Lời nói đầu
Nhà quản lý mà chức năng cơ bản là hoạch định, ra quyết định, tổ chức, điều
hành và kiểm soát, không thể thiếu được công cụ hữu hiệu là hệ thống văn bản.
Trong thực tế, nhận thức đúng, hiểu thấu và viết chuẩn một loại văn bản nào đó
cần nhiều thời gian và công sức.
Vì vậy, chúng tôi muốn đưa ra bài giảng này nhằm hướng dẫn soạn th¶o cụ
thể một số loại văn bản cho sinh viên, người quản lý với mục đích nâng cao chất
lượng và hiệu quả hoạt động công tác quản lý và kinh doanh của các cơ quan Nhà
nước, các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế -xã hội; bài giảng này cũng không
chỉ đơn thuần là các bản sao chép mẫu văn bản mà còn là sự phân tích văn bản để
tìm ra cái bản chất, chức năng cơ bản của hệ thống văn bản xuyên suốt cơ chế quản
lý và hệ thống phân cấp quản lý trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước.
Soạn thảo văn bản, một công việc dễ bị chê nhiều hơn khen, bởi một lẽ
không phải "lời nói gió bay " mà là "giấy trắng mực đen", và để khỏi "mũi tên đã
bắn ra rồi, sao còn thu lại được", người soạn thảo văn bản cần tích lũy kinh nghiệm
thực tế, trau dồi và nâng cao kiến thức, hơn nữa cần cập nhật văn bản theo sát chủ
trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Với những yêu cầu trên, chúng tôi rất mong bài giảng này, sinh viên kinh tế,
các nhà quản lý kinh tế và bạn đọc có quan tâm tới văn bản tìm thấy những điều
cần thiết cho mình.
1
Mục lục
2
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
1.1. Khái niệm
- Từ "Văn bản" theo tiếng Latinh là actur có nghĩa là hành động. Văn bản thể
hiện ý chí của cơ quan ban hành văn bản. Văn bản là phương tiện chủ yếu để lãnh
đạo, điều hành, giao dịch.
- Đối với bộ máy Nhà nước, văn bản quản lý Nhà nước thực chất là các quyết
1.2.3. Chức năng quản lý
Thực tế hoạt động quản lý cho thấy rằng, văn bản có một vai trò to lớn đối với
các nhà quản lý. Một cán bộ quản lý, nhất là những người đứng đầu một hệ thống
thường dành một lượng thời gian không nhỏ để làm việc, tiếp xúc với hệ thống văn
bản ( tiếp nhận, phân loại, nghiên cứu, thực hiện và soạn văn bản). Điều đó cho
thấy rằng vai trò của văn bản là đáng quan tâm.
- Văn bản - phương tiện cung cấp thông tin để ra quyết định.
Đối với một nhà quản lý, một trong những chứ năng cơ bản nhất là ra Quyết
định. Một yêu cầu có tính nguyên tắc là quyết định phải chính xác, kịp thời, có
hiệu quả mà môi trường thì biến động khôn lường.
- Văn bản chuyển tải nội dung quản lý
Bộ máy Nhà nước ta được hình thành và hoạt động theo nguyên tắc tập trung.
Theo nguyên tắc này các cơ quan cấp dưới phải phục tùng cơ quan cấp trên, cơ
quan địa phương phục tùng cơ quan trung ương. Xuất pháttừ vai trò rõ nét của văn
bản là phương tiện truyền đạt mệnh lệnh. Để guồng máy được nhịp nhàng, văn bản
được sử dụng với vai trò khâu nối các bộ phận.
- Văn bản là căn cứ cho công tác kiểm tra hoạt động của bộ máy quản lý
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:" Muốn chống bệnh quan liêu giấy tờ, muốn
biết các Nghị quyết đó thi hành không, thi hành có đúng không, muốn biết ai ra sức
làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là kiểm tra". Để làm tốt công tác này, nhà
quản lý phải biết vận dụng một cách có hệ thống các văn bản. Nhà quản lý phải
4
biết vận dụng từ loại văn bản quy định chức năng, thẩm quyền, văn bản nghiệp vụ
thanh kiểm tra đến các văn bản với tư cách là cứ liệu, số liệu làm căn cứ.
Một chu trình quản lý bao gồm: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Sự móc nối các khâu trong chu trình này đòi hỏi một lượng thông tin phức tạp đã
được văn bản hóa.
1.3. Những yêu cầu chung về soạn thảo văn bản
* Yêu cầu về hình thức văn bản
Nguyên tắc hoạt động của Nhà nước ta là tập trung thống nhất, do vậy hệ
+ Phương tiện thực hiện
Văn bản quản lý Nhà nước phải bảo đảm tính hệ thống toàn diện. Khi soạn
thảo, nhất thiết phải đặt văn bản trong bối cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội;
phải căn cứ vào mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài; có sự thích ứng giữa mục
tiêu, nhiệm vụ cần đạt với điều kiện, phương tiện thực hiện. Nhà nước quản lý nhất
thiết phải tính dến yếu tố tác động của môi trường vào quá trình thực hiện văn bản.
Để đảm bảo tính hệ thống, nhất quán, văn bản ra sau phải thống nhất, đồng bộ với
văn bản ra trước.
Nếu một văn bản quản lý Nhà nước không đáp ứng được những yêu cầu trên
sẽ dẫn đến hai trường hợp:
(1) Văn bản có tính khả thi không cao
(2) Văn bản vô hiệu
1.4. Phân loại văn bản
Hệ thống văn bản gắn chặt với sự phân quyền, phân cấp chặt chẽ, khoa học,
được hình thành và phát triển phù hợp với quy luật khách quan và thực tiễn của đất
nước.
Như vậy, văn bản được phân loại như sau:
• Văn bản quy phạm pháp luật (Pháp quy)
+ Văn bản pháp quy chỉ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành.
+ Văn bản dược ban hành theo đúng thủ tục, thể thức, trình tự luật định.
+ Văn bản quy phạm pháp luật có chứa những quy tắc xử sự chung.
+ Văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng nhiều lần.
6
+ Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng với mọi đối tượng hay một
nhóm đối tượng.
+ Văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trong toàn quốc hay từng địa phương
+ Văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước bảo đảm thực hiện
Văn bản quy phạm pháp luật gồm các loại sau:
- Hiến pháp
- Luật, Bộ luật
trong giao tiếp, sinh hoạt, đời sống và kinh tế.
Các văn bản dân sự gồm:
- Hợp đồng
- Đơn từ
- Giấy ủy quyền
===========***============
8
CHƯƠNG II
QUAN HỆ GIỮA VĂN BẢN VỚI HỆ THỐNG QUẢN LÝ
2.1. Quan hệ giữa pháp luật với Nhà nước
- Pháp luật xuất hiện cùng Nhà nước.
- Pháp luật là một hệ thống các quy tắc hành vi ( các quy phạm) có tính chất
bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra hoặc được Nhà nước công nhận.
- Pháp luật là phương tiện quản lý trong tay Nhà nước, là yếu tố quan trọng
nhất để thực hiện quản lý xã hội. Vì vậy, các chức năng quan trọng của Nhà nước
trong mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật là:
+ Chức năng sáng tạo pháp luật để tổ chức, điều chỉnh, quản lý các hành vi
và hoạt động xã hội.
+ Chức năng thi hành pháp luật
+ Chức năng bảo vệ pháp luật
2.1.1. Khái niệm quyền lập pháp, lập quy
- Lập pháp, lập quy là làm ra những quy phạm về pháp luật, trình bày các
quy phạm đó trong các văn bản quy phạm pháp luật; do đó về hình thức, lập pháp
lập quy là hoạt động xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Vì
thế, văn bản quy phạm pháp luật là đối tượng chủ yếu của kỹ thuật lập pháp, lập
quy.
- Văn bản quy phạm pháp luật(VB QPPL) là văn bản chứa đựng các quy
định pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội nhất định, có hiệu lực bắt buộc
chung và thực hiện thường xuyên, lâu dài, được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng
các biện pháp tổ chức và cưỡng chế của cơ quan Nhà nước.
Văn bản quản lý Nhà nước có các đặc điểm sau:
- Nó là hình thức pháp luật chue yếu trong các hình thức quản lý Nhà nước,
chứa đựng quy phạm pháp luật, thẩm quyền và hiệu lực thi hành.
- Văn bản quản lý Nhà nước là nguồn thông tin quy phạm, là sản phẩm hoạt
động quản lý và là công cụ điều hành của các quan và các nhà lãnh đạo quản lý.
10
2.1.2.1. Đặc điểm Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Về bản chất, Nhà nước CHXHCN Việt Nam có những đặc trưng cơ bản sau:
- Nhà nước kiểu mới thể hiện ở:
+ Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân.
+ Mục tiêu phấn đấu của Nhà nước ta: Xây dựng một xã hội phát triển, văn
minh, tự do, công bằng và đặc biệt là không còn chế độ người bóc lột người.
+ Nhà nước ta, quyền lãnh đạo Nhà nước thuộc về giai cấp công nhân liên
minh với các tầng lớp nông dân, tri thức mà người trực tiếp thực hiện sứ mệnh đó
là Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Nhà nước ta là nhà nước đơn nhất thống nhất
Sự thống nhất trong hệ thống biểu hiện trong cơ cấu tổ chức Nhà nước: bộ
máy được tổ chức thống nhất từ trung ương đến cơ cở ( và ở đây chỉ có sự phân
cấp), không tồn tại một Nhà nước trung ương và một Nhà nước địa phương ( như
Nhà nước theo hình thức Liên bang và Tiểu bang; Liên bàn và các nước cộng hòa).
Về hệ thống pháp luật: Nước ta chỉ có một Hiến pháp duy nhất, các văn bản
pháp luật có hiệu lực thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Nước ta chỉ có một cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao duy nhất. Mối quan
hệ quyền lực giữa Chính phủ trung ương và Chính quyền địa phương mang tính
trực thuộc rõ ràng, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng trung ương.
- Nhà nước ta quyền lực là tập trung
Để đảm bảo một nguyên tắc căn bản của Nhà nước ta là quyền lực thuộc về
nhân dân, Nhà nước ta được tổ chức theo mô hình mà ở đó quyền lực là tập trung.
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực cao
nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước ta không tổ chức
* Các văn bản khác có các tính chất sau:
- Lệnh của Chủ tịch nước có thể là văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn
bản cá biệt.
- Nghị quyết do nhiều cơ quan hoạt động theo chế dộ tập thể (Quốc hội,
UBTVQH, Chính phủ, Hội đồng nhân dân) ban hành. Nghị quyết có thể là văn bản
12
nhằm ban hành chính sách, chủ trương, biện pháp lớn hoặc chứa đựng quy phạm
pháp luật.
- Chỉ thị dùng để chỉ đạo công việc của cơ quan chấp hành Pháp luật cấp
trên đối với cấp dưới. Những cơ quan cấp dưới theo hệ thống thứ bậc hành chính
không ban hành Chỉ thị.
* Thông tư đùng để hướng dẫn thi hành pháp luật. Chẳng hạn trong quy
phạm đưa ra phần giả định: “Xe chạy vào ban đêm….”thì Thông tư cần hướng dẫn
“đêm” theo quan niệm của quy phạm này là từ khi nào đến khi nào.Từ đó phân biệt
sự hướng dẫn cảu Thông tư với sự giải thích pháp luật do cơ quan có thẩm quyền
(UBTVQH) thực hiện. Thông tư cũng có quy phạm pháp luật, được ban hành trên
cơ sở cụ thể hóa Luật, Pháp lệnh, Nghị định.
Nếu quan hệ pháp luật từ góc nhìn quy phạm học, nghĩa là pháp luật là hệ
thống các quy phạm pháp luật có trong các văn bản Nhà nước, thì quyền ban hành
pháp luật có phạm vi rộng: nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều cơ quan ra quy phạm
pháp luật.
2.1.2.3. Thẩm quyền ban hành văn bản quản lý Nhà nước
* Thẩm quyền ra các quy phạm pháp luật của Nhà nước ta biểu hiện như
sau:
+ Quốc hội:
- Ban hành Hiến pháp, Luật, Bộ luật
Hiến pháp, Luật, Bộ luật có quy phạm pháp luật
+ Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- Ban hành Pháp lệnh
Pháp lệnh có quy phạm có thính chất quy phạm pháp luật
hoặc cơ quan, cá nhân nào khác thực hiện quyền này.
* Các lĩnh vực thuộc quyền lập pháp
- Tổ chức các hoạt động của cac cơ quan Nhà nước cấp cao và các cơ quan
Nhà nước ở địa phương.
- Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
- Những vấn đề chủ yếu, quan trọng của hoạt động công vụ, công chức.
- Những vấn đề quản lý ngành hoặc lĩnh vực thuộc thẩm quyền Chính phủ.
14
- Những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến vấn đề cụ thể hoặc hạn chế quyền,
tự do, lợi ích, nghĩa vụ của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp.
- Định ra các loại thuế, ngân sách
- Quy định về tội phạm, hình phạt và tố tụng hình sự
- Quy định những vấn đề chủ yếu về quyền sử hữu
- Quy định về các tổ chức chính trị- xã hội, đoàn thể nhân dân
- Quy định về chủ quyền quốc gia, bảo vệ lãnh thổ và quan hệ quốc tế.
* Các lĩnh vực thuộc quyền lập quy
Thẩm quyền lập quy chủ yếu do Chính phủ thực hiện. Tuy nhiên hoạt động
hành chính Nhà nước bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và là công việc
thường xuyên, liên tục nên Chính phủ chỉ thực hiện quyền lập quy về những vấn đề
chung và những vấn đề quan trọng. Còn những vấn đề có tính chất chuyên ngành,
lĩnh vực hoặc thuộc quyền tự chủ địa phương thì được thẩm quyền lập quy của Bộ
hoặc Chính quyền địa phương.
- Các lĩnh vực thuộc quyền lập quy của Chính phủ:
+ Quy định các lĩnh vực hay quá trình không thuộc quyền lập pháo đã được
Hiến pháp ấn định. Trong trường hợp này Chính phủ căn cứ vào thẩm quyền(chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn) để ban hành các VB QPPL bằng các hình thức văn bản
do Hiến pháp quy định.
+ Ra những quy định cụ thể hóa các Luật, Pháp lệnh; đặt ra cac biện pháp,
thủ tục hành chính để thi hành văn bản Luật.
- Quyền lập quy của Bộ:
chức và quản lý đời sống dân cư địa phương theo luật định.
- UBND thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ tại địa phương và các
Nghị quyết của HĐND. Vì thế UBND phải tập trung vào lợi ích cả nước, lợi ích
đúng đắn của địa phương và tuân theo các Quyết định của Chính phủ.
Căn cứ vào đặc điểm trên, thẩm quyền lập quy của Chính quyền cấp tỉnh có
thể ấn định theo hướng sau:
- HĐND thực hiện quyền lập quy được pháp luật trao và ban hành các quy
định về tổ chức và quản lý đời sống nhân dân trong các lĩnh vực với nguyên tắc
16
không được trái pháp luật và không quy định những gì mà cơ quan cấp trên đã quy
định.
- UBND ra các quy định chủ yếu về thủ tục hành chính để đảm bảo thực
hiện có hiệu quả pháp luật.
- Các sở, cơ quan trực thuộc UBND ra các Quyết định có tính chất quản lý
ngành tại địa phương tuân theo pháp luật và cá quy định quản lý của cấp trên.
Lập pháp, lập quy là hoạt động dựa vào khoa học lập pháp, lập quy, là ngành
khoa học ứng dụng. Khoa học lập pháp, lập quy nghiên cứu các vấn đề: sáng kiến,
lập pháp, lập chương trình làm luật; thẩm tra dự án văn bản; thông qua dự án; công
bố văn bản pháp luật…
Lập pháp, lập quy liên quan đên thẩm quyền của cac cơ quan Nhà nước.
Thẩm quyền là một vấn đề của khoa học tổ chức Nhà nước, khoa học pháp lý.
Lập pháp, lập quy liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng. Vấn đề Đảng cầm
quyền, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước thuộc về khoa học chính trị, khoa học
pháp lý.
Lập pháp, lập quy liên quan đến quyền, tự do, lợi ích và nghĩa vụ của nhân
dân, là biểu hiện cụ thẻ quan hệ giữa Nhà nước và công dân, phản ánh địa vị công
dân trong xã hội.
2.2. Văn bản và chế độ làm việc trong cơ chế quản lý
Đặc điểm cơ cấu tổ chức bộ máy của Nhà nước ta được xác định:
- Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số.
chức theo hình thức một Viện. Đại biểu Quốc hội phần lớn là kiêm nhiệm. Quyền
lập pháp về nguyên tắc thuộc Quốc hội. Song do điều kiện không hoạt động liên
tục mà Quốc hội ủy quyền cho Ủy ban thường vụ quốc hội (UBTVQH) ban hành
Pháp lệnh.
Quyền lập quy, về cơ bản là của Chính phủ. Song vì đặc điểm quản lý theo
địa phương, lãnh thổ và quyền tự chủ của Chính quyền địa phương mà Chính phủ
cũng ủy quyền cho Chính quyền địa phương tham gia công tác lập quy.
Một hệ thống, tổ chức đơn vị cụ thể, vấn đề ủy quyền cũng được biểu hiện
rõ nét. Sự ủy quyền ở đây được phân định:
18
- Thủ trưởng và phó thủ trưởng đơn vị ký những văn bản có nội dung quan
trọng.
- Cán bộ phụ trách dưới thủ trưởng cơ quan một cấp có thể được ủy quyền
ký một số văn bản thông thường, giao dịch.
Việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản hoặc ghi trong quy chế làm
việc của cơ quan. Người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho người kh¸c.
Một yêu cầu ở đây là: để tránh sự chồng chéo, sự lạm quyền, người ủy quyền phải
thường xuyên kiểm soát những công việc của người được ủy quyền.
Các văn bản quản lý hiện hành của ta hiện này đang sử dụng hệ thống ký
hiệu biểu đạt tính pháp lý của các cá nhân ký văn bản:
- Nhân danh cơ quan
Thủ trưởng ký: Ví dụ Giám đốc
<Ký – dấu>
- Ký thay
Thủ trưởng cơ quan ký: Ví dụ K/T Giám đốc
Phó Giám đốc
<Ký – dấu>
Một hệ thống các ký hiệu và mỗi ký hiệu có một đặc điểm riêng biệt mà đòi
hỏi người nghiên cứu văn bản phải hiểu thấu đáo:
T/L…
Một văn bản quản lý Nhà nước phải đảm bảo hai yêu cầu cơ bản:
* Tính hợp pháp
*Tính hợp lý
Do vậy khi soạn thảo văn bản cần phải tuân theo những nguyên tắc văn bản
sau:
Nguyên tắc 1: Văn bản được soạn thảo theo đúng thẩm quyền luật định.
Nguyên tắc 2: Hình thức đúng quy định (thủ tục, thể loại, thể thức, văn
phong).
Nguyên tắc 3: Xác định đúng mục đích văn bản, đúng đối tượng và căn cứ ra
văn bản.
Nguyên tắc 4: Phải đưa ra các biện pháp tổ chức thực hiện, thời gian và phù
hợp với thực tiến.
Nguyên tắc 5: Văn bản ra sau không được trái hay mâu thuẫn với văn bản ra
trước có cùng nội dung. Văn bản cấp dưới không được trái với văn bản cấp trên,
không trái với văn bản pháp lý cao hơn.
Nhà quản lý khi ban hành văn bản nếu khong tuân thủ các nguyên tắc
trên( những yếu tố có tính quy luật khách quan hình thành từ thực tiễn) se dẫn đến
văn bản mất đi tính thực thi, thậm chí vô hiệu.
21
3.2. Quy tắc trong soạn thảo văn bản
3.2.1. Quy tắc lựa chọn hình thức văn bản
Khi soạn thảo văn bản, ngoài thẩm quyền còn phải tính đến các điều kiện
sau:
* Phạm vi điều chỉnh:
- Phạm vi rộng dùng loại văn bản có hiệu lực pháp lý cao.
- Những quan hệ có tính chất toàn quốc, liên ngành thì phải dùng văn bản
của cơ quan trung ương.
* Những quy định
- Quy định cấm đoán, cưỡng chế, xử phạt: do cơ quan cấp cao trung ương
ban hành.
3.2.3. Quy tắc về cơ cấu văn bản
Mỗi loại văn bản có đặc thù riêng của mình, song nhìn một cách tổng thể về
cơ cấu văn bản, chúng có những điểm cơ bản sau:
* Phần “ Căn cứ ban hành văn bản”
Căn cứ đầu tien là văn ban quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Tiếp
theo là văn bản quy định những vấn đề mà nội dung văn bản đề cập.
* Phần “Mục đích lý do ban hành văn bản”
Đó là cơ sở để ban hành văn bản (thường là xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi
khách quan) hoặc là với mục đích “Để chấn chỉnh”, “Nhằm tăng cường”)
* Phần “Thủ tục ban hành văn bản”
Thủ tục ban hành văn bản trên cơ sở đề nghị của cấp dưới. Ở đây thể hiện rõ
sự phân cấp và chức năng trong hệ thống tổ chức. Ngoài ra thủ tục ban hành văn
bản còn trên cơ sở: “ Theo nội dung biên bản của Hội nghị”.
* Phần “Nội dung”
Cơ bản có hai cách trình bày:
- Dạng văn xuôi, văn chương, mục.
- Dạng văn “điều, khoản”.
Nếu áp dụng dạng văn xuôi theo chương, mục thì nêu đủ các sự kiện, ý
tưởng, số liệu, mệnh lệnh, chế tài theo đúng ý chí của cơ quan ban hành văn bản.
Ngược lại, nếu văn bản gồm nhiều quy phạm pháp luật, có thể trình bày dưới dạng
23
“điều khoản” được thì nên thực hiện việc điều khoản hóa văn bản. Dạng này có tác
dụng dễ nhớ, rất tiện cho viêc trích dẫn trong quá trình áp dụng và thi hành.
Điều khoản hóa văn bản được chia thành:
+ Phần (viết chữ số La Mã I, II, III… và có tiêu đề)
+ Chương(viết chữ số La Mã I, II, III… và có tiêu đề)
+ Mục (viết chữ số Ả rập 1, 2, 3… hoặc A,B,C và có tiêu đề)
+ Điều(viết chữ số Ả rập 1, 2, 3…)
+ Khoản( viết chữ số Ả rập 1, 2, 3…)
+ Điểm, đoạn(viết chữ a, b, c trong đoạn dùng gạch đầu dòng).
• Bổ sung, sửa đổi, điều chỉnh
Khi đã thay đổi một hay một số nội dung văn bản trước đó.
• Đính chính
Đính chính khi có lỗi.
Chú ý:
Riêng Quyết định dù có lỗi gì thì cũng phải ban hành Quyết định khác điều
chỉnh, sửa đổi, khong được đính chính Quyết định.
Không nên dùng hình thức thu hồi văn bản vì thực tế rất khó thu hồi hết.
Nguyên tắc: Phải dùng hình thức văn bản cao hơn để hủy, bãi bỏ, sửa đổi
văn bản.
Khi phát hiện ra sai, chính cơ quan ra văn bản phải soạn văn bản mới điều
chỉnh hoặc cơ quan có thẩm quyền cao hơn sẽ ra văn bản.
Những quy định cụ thể về giám sát, xử lý văn bản trái pháp luật:
Điều 81 Luật ban hành VB QPPL
“Theo đề nghị của UBTVQH, Chủ tịch nước, Hội đồng nhân dân, các ủy ban
của QH, CP,TANDTC,VKSNDTC,MTTQVN và các tổ chức thành viên, đại biểu
QH, QH xem xét, Quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ Luật, Nghị quyết của
Quốc hội trái Hiến pháp; xem xét, Quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn
bản QPPL của UBTVQH, Chủ tịch nước, CP,TANDTC,VKSNDTC trái Hiến
pháp, Luật, Nghị quyết của QH”.
Điều 82 Luật ban hành VB QPPL
25