Luận văn tốt nghiệp
Lời cảm ơn
Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến tất cả các Thầy Cô
giáo trong bộ môn kiểm toán, đặc biệt là Th.S Trần Mạnh Dũng và các Anh, Chị
KTV, BGĐ Công ty Kiểm toán và Tư vấn Tài chính đã giúp em hoàn thành luận
văn tốt nghiệp của mình.
Trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu liên quan đến đề tài của luận văn,
cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn em đã nhận được sự giúp đỡ,
hướng dẫn chỉ bảo rất tận tình của Thầy Trần Mạnh Dũng cũng như của các
Anh, Chị KTV trong Công ty.
Do thời gian để hoàn thành luận văn không nhiều và do còn hạn chế về
kiến thức nên trong quá trình hoàn thiện luận văn em đã gặp rất nhiều khó khăn
nhưng dưới sự hướng dẫn rất logic, khoa học và tận tình của Th.S Trần Mạnh
Dũng em đã hoàn thành được luận văn của mình. Em xin chân thành cảm ơn
Thầy!
Cuối cùng một lần nữa em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới
các Thầy Cô giáo trong bộ môn kiểm toán, các Thầy Cô trong Hội đồng phản
biện và Thầy Trần Mạnh Dũng đã giúp em hoàn thành luận văn và tự tin trình
bày trước Hội đồng để có thể đạt kết quả cao.
1
Luận văn tốt nghiệp
Lời mở đầu
Trong thời đại hiện nay, cùng với sự vận động và phát triển như vũ bão
của các nước trên Thế giới và trong khu vực, đất nước ta sau nhiều năm đổi mới
nền kinh tế đang từng bước xoay mình hội nhập với sự phát triển của toàn cầu.
Đặc biệt trong tháng 11 năm 2006 vừa qua đất nước ta đã chính thức gia nhập
Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, đánh dấu một bước phát triển vượt bậc về
kinh tế, tạo ra thời cơ cũng như thách thức cho các doanh nghiệp ở Việt Nam.
Song song cùng với đó là sự phát triển ngành nghề kiểm toán. Cho đến nay, tại
Việt Nam đã có tất cả hơn 100 Công ty Kiểm toán dưới nhiều hình thức sở hữu
khác nhau. Yêu cầu phát triển một thị trường kiểm toán năng động, hiệu quả,
chính thực hiện.
Hà Nội, tháng 6/2007
3
Luận văn tốt nghiệp
Chương I
Cơ sở lý luận về kiểm toán Nợ ngắn hạn trong kiểm toán
tài chính
1. Bản chất của Nợ ngắn hạn
1.1. Khái niệm và đặc điểm Nợ ngắn hạn
1.1.1. Khái niệm
Nợ ngắn hạn là một chỉ tiêu trong khoản mục Nợ phải trả. Nợ phải trả là
các nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp, phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã
qua mà doanh nghiệp sẽ phải thanh toán từ các nguồn lực của mình.
Nợ ngắn hạn là các khoản phải trả trong vòng một năm hoặc một chu kỳ
hoạt động kinh doanh bình thường (nếu doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh
bình thường dài hơn một năm). Các khoản này sẽ được trang trải bằng TSLĐ
hiện có, hoặc bằng cách vay các khoản nợ khác. Nợ ngắn hạn là một chỉ tiêu
quan trọng góp phần hình thành nên TS của doanh nghiệp, thể hiện mức độ phụ
thuộc của doanh nghiệp vào các nguồn lực bên ngoài. Trên thực tế không có
một doanh nghiệp nào chỉ sử dụng hoàn toàn nguồn VCSH để phục vụ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh vì hoạt động của doanh nghiệp rất đa dạng, nguồn
VCSH có thể không đủ để đáp ứng yêu cầu thanh toán của doanh nghiệp. Hơn
nữa việc kết hợp sử dụng một cách đúng đắn giữa nguồn VCSH và nguồn vốn
đi chiếm dụng là một cách thức hiệu quả giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô
hoạt động, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, nếu Nợ
ngắn hạn không được quản lý chặt chẽ sẽ làm cho doanh nghiệp mất cân đối về
tài chính và mất khả năng thanh toán, đe dọa đến sự tồn tại của doanh nghiệp.
Nợ ngắn hạn bao gồm các khoản:
- Vay ngắn hạn;
ghi chép đầy đủ. Việc khai thiếu Nợ ngắn hạn có thể dẫn đến kết quả làm cho
tình hình tài chính phản ánh trên BCTC tốt hơn thực tế.
5
Luận văn tốt nghiệp
Trong một số trường hợp có thể dẫn đến khai báo chi phí không đầy đủ và
lợi nhuận tăng giả tạo. Vì vậy KTV phải quan tâm đặc biệt đến mục tiêu sự đầy
đủ.
- Cũng cần phải chú ý rằng các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện các
khoản Nợ ngắn hạn không được ghi chép thì khác với thủ tục phát hiện sự khai
khống tài sản. Sự khai khống tài sản thường dựa trên việc ghi chép không đúng
trên sổ sách kế toán, chẳng hạn ghi các nghiệp vụ không thực sự xảy ra. Những
nghiệp vụ ghi sai này có thể phát hiện được thông qua việc kiểm tra từng số dư
chi tiết hoặc nghiệp vụ được ghi chép liên quan đến số dư tài khoản. Việc xác
định trách nhiệm cá nhân trong trường hợp này cũng tương đối dễ dàng.
- Ngược lại, việc khai thiếu Nợ ngắn hạn thường chỉ là sự bỏ sót nghiệp
vụ hình thành Nợ ngắn hạn, nên thường khó phát hiện hơn khai khống. Mặt
khác, nếu bị phát hiện thì cũng khó xác định đây là lỗi do cố ý hay chỉ do vô tình
bỏ sót. Chính vì thế, một trong những loại sai phạm khó phát hiện nhất là gian
lận bằng cách không ghi chép các nghiệp vụ.
1.2. Hạch toán kế toán về Nợ ngắn hạn
Trong các khoản Nợ ngắn hạn thì hai chỉ tiêu: Phải trả người bán và Vay
ngắn hạn được xem là nguồn tài trợ quan trọng cho TS của doanh nghiệp. Do đó
trong phạm vi luận văn, ngoài các Nợ ngắn hạn nói chung em xin đi sâu vào
nghiên cứu một cách chi tiết hai chỉ tiêu trên.
Do trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp các khoản Nợ
ngắn hạn luôn luôn biến động, và rất hay xảy ra sai sót ở khoản mục này gây ảnh
hưởng trọng yếu tới tính trung thực, hợp lý của BCTC.
Vì vậy, khi hạch toán các khoản Nợ ngắn hạn cần phải tôn trọng một số
nguyên tắc sau:
- Mọi khoản Nợ ngắn hạn của doanh nghiệp cần phải được theo dõi chi
- Các nghiệp vụ khác phát sinh làm giảm nợ phải trả người bán (thanh
toán bù trừ, nợ vô chủ,… )
Bên Có:
7
Luận văn tốt nghiệp
- Tổng số tiền hàng phải trả cho người bán, người cung cấp vật tư, hàng
hoá, lao vụ, dịch vụ và người nhận thầu xây dựng cơ bản, nhận thầu sửa chữa
lớn TSCĐ,…
- Số tiền ứng trước được người bán trả lại.
- Các nghiệp vụ khác phát sinh làm tăng nợ phải trả người bán (chênh lệch
tăng tỷ giá, điều chỉnh tăng giá tạm tính,… )
Tài khoản 331 có thể đồng thời có số dư Nợ và số dư Có.
Dư Nợ: phản ánh số tiền ứng trước hoặc trả thừa cho người bán.
Dư Có: số tiền còn phải trả người bán, nhà cung cấp.
Sơ đồ hạch toán kế toán thanh toán với người bán (tính thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ) được thể hiện như sau:
Sơ đồ 1.1 Kế toán thanh toán với người bán
1.2.2. Hạch toán kế toán các khoản Vay ngắn hạn
Trong quá trình hoạt động, khi VCSH không đủ bù đắp nhu cầu về vốn
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có quyền sử dụng nguồn
vốn Vay ngắn hạn. Vay ngắn hạn là loại vay mà doanh nghiệp có trách nhiệm
8
TK 111, 112, 311, 341 TK 331 TK 111, 112
Thanh toán bằng tiền Thu hồi tiền trả thừa
(kể cả đặt trước)
TK 511 TK 151, 152, 153,
Thanh toán bằng hàng hoá, 211, 213, 241,...
sản phẩm, dịch vụ
TK 131 Giá trị vật tư, tài sản,…
Bên Có: các nghiệp vụ làm tăng tiền Vay ngắn hạn.
Dư Có: số tiền còn Vay ngắn hạn chưa trả (kể cả số vay quá hạn).
Sơ đồ hạch toán kế toán các khoản Vay ngắn hạn được thể hiện như sau:
9
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ 1.2 Kế toán tổng hợp Vay ngắn hạn
2. Kiểm toán Nợ ngắn hạn trong kiểm toán tài chính
2.1. Mục tiêu kiểm toán Nợ ngắn hạn
Do bản chất của kiểm toán là quá trình thu thập bằng chứng kiểm toán để
đưa ra ý kiến về các khía cạnh trọng yếu của BCTC. Vì vậy việc xác định hệ
thống mục tiêu kiểm toán khoa học trên cơ sở các mối quan hệ vốn có của đối
tượng và của khách thể kiểm toán sẽ giúp KTV thực hiện đúng hướng và có hiệu
quả hoạt động kiểm toán. Ngoài ra, mục tiêu kiểm toán còn giúp cho đơn vị
được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất
lượng thông tin tài chính của đơn vị.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 (VSA 200) - Mục tiêu và
nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán BCTC: “mục tiêu của kiểm toán BCTC là
giúp cho KTV và Công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được
lập trên cơ sở Chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận, có
tuân thủ Pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài
chính trên các khía cạnh trọng yếu hay không? ”
10
TK 111, 112 TK 311 TK 111, 112
Thanh toán tiền vay Vay bằng tiền
TK 311 TK 311, 331, 315, 341,
Trả nợ (ứng trước) 521,531,532
Vay thanh toán
cho nhà cung cấp
TK 121, 131, 221 TK 152, 153, 156
Thanh toán tiền vay Vay mua vật liệu,
phản ánh đều là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp. KTV cần phải kiểm tra chủ
quyền thực sự của đơn vị đối với TS như xem xét hợp đồng mua bán, chứng từ,
… và các khoản Nợ ngắn hạn có thực sự là nghĩa vụ của doanh nghiệp hay
không?
Mục tiêu chính xác cơ học: các khoản Nợ ngắn hạn được tính toán và
cộng dồn, chuyển sổ, sang trang chính xác. Trước khi kiểm tra từng đối tượng
chi tiết, KTV cần rà soát lại quá trình tính toán, tổng cộng lũy kế, đối chiếu giữa
số liệu trên sổ chi tiết và Sổ Cái, giữa số liệu trên sổ sách với số liệu trên BCTC.
11
Luận văn tốt nghiệp
Mục tiêu phân loại và trình bày: các khoản Nợ ngắn hạn được phân loại
cho từng đối tượng và trình bày đúng theo các quy định của Chuẩn mực và chế
độ kế toán hiện hành. KTV phải áp dụng các thủ tục kiểm toán thích hợp để dảm
bảo cho mục tiêu này.
Mục tiêu định giá: các khoản Nợ ngắn hạn có gốc ngoại tệ được quy đổi
ra đồng Việt Nam theo đúng giá trị quy đổi là giá hạch toán hay giá thực tế tại
ngày phát sinh nghiệp vụ và theo đúng giá trị nguyên tệ. KTV cần thu thập bằng
chứng để xem TS, Nợ ngắn hạn và nghiệp vụ có được đánh giá theo những
Chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hay không.
2.2. Quy trình kiểm toán Nợ ngắn hạn trong kiểm toán tài chính
Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc
kiểm toán, cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm
căn cứ cho kết luận của KTV về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên
BCTC, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn
như sau: lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán, thực hiện kế
hoạch kiểm toán và kết thúc kiểm toán. Kiểm toán Nợ ngắn hạn là một phần
hành trong kiểm toán tài chính, do đó quy trình kiểm toán Nợ ngắn hạn cũng gắn
liền với quy trình chung của cuộc kiểm toán.
2.2.1. Lập kế hoạch kiểm toán
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 (VSA 300) - Lập kế hoạch
Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát
Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát và thiết kế chương trình kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp
ty kiểm toán cần phải cân nhắc đến tính độc lập, năng lực phục vụ, khả năng của
Công ty kiểm toán và tính chính trực của Ban quản trị khách hàng”. Công ty
kiểm toán không nên nhận lời kiểm toán khi tính độc lập của KTV không được
đảm bảo hoặc xét thấy không đủ năng lực phục vụ khách hàng. KTV chỉ nên
tiến hành kiểm toán tại những đơn vị mà họ có năng lực chuyên môn.
+ KTV phải đánh giá xem việc chấp nhận một khách hàng mới hay tiếp
tục kiểm toán cho một khách hàng cũ có làm tăng rủi ro cho hoạt động của KTV
hay làm hại đến uy tín của Công ty kiểm toán hay không.
- Sự tiếp tục đối với khách hàng cũ:
Công ty kiểm toán đánh giá số khách hàng hiện có hàng năm để xác
định liệu có những lý do nào để không tiếp tục thực hiện kiểm toán hay không,
như những mâu thuẫn giữa Công ty kiểm toán và khách hàng có thể khiến cho
KTV đình chỉ hợp tác.
Đối với khách hàng cũ KTV đã có những thông tin nhất định thu
được qua lần kiểm toán trước do đó KTV chỉ cần cập nhật, bổ sung các thông tin
mới về khách hàng vào hồ sơ kiểm toán chung để đánh giá khả năng chấp nhận
kiểm toán.
KTV cũng có thể đánh giá tính liêm chính của BGĐ khách hàng để
đánh giá khả năng tiếp tục kiểm toán. Nếu BGĐ thiếu liêm chính KTV không
thể dựa vào bất kì bản giải trình nào của BGĐ cũng như không thể dựa vào sổ
sách kế toán nếu những nghi ngại về tính liêm chính của nhà quản trị quá lớn.
KTV có thể đưa ra kết luận không thể thực hiện được cuộc kiểm toán.
- Quá trình điều tra về khách hàng mới:
Trước khi chấp nhận một khách hàng mới, hầu hết các Công ty
kiểm toán đều tìm hiểu lý do mời kiểm toán của khách hàng, điều tra Công ty
khách hàng để xác định khả năng chấp nhận kiểm toán. KTV cần tăng lượng
thông tin cần thu thập cho BCTC của khách hàng được sử dụng rộng rãi.
+ Sau khi đánh giá khả năng có thể chấp nhận cuộc kiểm toán, Công ty
kiểm toán tiến hành lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán. Chuẩn
15
Luận văn tốt nghiệp
mực kiểm toán chung đầu tiên đã nêu rõ: “Quá trình kiểm tra sẽ được thực hiện
bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạo nghiệp vụ đầy đủ như một KTV”.
+ Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 (VSA 200) - Mục tiêu và
nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán BCTC: “KTV không được nhận làm kiểm
toán cho các đơn vị mà mình có quan hệ kinh tế hoặc quyền lợi kinh tế cũng như
những đơn vị kinh tế mà bản thân có quan hệ họ hàng thân thuộc (bố, mẹ, vợ,
chồng, con cái, anh chị em ruột) với những người trong bộ máy quản lý của đơn
vị được kiểm toán.
+ Công việc kiểm toán phải được giao cho những cán bộ nhân viên
chuyên nghiệp được đào tạo và có đầy đủ kỹ năng và năng lực chuyên môn, đáp
ứng được nhu cầu thực tế. Việc lựa chọn đội ngũ KTV thường do BGĐ Công ty
kiểm toán trực tiếp chỉ đạo. Lựa chọn được đội ngũ nhân viên thích hợp sẽ góp
phần giúp Công ty kiểm toán thực hiện cuộc kiểm toán có chất lượng và hiệu
quả.
+ Đối với khách hàng lâu năm, một Công ty kiểm toán nên duy trì một đội
ngũ nhân viên nhất định, hạn chế việc thường xuyên thay đổi KTV để giúp cho
họ nắm được những nét đặc thù trong kinh doanh của khách hàng, tăng cường
mối liên hệ với khách hàng, do đó tiết kiệm được chi phí kiểm toán năm tiếp
theo. Mặt khác, Công ty kiểm toán phải có chính sách luân chuyển KTV giữa
các khách hàng để tránh việc quá quen thuộc với khách hàng dẫn đến sức ỳ về
tâm lý và kiểm tra theo lối mòn hoặc ảnh hưởng đến tính khách quan độc lập.
- Ký kết hợp đồng kiểm toán:
+ Khi đã chấp nhận khách hàng, KTV sẽ trao đổi và thỏa thuận sơ bộ với
khách hàng về một số vấn đề như mục đích và phạm vi kiểm toán, việc cung cấp
tài liệu kế toán và các phương tiện cần thiết cho cuộc kiểm toán của khách hàng,
các vấn đề sử dụng nhân viên của khách hàng, thoả thuận về phí kiểm toán.
trở thành chủ thể kiểm toán chính thức của Công ty khách hàng.
* Thu thập thông tin cơ sở
Sự am hiểu về công việc kinh doanh, ngành kinh doanh của khách hàng và
kiến thức về các mặt hoạt động của Công ty khách hàng là cần thiết cho việc
17
Luận văn tốt nghiệp
thực hiện kiểm toán đầy đủ. Những hiểu biết này sẽ giúp cho KTV hoạch định
các thủ tục kiểm toán phù hợp với đặc điểm hoạt động của khách hàng, nhất là
giúp KTV xác định được các khu vực có rủi ro cao để có những biện pháp kiểm
toán thích hợp.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 (VSA 300) - Lập kế hoạch
kiểm toán: “KTV thu thập hiểu biết về ngành nghề, công việc kinh doanh của
khách hàng, tìm hiểu về hệ thống kế toán, KSNB và các bên liên quan để đánh
giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán”. KTV đánh giá khả năng có những sai sót
trọng yếu và thực hiện thủ tục phân tích để xác định thời gian cần thiết để thực
hiện kiểm toán Nợ ngắn hạn và việc mở rộng các thủ tục kiểm toán khác.
- Tìm hiểu về ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng:
+ Để tìm hiểu được đầy đủ ý nghĩa và các thông tin thu được trong suốt
cuộc kiểm toán, KTV phải hiểu được những đặc thù nổi bật trong lĩnh vực kinh
doanh của khách hàng.
+ Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 310 (VSA 310) - Hiểu biết về
tình hình kinh doanh: “để thực hiện được kiểm toán BCTC, KTV phải có hiểu
biết về tình hình kinh doanh đủ để nhận thức và xác định các dữ kiện, nghiệp vụ
và thực tiễn hoạt động của đơn vị được kiểm toán mà theo đánh giá của KTV,
chúng có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, đến việc kiểm tra của KTV hoặc đến
báo cáo kiểm toán”.
+ KTV có thể thu thập được những hiểu biết này thông qua:
- Xem xét BCTC và hồ sơ kiểm toán các năm trước (nếu có) của đơn
vị, những tài liệu này thường chứa đựng rất nhiều những thông tin đặc trưng của
khách hàng và xu hướng thay đổi, phát triển của khách hàng trong tương lai.
toán thông qua phỏng vấn BGĐ, xem sổ theo dõi cổ đông, sổ theo dõi khách
hàng,… Từ đó bước đầu dự đoán các vấn đề có thể phát sinh giữa các bên liên
quan để từ đó có thể hoạch định một kế hoạch kiểm toán phù hợp.
- Dự kiến nhu cầu sử dụng chuyên gia:
19
Luận văn tốt nghiệp
+ Khi một KTV đứng trước các tình huống đòi hỏi kiến thức chuyên môn
ngoài lĩnh vực kế toán, kiểm toán thì lúc đó cần có sự tham vấn của chuyên gia
bên ngoài.
+ Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 620 (VSA 620) - Sử dụng tư
liệu của chuyên gia: “chuyên gia là một cá nhân hoặc tổ chức có năng lực, kiến
thức và kinh nghiệm chuyên môn cao trong lĩnh vực riêng biệt ngoài lĩnh vực kế
toán và kiểm toán”. Khi sử dụng chuyên gia, KTV phải dánh giá trình độ chuyên
môn, hiểu về mục đích và phạm vi công việc của họ và đánh giá đến tính độc lập
của chuyên gia để đảm nhận công việc.
+ KTV phải có một sự hiểu biết đầy đủ về công việc kinh doanh của
khách hàng để thừa nhận nhu cầu chuyên gia. Lập kế hoạch đúng đắn là điều cần
thiết để đảm bảo rằng chuyên gia có sẵn khi cần.
* Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Việc thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng giúp cho
KTV nắm bắt được các quy trình mang tính pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt
hoạt động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự điều tiết
của rất nhiều các quy định khác nhau. Những quy định này không chỉ là các văn
bản Pháp luật mang tính cưỡng chế của Nhà nước đối với các tế bào trong nền
kinh tế mà còn là các quy định riêng doanh nghiệp phải tuân thủ trong quá trình
hoạt động kinh doanh của mình. Vì vậy khi lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch
KTV phải chú ý đến hành vi không tuân thủ Pháp luật và các quy định có liên
quan dẫn đến sai sót, ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC.
Những thông tin thu thập được bao gồm:
- Giấy phép thành lập và điều lệ Công ty: đây là tài liệu quy định những
những xu hướng biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn lớn với
các thông tin có liên quan khác, hoặc có sự chênh lệch lớn đối với giá trị đã dự
kiến. Thủ tục phân tích giúp KTV:
- Tăng cường hiểu biết về công việc kinh doanh của khách hàng.
- Xác định những vùng có thể có rủi ro: những chênh lệch lớn ngoài dự
kiến giữa số liệu tài chính chưa được kiểm toán ở năm hiện hành so với số liệu
21
Luận văn tốt nghiệp
so sánh là vấn đề quan trọng mà KTV cần phải lưu ý và tìm ra nguyên nhân vì
khả năng xảy ra sai phạm trong các trường hợp này là rất lớn.
- Đánh giá khả năng hoạt động liên tục của khách hàng.
Ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán Nợ ngắn hạn, sau khi đã thu thập
được những thông tin cơ sở và thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng,
KTV tiến hành thực hiện các thủ tục phân tích đối với các thông tin đã thu thập
được để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch về bản chất, thời gian và nội dung các thủ
tục kiểm toán mà KTV sẽ sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán.
Các thủ tục phân tích mà KTV sử dụng gồm hai loại cơ bản:
- Phân tích ngang (phân tích xu hướng): là việc phân tích dựa trên cơ sở so
sánh các trị số của cùng một chỉ tiêu trên BCTC qua các kỳ để thấy được những
biến động bất thường.
- Phân tích dọc (phân tích các tỷ suất): là việc phân tích dựa trên cơ sở so
sánh các tỷ lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên BCTC.
Phân tích tỷ suất cũng giúp so sánh hợp lý về tình hình tài chính của một Công
ty nào đó với Công ty khác trong cùng một tập đoàn hay trong cùng ngành.
Thủ tục phân tích được thực hiện đối với kiểm toán các khoản Nợ ngắn
hạn như sau:
- Phân tích tỷ lệ của chi phí mua hàng từng tháng với Nợ phải trả được ghi
nhận trong từng tháng hoặc với các khoản thanh toán thực tế đã trả trong từng
tháng.
- So sánh tỷ lệ chiết khấu được hưởng bình quân trên tổng giá trị mua
đối với từng khoản mục, mức trọng yếu chính là sai lệch tối đa được phép của
khoản mục, số tiền này được tính dựa trên cơ sở phân bổ mức trọng yếu tổng thể
của BCTC. Việc phân bổ này giúp KTV xác định được số lượng bằng chứng
kiểm toán thích hợp phải thu thập đối với từng khoản mục ở mức chi phí thấp
nhất có thể mà vẫn đảm bảo tổng hợp các sai sót trên BCTC không vượt quá
mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu. Cơ sở để phân bổ tính trọng yếu: bản
chất của khoản mục; rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá sơ bộ về
các khoản mục; kinh nghiệm của KTV; chi phí kiểm toán.
23
Luận văn tốt nghiệp
- Phân bổ mức trọng yếu cho các khoản Nợ ngắn hạn: các khoản Nợ
ngắn hạn thể hiện nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp nên các khoản này thường
bị cố tình khai thiếu để làm cho tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hơn. Do
đó, KTV thường phân bổ mức trọng yếu theo hướng số liệu trên sổ sách nhỏ hơn
so với thực tế. Ngoài ra, đối với Nợ phải trả người bán và các khoản vay là
những chỉ tiêu có liên quan đến bên thứ ba, đòi hỏi sự trình bày trung thực, hợp
lý càng cao nên KTV thường phân bổ mức trọng yếu thấp hơn cho các chỉ tiêu
này.
- Đánh giá rủi ro kiểm toán:
+ Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400) - Đánh giá rủi
ro và kiểm soát nội bộ: “rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV và Công ty kiểm toán
đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn có
những sai sót trọng yếu. Đánh giá rủi ro kiểm toán các khoản Nợ ngắn hạn là
việc KTV và Công ty kiểm toán xác định mức độ rủi ro kiểm toán có thể xày ra
là cao hay thấp.
+ Rủi ro kiểm toán thường gặp với khoản mục Nợ ngắn hạn đó là:
Giá trị hàng hoá dịch vụ mua thấp hơn thực tế:
• Hàng hóa, dịch vụ đã nhận được, chi phí đã phát sinh nhưng chưa
ghi nhận.
• Giá trị hàng hoá, dịch vụ mua, chi phí mua hàng được ghi sổ thấp
- IR (rủi ro tiềm tàng): là khả năng xảy ra sai phạm trọng yếu trên
BCTC bắt nguồn từ hoạt động hay môi trường kinh doanh, hoặc do bản chất của
khoản mục, trước khi xem xét đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB.
- CR (rủi ro kiểm soát): là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu
trên BCTC do hệ thống KSNB của khách hàng không hoạt động hoặc hoạt động
không hiệu quả đã không phát hiện và ngăn chặn các sai phạm này. Hệ thống
KSNB của đơn vị càng hiệu quả thì rủi ro kiểm soát càng thấp và ngược lại.
- DR (rủi ro phát hiện): là khả năng xảy ra các sai sót hoặc gian lận
trên BCTC mà không được ngăn chặn hay phát hiện bởi hệ thống KSNB và
cũng không được KTV phát hiện trong quá trình kiểm toán. Nếu KTV tin rằng
25