Lời Mở đầu
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu sự chuyển mình của nền kinh
tế Việt Nam. Đất nước ta chuyển đổi cơ chế quản lí kinh tế từ cơ chế hành
chính, tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quẩn lí của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo cơ chế mới này tất cả các thành
phần kinh tế đều được tự do phát triển, tự mình tìm thị trường kinh doanh, tự
hạch toán kinh doanh, mở rộng thị trường của mình. Nếu doanh nghiệp nào làm
ăn có lãi, có chỗ đứng trên thị trường thì sẽ tồn tại, nếu doanh nghiệp nào làm
ăn thua lỗ thì sẽ bị đào thải khỏi thị trường.
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, môi trường kinh doanh luôn
biến động không ngừng cùng với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học kĩ
thuật thì các doanh nghiệp luôn phải tìm cách tự đổi mới, hoàn thiện mình cả
về trình độ, năng lực, kinh nghiệm và hiện đại hoá công nghệ. Do đó, hoạt
động đầu tư nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh trong mỗi doanh nghiệp đã
trở thành mối ưu tiên quan trọng trong định hướng phát triển sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Sông Đà là một doanh nghiệp Nhà nước, hoạt
động trong lĩnh vực tư vấn giám sát, khảo sát thiết kế xây dựng, phục vụ thi
công những công trình thuỷ điện, thuỷ lợi và các công trình xây dựng công
cộng. Sản phẩm của công ty là các bản vẽ thiết kế kĩ thuật của các công trình,
các hạng mục công trình và các con số khảo sát, đặc điểm về chất đất, các kết
luận thí nghiệm…. Đây là những sản phẩm chứa hàm lượng chất xám lớn, sản
phẩm có chính xác, có phù hợp với thiết kế kĩ thuật hiện đại hay không đều phụ
thuộc rất nhiều vào trình độ, năng lực, kinh nghiệm của cán bộ công nhân viên
làm công tác khảo sát, thí nghiệm, thiết kế, tư vấn của công ty cùng với độ
chính xác , hiện đại của trang thiết bị máy móc thí nghiệm khảo sát. Do đó, đầu
tư nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ ở công ty có vai
trò quan trọng trong chiến lược sản xuất kinh doanh.
Trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần tư vấn xây dựng Sông Đà, được sự
hướng dẫn tận tình của cô Phạm Thị Thêu-GVC bộ môn Kinh tế đầu tư cùng sự
giúp đỡ của các cô, các anh, chị trong phòng Dự án và tư vấn đấu thầu, đã giúp
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các
hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong
tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy,
mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với
những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu
tư.
Các nguồn lực phải hy sinh cho hoạt động đầu tư có thể là tiền , tài
nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ của con người.
Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền
vốn), tài sản vật chất( nhà xưởng, đường xá, bệnh viện, trường học…), tài sản
trí tuệ( trình độ văn hoá, chuyên môn, quản lí, khoa học kĩ thuật ) và nguồn
nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản
xuất xã hội.
Trong những kết quả đạt được trên đây, những kết quả trực tiếp của sự
hy sinh các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai
trò quan trọng trong mọi lúc mọi nơi, không chỉ với người bỏ vốn mà cả đối
với toàn bộ nền kinh tế. Những kết quả này không chỉ người đầu tư mà cả nền
kinh tế xã hội được thụ hưởng. Chẳng hạn một nhà máy được xây dựng, tài sản
vật chất của người đầu tư trực tiếp tăng thêm, đồng thời tài sản vật chất, tiềm
lực sản xuất của nền kinh tế cũng được tăng thêm.
Lợi ích trực tiếp do sự hoạt động của nhà máy này đem lại cho người đầu tư là
lợi nhuận còn cho nền kinh tế là thoả mãn nhu cầu tiêu dùng (cho sản xuất và
cho sinh hoạt) tăng thêm của nền kinh tế, đóng góp cho ngân sách , giải quyết
việc làm cho lao động
Trình độ nghề nghiệp, chuyên môn của người lao động tăng thêm không
chỉ có lợi cho chính họ (trong việc có thu nhập cao và địa vị cao trong xã hội)
mà còn bổ sung nguồn lực có kĩ thuật cho nền kinh tế để có thể tiếp nhận công
nghệ ngày càng hiện đại, góp phần nâng cao trình độ công nghệ và kĩ thuật của
nền sản xuất quốc gia.
Loại đầu tư đem lại các kết quả không chỉ cho người đầu tư mà cả nền
1. Theo bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tư đem lại chúng ta có thể phân biệt
đầu tư thành các dạng sau:
1.1. Đầu tư tài chính:
Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền cho vay hoặc mua các
chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước ( gửi tiết kiệm, mua trái phiếu
Chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty phát hành( mua cổ phiếu hoặc trái phiếu công ty). Đầu tư tài sản tài
chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế quốc dân( nếu không xét đến
quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của
tổ chức, cá nhân đầu tư (đánh bạc, đánh đề cũng là một hình thức đầu tư tài
chính nhưng không được pháp luật cho phép do gây nên các tệ nạn xã hội). Với
sự hoạt động của hình thức đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển
dễ dàng, khi cần có thể rút ra một cách nhanh chóng (rút tiết kiệm, chuyển
nhượng trái phiếu, cổ phiếu cho người khác). Điều đó khuyến khích người có
tiền bỏ ra để đầu tư. Để giảm độ rủi ro, họ có thể đầu tư vào nhiều nơi, mỗi nơi
một ít tiền. Đây là nguồn cung cấp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển.
1.2. Đầu tư thương mại:
Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để mua hàng hoá và sau đó bán
với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán. Loại
hình đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét
đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản của người đầu tư trong quá trình
mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán và người
đầu tư và người đầu tư với khách hàng của họ. Tuy nhiên, đầu tư thương mại
có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển
tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ
vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã
hội nói chung( Chúng ta cần lưu ý là đầu cơ trong kinh doanh cũng thuộc đầu
tư thương mại xét về bản chất, nhưng bị pháp luật cấm vì gây ra tình trạng thừa
thiếu hàng hoá một cách giả tạo, gây khó khăn cho việc quản lí lưu thông phân
phối, gây mất ổn định cho sản xuất, làm tăng chi phí của người tiêu dùng).
được thành công và kéo theo là sự sụp đổ của doanh nghiệp hoặc làm cho
doanh nghiệp không thể phát triển được. Do thời hạn của đầu tư dài hạn là rất
dài so với sự thay đổi của tình hình phát triển của nền kinh tế thị trường nên
bên cạnh các kế hoạch đầu tư dài hạn có tính chất định hướng, doanh nghiệp
còn luôn luôn phải đề ra những kế hoạch ngắn hạn nhằm từng bước hiện thực
hoá kế hoạch đầu tư dài hạn, tránh sự phát triển lệch lạc và bám sát hơn với sự
phát triển của nền kinh tế.
2.2. Đầu tư ngắn hạn:
Là kế hoạch đầu tư có thời gian đầu tư ngắn, thường là dưới 10 năm.
Đầu tư ngắn hạn có tác dụng tạo lực đẩy cho sự phát triển của công ty tuỳ theo
mỗi thời kì ngắn. Là cách mà doanh nghiệp có thể bổ trợ, củng cố kế hoạch dài
hạn. Thông qua đầu tư ngắn hạn, doanh nghiệp sẽ có đối sách tốt hơn, phản
ứng nhanh nhạy hơn với sự biến động của thị trường. Đầu tư ngắn hạn của
doanh nghiệp sẽ sớm thu hồi vốn và lợi nhuận hơn so với đầu tư dài hạn. Đầu
tư ngắn hạn không yêu cầu phải huy động một khối lượng vốn đầu tư lớn và
một số lượng nhân lực nhiều nhưng đòi hỏi những nhà quản lí của doanh
nghiệp phải có một cái nhìn, một phản ứng nhanh nhạy đối với thị trường trong
mỗi sự biến động của thị trường.
Đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn bổ sung những khuyết điểm của nhau
và tạo cho sự phát triển thông thoáng nhanh nhạy của doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường đầy biến động. Các kế hoạch đầu tư tạo cho doanh nghiệp
hoạt động một cách trơn tru và phản ứng tốt với biến động của thị trường.
III- Vai trò của hoạt động đầu tư :
Từ việc xem xét bản chất của đầu tư phát triển, các lí thuyêt kinh tế, cả lí
thuyết kinh tế kế hoạch hoá tập trung và lí thuyết kinh tế thị trường đều coi đầu
tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự
tăng trưởng.
1. Tác động của đầu tư phát triển trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước
:
Đối với một nền kinh tế, hoạt động đầu tư có một ý nghĩa đặc biệt quan
mình, lạm phát làm cho sản xuất đình trệ, đời sống của người lao động gặp
nhiều khó khăn do tiền lương ngày càng thấp hơn, thâm hụt ngân sách, kinh tế
phát triển chậm lại. Mặt khác, tăng đầu tư làm cho cầu của các yếu tố có liên
quan tăng, sản xuất của các nghành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm
tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống của người lâo động, giảm tệ nạn xã
hội. Tất cả các tác động này tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế.
Khi giảm đầu tư( như Việt Nam thời kì 1982-1989) cũng dẫn đến tác
động 2 mặt, nhưng theo chiều hướng ngược láio với tác động trên đây. Vì vậy,
trong điều hành vĩ mô nền kinh tế, các nhà hoạch định chính sách cần thấy hết
tác động hai mặt này để đưa ra các chính sách nhằm hạn chế các tác động xấu,
phát huy tác động tích cực, duy trì được sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
c. Đầu tư tác động đến sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế:
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con dường tất yếu có
thể tăng trưởng nhanh tốc độ mong muốn ( từ 9-10% ) là tăng trưởng đầu tư
nhằm tạo ra sự phát triển ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với các
nghành nông, lâm, ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai và các khả năng
sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng từ 5-6% là rất khó khăn. Như vậy,
chính đầu tư quyết định quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế ở các nước nhằm
đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về
phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kếm phát triển thoát khỏi
tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa
thế, kinh tế, chính trị những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn
đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.
d. Đầu tư làm tăng khả năng khoa học và công nghệ của đất nước :
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá, đầu tư là điều kiện tiên
quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiện
nay. Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ công nghệ của Việt
Nam lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực. Theo UNIDO, nếu chia
quá trình phát triển công nghệ thế giới thành 7 giai đoạnthì Việt Nam đang là
Các nước Thời kì 1963-1973 Thời kì 1973-1981 Thời kì 1981-1988
Hồng Kông 3,6 3,4 3,9
Hàn Quốc 2,0 4,0 2,8
Singapo 3,1 5,0 7,0
Đài Loan 1,9 3,7 2,8
Nguồn : Bela Balassa, Policy Choices in the Newly Industrializing
Contries . Working papers of the Wold Bank WPS 432.1990,tr.5
2. Đầu tư tác động đến các cơ sở sản xuất kinh doanh:
Đối với mỗi doanh nghiệp thì đầu tư có vai trò quyết định dến cả sự ra
đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở. Khi tạo dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho
sự ra đời của bất kì cơ sở nào cũng cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ
tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến hành công tác xây
dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một
chu kì của các cơ sở vật chất kĩ thuật vừa được tạo tạo ra. Các hoạt động này
chính là hoạt động đầu tư. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang
tồn tại sau một thời gian hoạt động, các cơ sở vật chất kĩ thuật của các cơ sở
này đã hao mòn, hư hoảng. Để duy trì dc sự hoạt động bình thường cần định kì
tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới
của sự phát triển khoa học kĩ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã
hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi
thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư.
3. Đối với các cơ sở vô vị lợi ( hoạt động không thể thu lợi nhuận cho bản thân
mình) :
Để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành sửa chữa lớn định kì các cơ sở
vật chất- kĩ thuật còn phải thực hiện các chi phí thường xuyên. Tất cả những
hoạt động và chi phí này đều là những hoạt động đầu tư.
Như vậy, hoạt động đầu tư có vai trò quan trọng và tác động đến mọi đối
tượng kinh tế của xã hội. Hoạt động đầu tư phát triển là động lực chủ yếu thúc
đẩy sự phát triển của nền kinh tế, tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, duy trì và
phát triển cơ sở vật chất của nền kinh tế.
phòng và đầu tư cho các cơ sở phúc lợi xã hội Nguồn vốn này được hình
thành chủ yếu từ nguồn thu của ngân sách Nhà nước thông qua việc thu thuế,
bán tài nguyên, thu lệ phí
-Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Nền kinh tế đất nước càng phát
triển thì vốn tín dụng của Nhà nước càng đóng vai quan trọng trong chiến lược
phát triển kinh tế xã hội. Nguồn vốn này có tác dụng tích cực trong việc giảm
đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước. Với cơ chế này, các đơn vị sử
dụng phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay, vì vậy đòi hỏi các chủ đầu tư
phải cân nhắc kĩ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Thông qua nguồn
vốn này, Nhà nước thực hiện việc quản lí và điều tiết kinh tế vĩ mô, thực hiện
việc khuyến khích phát triển kinh tế của các ngành, các vùng, miền. Góp phần
tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá-
hiện đại hoá.
-Vốn đầu tư từ các doanh nghiệp Nhà nước: Các doanh nghiệp Nhà nước là
thành phần chủ đạo trong nền kinh tế nước ta, do vậy, các doanh nghiệp Nhà
nước vẫn nắm giữ một khối lượng lớn vốn. Đây chính là nguồn vốn có vai trò
quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế theo định hướng của Đảng và Nhà
nước. Hiện nay, với chủ trương tiếp tục dổi mới doanh nghiệp Nhà nước, hiệu
quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ
của các doanh nghiệp Nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào
tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội.
b. Nguồn vốn từ khu vực tư nhân:
Bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân
doanh, các hợp tác xã. theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để.
Hiện nay, do tập tính tiêu dùng của dân cư nước ta là tiết kiệm dành những khi
gặp rủi ro, nên lượng vốn này tích luỹ trong dân còn chưa được khai thác triết
để, chưa được huy động một cách tích cực để bù đắp nhu cầu về vốn của nền
kinh tế đất nước. Mấy năm gần đây, khi nền kinh tế có những bước phát triển
khả quan, các doanh nghiệp tư nhân càng ngày càng được tự do hơn trong hoạt
dây chuyền công nghệ đòi hỏi kĩ thuật cao hay cần nhiều vốn.Vì vậy, nguồn
vốn này có vai trò cực kì quan trọng đối với quá trình công nghiệp hoá-hiện đại
hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận.
- Thị trường vốn quốc tế: Với xu hướng toàn cầu hoá nhanh chóng hiện nay,
mối liên kết ngày càng tăng của các thị trường vốn quốc gia vào hệ thống tài
chính quốc tế đ• tạo nên vẻ đa dạng về các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm
tăng khối lượng vốn lưu chuyển trên phạm vi toàn thế giới. Đối với nước ta
hiện nay, để thúc đảy kinh tế phát triển nhanh chóng và bền vững, nhằm mục
tiêu công nghiệp hoá và hiện đại hoá, Nhà nước rất coi trọng việc huy động
mọi nguồn vổntong và ngoài nước để đầu tư phát triển sản xuất, tạo thêm công
ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân. Trong đó, nguồn huy động qua thị
trường vốn cũng được chính phủ rất quan tâm, tuy rằng đây là một nguồn vốn
còn mới mẻ và rất phức tạp đối với Việt Nam.
4.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư:
Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các
kết quả kinh tế - xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phải bỏ ra để
có được các kết quả đó trong một thời kì nhất định. Có nhiều cách đánh giá
theo các chỉ tiêu đánh giá khác nhau về hiệu quả đầu tư tuỳ theo tính chất và
kết quả cuối cùng của hoạt động đầu tư đem lại cho nhà đầu tư.
4.1. Đánh giá hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư:
Hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầu phát
triển hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và nâng cao đời sống của người
lao động trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên cơ sở số vốn đầu tư
mà cơ sở đã sử dụng so với các kì khác, các cơ sở khác hoặc so với định mức
chung.
Các kết quả mà cơ sở thu được do thực hiện đầu tư
Số vốn đầu tư mà cơ sở đã thực hiện để tạo ra các kết quả trên
Etc được coi là hiệu quả khi Etc Etc0
Trong đó: Etc - Chỉ tiêu hiệu quả tài chính định mức, hoặc của các kì khác
mà cơ sở đã đạt được chọn làm cơ sở so sánh, hoặc của đơn vị khác đã đạt tiêu
Hoặc:
Trong đó: - Doanh thu thuần bình quân năm i của dự án.
- Vốn lưu động bình quân của cả đời dự án.
e. Chỉ tiêu tỷ số lợi ích- chi phí ( B/C ):
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ số giữa lợi ích thu được với chi phí phải bỏ ra,
dự án có hiệu quả khi B/C 1. Dự án không có hiệu quả khi B/C 1.
f. Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn đầu tư ( T ):
Chỉ tiêu này cho biết thời gian mà dự án cần hoạt động để thu hồi vốn
đầu tư đã bỏ ra từ lợi nhuận và khấu hao thu được hàng năm. Dự án có hiệu quả
khi T tuổi thọ của dự án hoặc T T định mức. Thời gian thu hồi vốn càng ngắn
thì hiệu quả của dự án càng cao.
g. Chỉ tiêu hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR):
Hệ số hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất nếu dùng nó làm tỷ suất chiết
khấu để tính chuyển các khoản thu, chi của dự án về mặt bằng thời gian hiện tại
thì tổng thu cân bằng với tổng chi. Dự án có hiệu quả khi IRR r giới hạn và
ngược lại. Tỷ suất giới hạn được xác định căn cứ vào các nguồn vốn huy động
của dự án.
h. Chỉ tiêu điểm hoà vốn:
Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ để trang trải các
khoản chi phí phải bỏ ra. Điểm hoà vốn được biểu hiệ bằng chỉ tiêu hiện vật và
chỉ tiêu giá trị. Nếu sản lượng hoặc doanh thu của cả đời dự án lớn hơn sản
lượng hoặc doanh thu hoà vốn thì dự án có lãi và ngược lại. Điểm hoà vốn càng
nhỏ càng tốt, mức an toàn của dự án càng cao, thời gian thu hồi vốn càng ngắn.
4.1.2.Đối với doanh nghiệp:
a.Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư:
+ Tính cho từng năm:
Trong đó: Wj - Lợi nhuận thuần của dự án j
với j=1,2, ,m - lợi nhuận thuần của các DA hoạt động năm i.
Ivb- Vốn đầu tư thực hiện nhưng chưa phát huy tác dụng ở đầu năm của doanh
nghiệp.
- Mức tăng năng suất lao động bình quân năm thời kì t so với thời kì trước (t-
1).
ELi - Mức tăng năng suất lao động năm i so với năm i-1
V- Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp:
1. Môi trường bên ngoài doanh nghiệp:
Đối với một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, môi trường bên ngoài
tác động trực tiếp đến sự tồn vong và phát triển của doanh nghiệp.
1.1. Môi trường pháp lí:
Môi trường pháp lí bao gồm các luật và các văn bản dưới luật. Mọi quy
định về kinh doanh đều tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh. Môi trường pháp lí tạo ra sân chơi để các doanh nghiệp cùng tham gia
hoạt động kinh doanh, vừa cạnh tranh vừa hợp tác lẫn nhau. Mọi định hướng,
mục tiêu của doanh nghiệp khi đưa ra đều dựa trên cơ sở các luật định của Nhà
nước, các doanh nghiệp hoạt động dưới sự định hướng của Nhà nước thông qua
các luật định. Do vậy, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp trong mỗi thời kì
hoạt động nên dựa trên quy định của các văn bản pháp luật, tuỳ theo định
hướng phát triển kinh tế của đất nước để đề ra phương hướng cho đầu tư của
doanh nghiệp mình.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn phát triển nhanh
chóng, nhu cầu đầu tư xây dựng cơ bản là rất lớn, do vậy Nhà nước cũng có
nhiều những chính sách, những văn bản pháp luật tạo có tính chất thông thoáng
hoặc ưu tiên cho các doanh nghiệp xây dựng trong nước có nhiều điều kiện để
phát triển. Đây chính là một thuận lợi rất lớn mà môi trường pháp lí mang lại
cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng như công ty cổ phần tư vấn
xây dựng Sông Đà. Tuy nhiên, chính môi trường pháp lí đôi khi vẫn còn có
những hiện tượng quan liêu, chồng chéo lên nhau cộng với sự tha hoá của một
số cán bộ làm công tác quản lí Nhà nước đã trở thành rào cản rất lớn đối với