp.
2.3 Cách tính khấu hao TSCĐ
Mục đích:
Như đã biết một trong những mục tiêu chính của Kế toán- Tài chính
là kết hợp chi phí và thu nhập tạo thành sao cho quá trình sinh lợi của
doanh nghiệp trong một kỳ hoạt động. TSCĐ được mua về và sử dụng để
giúp các doanh nghiệp đạt được mục tiên của mình. Vì TSCĐ có thời gian
sử dụng hạn chế( ngoại trừ đất đai) nên một khoản chi phí hoặc tiêu hao
của TSCĐ trong quá trình tạo ra lợi tức. Khoản chi này được gọi là chi phí
khấu hao để ước tính được số khấu hao các doanh nghiệp có thể lựa chọn
các phương pháp tính khấu hao tuỳ theo TSCĐ cho hoạt động sản xuất
kinh doanh và trình độ quản lý cũng như trình độ kế toán của doanh nghiệp
Mặt khác báo cáo thu nhập và bảng tổng kết tài sản được lập và gửi
cho các nhà đầu tư, ban quản trị và những người khác để giúp họ ra các
quyết định liên quan đến doanh nghiệp.Do đó, cần phải lựa chọn một
Líp: KÕ To¸n 42B 9
NguyÔn ThÞ V©n Anh Bµn vÒ c¸ch tÝnh khÊu hao...…
phương pháp khấu hao có liên quan đến việc kết hợp chi phí và thu nhập

Theo phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần, số khấu hao hằng năm
giảm dần trong suất thời gian sử dụng hữu ích của tài sản. Nghĩa là doanh
nghiệp sẽ tăng cường số khấu hao trong những năm đầu.
Mức KH năm = Giá trị còn lại * Tỉ lệ khấu hao
Tỉ lệ khấu hao theo phương pháp này được xác định bằng cách lấy tỉ lệ
khấu hao theo phương pháp đường thẳng nhân với một hệ số thích hợp.
Chẳng hạn nếu thời gian khấu hao theo phương pháp đường thẳng nhỏ hơn
5 năm thì hệ số có thể xác định bằng 1; tử 5 năm đến 10 năm thì hệ số là
2…
Như vậy, theo phương pháp giá trị tận dụng không được tính đến, tỉ
lệ khấu hao được tính bằng cách nhân một hệ số với tỉ lệ khấu hao theo
phương pháp đường thẳng. Tỉ lệ này được áp dụng hàng năm cho các giá
trị ghi sổ giảm dần của TSCĐ.
Cũng theo phương pháp này giá trị ghi sổ của TSCĐ không bao giờ
bằng không. Do đó, khi TSCĐ được bán, trao đổi, hoặc tận thu, giá trị ghi
sổ còn lại được sử dụng để xác định lãi hoặc lỗ của việc chuyển nhượng
đó. Nhưng nếu một TSCĐ có giá trị tận dụng thỉ TSCĐ không thể được
khấu hao quả giá trị tận dụng.
Giá trị ghi sổ được định nghĩa như số dư được phản ánh trên bản
tổng kết tài sản, có nghĩa là giá vốn tài sản trừ cho số dư của khấu hao tích
luỹ. Giá trị còn lại không được quan tâm đến trong phương pháp. giá vốn
còn lại của TSCĐ không được phép thấp hơn giá trị còn lại.
2.3.3 Phương pháp khấu hao theo sản lượng sản phẩm.
Phương pháp này dựa trên tổng số đơn vị sản lương ước tính tài sản
có thể tạo ra.
Líp: KÕ To¸n 42B 11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status