- 1 -
PHẦN MỞ ĐẦU
1.LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI:
“ Cạnh tranh kiểu mới không phải là cạnh tranh giữa cái mà các công ty sản
xuất ra tại nhà máy, công ty của mình mà là cạnh tranh giữa cái mà họ gia tăng
vào sản phẩm đầu ra của nhà máy dưới hình thức bao bì , dịch vụ, quảng cáo, tư
vấn khách hàng, tổ chức bố trí giao hàng và đặc biệt là thương hiệu và những
thứ khác mà khách hàng có thể đánh giá.”
Harvard’s Ted Levitt.
Trong thời kỳ nền kinh tế hội nhập với khu vực và trên thế giới, cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp ngày càng trở nên gây gắt, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
ngày nay không còn là cạnh tranh về chất lượng với giá rẻ, không phải hàng nào
bán giá rẻ thì được người tiêu dùng tin dùng, mà cuộc cạnh tranh hiện nay là
cuộc cạnh tranh về thương hiệu, về uy tín của sản phẩm và của doanh nghiệp
trong lòng người tiêu dùng.
Bản chất của thương hiệu là uy tín, mang nét riêng của từng doanh nghiệp, trong
từng sản phẩm được khách hàng tin dùng. Thương hiệu sản phẩm giúp nâng cao
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của sản phẩm đó
trên thị trường , làm cho khách hàng sử dụng sản phẩm đó cảm thấy an tâm hơn,
tự hào hơn khi sử dụng sản phẩm.
Trong kinh doanh hiện nay thì cạnh tranh bằng thương hiệu là một công cụ cạnh
tranh đắc lực của các doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của thương hiệu trong cạnh tranh , các doanh
nghiệp ngày nay càng ngày càng quan tâm đến vấn đề xây dựng thương hiệu và
quảng bá thương hiệu sản phẩm của mình, tạo ra cho mình một lối đi riêng, một
dấu ấn riêng trong lòng người tiêu dùng.
Cũng cùng suy nghĩ với các doanh nghiệp ngày nay, Công ty cổ phần thủy sản
584 Nha trang , cũng đã thấy được tầm quan trọng của thương hiệu trong kinh
doanh hiện nay, họ đã xây dựng cho mình một thương hiệu riêng và đã đi đăng
ký bảo hộ tại cục sỡ hữu công nghiệp việt nam( hay hiện nay là cục sỡ hữu trí
tuệ) và luôn tìm kiếm các biện pháp Marketing thích hợp để nâng cao thương
Phạm Hạnh Đan
- 3 -
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
- 4 -
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
các đối thủ cạnh tranh.”.
Cấu tạo của một thương hiệu chung gồm 2 phần:
o Phần phát âm được : Là những dấu hiệu có thể nói thành lời, tác động
vào thính giác người nghe như tên gọi , chữ cái, khẩu hiệu, đoạn nhạc đặc
trưng……
o Phần không phát âm được : Là những dấu hiệu tạo ra sự nhận biết thông
qua thị giác người xem như hình vẽ, biểu tượng, nét chữ , màu sắc….
Ngày nay, các dấu hiệu cấu thành thương hiệu khá nhiều. Người ta cho rằng bất kỳ
một đặc trưng nào của sản phẩm tác động vào các giác quan của người khác cũng có
thể coi là một phần của thương hiệu . Như vậy, tiềng động, mùi vị riêng biệt của sản
phẩm cũng có thể đăng ký bản quyền .
1.1.2.2. Chức Năng Của Thương Hiệu:
Chức năng nhận biết và phân biệt :
Đây là một chức năng đặc trưng và rất quan trọng của thương hiệu . Khả
năng nhận biết được của thương hiệu là yếu tố quan trọng không chỉ cho
người tiêu dùng mà còn cho cả doanh nghiệp trong quản trị và điều hành
hoạt động của doanh nghiệp . Thông qua thương hiệu, người tiêu dùng và
nhà sản xuất có thể dễ dàng phân biệt và nhận biết hàng hóa của doanh
nghiệp này với doanh nghiệp khác .Tập hợp các dấu hiệu của thương hiệu
(tên hiệu, biểu trưng , biểu tượng , kẩu hiệu, kiểu dáng hàng hóa, bao bì….)
chính là căn cứ để nhận biết và phân biệt.
Chức năng thông tin chỉ dẫn:
Chức năng này thể hiện ở chỗ , thông qua những hình ảnh ngôn ngữ hoặc các
dấu hiệu khác của thương hiệu , người tiêu dùng có thể nhận biết được phần
nào về giá trị sử dụng của hàng hóa , những công dụng đích thực mà hàng
hóa mang lại cho người tiêu dùng trong hiện tại và trong tương lai.Những
thông tin về nơi sản xuất , đẳng cấp của hàng hóa , cũng như điều kiện tiêu
dùng …. Cũng có thể phần nào được thể hiện thông quan thương hiệu.
Chức năng tạo sự cảm nhận và tin cây:
- 6 -
- 7 -
những thuộc tính của hàng hóa : kết cấu, hình dáng, màu sắc , dịch vụ sau
bán hàng…. Là cơ sở để khách hàng lựa chọn. Qua thời gian sử dụng
cũng như các thông điệp mà thương hiệu truyền tải đến người tiêu dùng ,
vị trí và hình ảnh của hàng hóa được định vị dần trong tâm trí của khách
hàng.
b) Thương hiệu như một lời cam kết giữa doanh nghiệp và khách hàng .
Một khi người tiêu dùng lựa chọn sử dụng sản phẩm đã có thương hiệu,
tức là họ đã chấp nhận và gởi gấm lòng tin vào thương hiệu đó . Họ tin
vào chất lượng tiềm tàng và ổn định của hàng hóa , tin vào những dịch vụ
vượt trội của doanh nghiệp…Các thông điệp mà các thương hiệu đưa ra
trong các quảng cáo, khẩu hiệu logo… luôn tạo sự kích thích, lôi cuốn
khách hàng, chứa đựng nội dung như những cam kết của doanh nghiệp
về chất lượng hàng hóa hoặc những lợi ích tiềm ẩn từ việc sử dụng hàng
hóa. Tất cả những điều này như một lời cam kết thực sự nhưng không rõ
ràng giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng.
c) Thương hiệu nhằm phân đoạn thị trường:
Thực ra thương hiệu không trực tiếp phân đoạn thị trường, mà chính
quá trình phân đoạn thị trường đòi hỏi có thương hiệu phù hợp cho từng
phân đoạn. Thông qua thương hiệu, các lãnh đạo doanh nghiệp có thể
nhận biết các phân đoạn thị trường.
d) Thương hiệu là tài sản vô hình và rất có giá của doanh nghiệp:
Thương hiệu là tài sản của doanh nghiệp, nó là tổng hợp các yếu tố,
những thành quả mà doanh nghiệp đã tạo ra trong suốt quá trình hoạt
động của mình . Chính sự nổi tiếng của thương hiệu như là một đảm
bảo cho lợi nhuận tiềm năng của doanh nghiệp. Đặc biệt, giá trị này thể
hiện rất rõ khi doanh nghiệp tiến hành nhượng quyền thương hiệu. Do
đó, các doanh nghiệp ngày nay nên tiến hành đầu tư vào chúng để đảm
bảo cho sự phát triển bền vững
1.2. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU:
trường và doanh nghiệp có thể đáp ứng vào khúc thị trường nào.
- 9 -
b)Đánh giá các khúc thị trường: dựa vào 3 nhân tố:
Qui mô và sự tăng trưởng: Doanh nghiệp cần thu thập và phân tích các số
liệu như doanh thu hiện tại, dự đoán tỷ lệ tăng doanh thu tương lai. lợi
nhuận hiện tại và tỷ lệ tăng lợi nhuận tương lai. Doanh nghiệp thường
quan tâm đến khúc thị trường có doanh số bán ra lớn, tỷ lệ tăng trưởng
nhanh và lợi nhuận cao, tuy nhiên đây không phải là khúc thị trường hấp
dẫn đối với tất cả các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ với nguồn
lực hạn chế. Những doanh nghiệp nhỏ thường lựa chọn các khúc thị
trường nhỏ hơn, ít hấp dẫn hơn nhưng lại mang lại nhiều lợi nhuận tiềm
năng cho họ hơn.
Sự lựa chọn của khúc thị trường: Một khúc thị trường có qui mô và khả
năng tăng trưởng vẫn kém hấp dẫn nếu xét trên quan điểm lợi nhuận, cần
phải xem xét các yếu tố sau:
- Đánh giá đối thủ hiện tại và tiềm năng
- Sự đe doạ của sản phẩm thay thế
- Áp lực về phía khách hàng
- Áp lực về phía người cung cấp.
Mục tiêu và nguồn lực của công ty: Một khúc thị trường cho dù có qui
mô, tốc độ tăng trưởng nhanh và hấp dẫn, doanh nghiệp cần phải xem xét
khúc thị trường đó có phù hợp với mục tiêu và nguồn lực của doanh
nghiệp không.
Thi trường mục tiêu của doanh nghiệp sẽ bao gồm nhiều khúc thị trường hoặc một
khúc thị trường thoả mãn cả ba điều kiện trên.
c) Căn cứ để lựa chọn thị trường mục tiêu:
Nguồn lực của doanh nghiệp: Nếu nguồn lực của doanh nghiệp bị hạn
chế nên lựa chọn thị trường đơn khúc.
Các biến số của sản phẩm: Chiến lược vô phân khúc thích hợp với
những sản phẩm có độ đồng nhất cao. Chiến lược đa khúc thích hợp với
phẩm của doanh nghiệp trong “đám đông”
1.3. Xây Dựng Thương Hiệu:
- 11 -
Tuỳ thuộc vào thị trường mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp, vị thế cạnh
tranh và các yếu tố môi trường tiếp thị, doanh nghiệp có thể xây dựng thương hiệu
cho sản phẩm của mình. Khi xây dựng một thương hiệu thì doanh nghiệp phải xây
dựng cho mình được các yếu tố về thương hiệu như: tên thương hiệu, logo biểu
tượng, đặc trưng, slogen câu khẩu hiệu, màu sắc, bao bì sản phẩm…
Đồng thời xây dựng thương hiệu phải đảm bảo các yếu tố sau:
Thương hiệu phải dễ nhớ:
Đây là điều kiện hết sức cần thiết dể tạo nhận thức của thương hiệu đối với ngươì
tiêu dùng. Từ tên gọi ,biểu tượng, kiểu chữ phải đảm bảo 2 yếu tố cơ bản: dễ chấp
nhận và dễ gợi nhớ. Do vậy trong quá trình thiết kế thương hiệu cần tiến hành
những nghiên cứu thử nghiệm 2 yếu tố trên dựa vào nhóm khách hàng mục tiêu dự
kiến.
Thương hiệu phải có ý nghĩa:
Để có thể gây ấn tượng và tác động vào tâm trí của khách hàng , thương hiệu cũng
phải chuyên trở một ý nghĩa xác định. Muốn như vậy , thành phần thương hiệu
đồng thờì vừa có tính mô tả, tính thuyết phục, vừa phải có nét vui vẻ, thú vị, vừa có
tính tượng hình cao gây cảm xúc thẩm mỹ.
Thương hiệu phải có tính dễ bảo hộ:
Nguyên tắc này thể hiện cả 2 khía cạnh : pháp luật và cạnh tranh. Do đó:
Chọn các yếu tố thương hiệu dễ bảo hộ về mặt pháp luật trên cơ sở quốc
tế.
Đăng ký chính thức thương hiệu với cơ quan pháp luật
Bảo vệ mạnh mẽ thương hiệu, chống lại sự xâm hại bản quyền
Sử dụng những bí quyết riêng trong thiết kế để tránh sự bắt chước của đối
thủ.
Thương hiệu phải có tính dễ thích ứng:
Do khả năng thay đổi của thị hiếu khách hàng hoặc sự chuyển hướng thị trường
với đối tượng mục tiêu.
c) Khẩu hiệu: cũng là yếu tố không thể thiếu của một nhãn hiệu hoàn chỉnh.
Một khẩu hiệu xúc tích, đầy đủ ý nghĩa và ý nghĩa là rất cần thiết để tóm tắt
giá trị của nhãn hiệu và sản phẩm. Khẩu hiệu cho nhãn hiệu trong giai đoạn
- 13 -
đầu Cần thể hiện rõ hơn lợi ích lý tính của sản phẩm, về sau có thể đưa ra
những khẩu hiệu với nội dung trừu tượng hay cảm tính hơn, với ý nghĩa sâu
sắc hơn.
1.4. Đăng Ký Bảo Hộ Thương Hiệu:
Một thương hiệu sau khi đã được định hình, được doanh nghiệp xem là hình ảnh
của mình thì cần tiến hành các hình thức đăng ký để được nhà nước bảo vệ tại cục
sở hữu trí tuệ. Tránh các tình trạng ăn cắp bản quyền, tranh chấp , làm phí phạm
thời gian, tiền bạc công sức của công ty đã cố gắng xây dựng. Thêm vào đó, việc
bảo hộ này chỉ mang tính chất địa lý, đăng ký tại nước nào thì sẽ có hiệu lực tại
nước đó. Do đó, đây cũng là một vấn đề mà các doanh nghiệp cũng cần chú ý.
Đăng ký bảo hộ thương hiệu là việc làm không thể thiếu trong quá trình xây dựng
thương hiệu, việc đó sẽ mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp, nên các doanh
nghiệp không thể bỏ qua khâu này trong tiến trình xây dựng thương hiệu của mình.
1.5. Quảng Bá Thương Hiệu.
1.5.1.Lý Do Quảng Bá Thương Hiêu:
Một doanh nghiệp, không phải sau khi đã hoàn thành việc xây dựng cho mình một
thương hiệu và đăng ký quyền xin được bảo hộ các yếu tố thương hiệu là xong
việc và yên tâm khai thác các lợi ích mà chúng mang lại cho doanh nghiệp. Một
thương hiệu sẽ không thể phát triển và tồn tại lâu dài được nếu bản thân doanh
nghiệp không thực hiện các công việc để quảng bá và phát triển thương hiệu của
chính mình. Thêm vào đó lượng thông tin hiện nay trên các thị trường là quá nhiều
và làm cho khách hàng bối rối.Do đó, để tạo chỗ đứng trong tâm chí khách hàng thì
các doanh nghiệp phải nỗ lực không ngừng để khách hàng luôn biết đến sản phẩm,
và trung thành với sản phẩm của doanh nghiệp.Vì vậy, doanh nghiệp phải xây dựng
cho mình một chiến lược quảng bá phù hợp với mình nhất. Thành công chỉ đến với
Hình 1.1: Quá trình nhân thức một thương hiệu đối với khách hàng
Qua sơ đồ ta thấy sự nhận biết về một thương hiệu đối với một khách hàng là cả
một quá trình dài Do đó , cần phải có công tác quảng bá với những cách thức thích
hợp phù hợp với khách hàng của mình để khách hàng có thể nhận biết thương hiệu
của công ty một cách tốt nhất và sẽ thuận lợi cho khách hàng khi có nhu cầu, giúp
cho công ty kinh doanh tốt hơn. Đó cũng chính là mục tiêu cuối cùng của công tác
quảng bá.
1.5.2. Mục Đích Của Quảng Bá:
Quảng bá thương hiệu là nỗ lực của doanh nghiệp nhằm thiết lập kênh thông tin và
thuyết phục khách hàng mua hàng hoá của họ
phát hiện
chú ý
tìm hiểu
chấp nhận
đáp ứng
ghi nhớ
khách hàng thấy và nghe thấy thương hiệu
khách hàng bị thu hút và có ấn tượng về
thương hiệu
khách hàng quan tâm tới các thông tin
truyền đạt và tìm hiểu ý nghĩa của thương
hiệu
khách hàng chấp nhận và thích thú với các
thành phần thương hiệu
trung thành thương
hiệu
các hình thức chiêu
thị
nhận biết thương
hiệu
- 16 -
hướng dẫn khách hàng tham gia vào chương trình, có hành động thích hợp
trong chương trình, từ đó có kinh nghiệm về thương hiệu và nâng cao nhận
thức, niềm tin về thương hiệu.
c)Các bước tiến hành một chương trình quảng cáo:
lập ngân sách và phân phối chi phí theo danh mục
lựa chọn mục tiêu của thông tin quảng cáo
quan niệm thông tin quảng cáo
phản hồi trong các trường
hợp không hiệu quả một
phần hay toàn phần
thử nghiệm sơ bộ thông tin quảng cáo
kế hoạch
hoá chương
trình quảng
cáo
- 17 -
hình 1.3: Các bước tiến hành một chương trình quảng cáo
d)Thông điệp quảng cáo và thử nghiêm:
Thông điệp của một chương tình quảng cáo phải mang đầy đủ ý nghĩa của thông
điệp thương hiệu muốn truyền đạt Thông điệp quảng cáo phải đảm bảo các yếu tố
về mặt thông tin, hợp lý lẽ, cách thức lôi cuốn đối tượng quảng cáo, đồng thời phải
xem xét các khả năng đưa ra các điểm nhấn.
Khi đã lựa chọn được thông điệp thì công ty nên tiến hành thử nghiệm: có thể thử
nghiệm trên môi trường thực tế hoặc thử nghiệm trên môi trường mô phỏng , tuỳ
thuộc vào đặc điểm sản phẩm của công ty.
e)Thực hiện và đánh giá chương trình quảng cáo:
Trong quá trình thực hiện, cần tạo ra một cơ chế phản hồi hữu hiệu để nắm bắt
thường xuyên các tác động của chương trình để có một cơ chế điều chỉnh kịp thời
và hợp lý.
f)Một số công cụ quảng cáo:
o Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng: báo chí, truyền thanh,
truyền hình….
giữa hai lần xuất bản
Truyền thanh
Sử dụng rộng rãi
Linh động về khu vực địa lý
Chi phí thấp
Chỉ đánh vào thính giác của
người nghe
Ít gây sự chú ý hơn
Thời gian ngắn
Truyền hình Kết hợp tốt giữa âm thanh. hình ảnh,màu
sắc liên tưởng
Bao quát số lượng lớn khán giả
Gây chú ý về tâm lý, hấp dẫn, thú vị
Không chọn lọc được khán
giả
Có thể nhàm chán, bỏ qua
Thời gian ngắn, chi phí cao
Quảng cáo
ngoài trời
Linh động ,có tính lập lại cao
Ít chịu áp lực của quảng cáo cạnh tranh
Hạn chế sáng tạo
Không chọn lọc được người
xem
Thư quảng
cáo trực tiếp
Linh động, khán giả có lựa chọn
Không chịu áp lực của cạnh tranh
Người đọc dễ bỏ qua hoặc ít
thấp hơn so với quảng cáo, đối tượng cụ thể
** Hạn Chế: Thông tin không đến được với một lượng lớn các đối tượng trong cùng
một thời gian ngắn; khó kiểm sóat thông tin do phải chuyển tải qua người thứ ba
(nhà báo , chuyên gia, sự kiện…), chi phí cao
1.5.3.3 Bán hàng trực tiếp:
a) Khái niệm: Là hình thức sử dụng nhân viên bán hàng để thông tin thuyết phục
khách hàng tiềm năng mua những sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh
nghiệp nhằm đạt được mục tiêu Marketing
b) Mục tiêu của bán hàng trực tiếp:
Giúp khách hàng cảm thấy được sự quan tâm riêng
Thiết lập một mối quan hệ rộng
Giúp khách hàng ra quyết định mua nhanh hơn.
c) Các công cụ bán hàng trực tiếp:
Thuyết minh bán hàng
Hội nghị khách hàng
Các chương trình khuyến khích
Hàng mẫu
Hội chợ và trưng bày thương mại.
- 20 -
d) Ưu và nhược điểm của công tác bán hàng trực tiếp
** Ưu Điểm: Mang tính riêng biệt cao, tính thuyết phục cao, tạo được mối quan hệ
lau dài với khách hàng
** Hạn Chế: Tốn kém chi phí lớn, phải có dự cam kết dài hạn với nhân viên bán
hàng.
1.5.3.4. Xúc tiến bán hàng:
a) Khái niệm: Là hoạt động của doanh nghiệp nhằm kích thích khách hàng mua
hàng và làm tăng doanh số bán hàng trong ngắn hạn bằng cách giành những lợi ích
nhất định cho khách hàng.
b)Mục tiêu của công tác xúc tiến bán hàng:
Khuyến khích trước mắt nhằm gây tác động tới nhu cầu
Yếu Tố Quảng cáo Quan hệ công
chúng
Bán hàng trực
tiếp
Xúc tiến bán
hàng (khuyến
mại)
Khán
thính giả
đại chúng đại chúng nhỏ
( mặt đối mặt)
Thay đổi
khác nhau
Thông
điệp
Thống nhất Thống nhất Riêng biệt Thay đổi
khác nhau
Chi phí
bình quân
thấp Miễn phí đối với
một số phương
tiện và thời gian
Cao Trung bình
người thục
hiện(tài
trợ)
Doanh nghiệp Không có người
tài trợ chính thức
cho các phuơng
tiện miễn phí
báo nói về những
đặc điểm độc đáo
của máy CD trong
xe ôtô
Nhân viên bán
hàng giải thích
cách vận hành
máy
CD trong
xe ôtô
Trưng bày ở
hội chợ triễn
lãm máy CD
trong xe ôtô
- 22 -
quảng bá cho hoạt động bán hàng trực tiếp vì các sản phẩm này thường có giá cả
cao và mức độ rủi ro lớn, khách hàng ít nhưng số lượng mua lại nhiều.
Nói như vậy, không có nghĩa là các hình thức quảng bá khác là không có tác dụng
gì, mà các hình thức khác vẫn có một vị trí nhất định nhưng không hiệu quả bằng
mà thôi.
b)Đặc điểm của thị trường: Bán hàng cá nhân phù hợp với thị trường có qui mô
nhỏ , nếu thị trường trải rộng thì cần dùng đến quảng cáo
Hình 1.4. Tần suất các hình thức quảng bá đối với các loại sản phẩm
1.5.4.2.Chiến lược đẩy và chiến lược kéo:
Khi thiết kế một hỗn hợp các hoạt động quảng bá, nhà sản xuất có thể nhắm các
hoạt động Marketing vào cả người trung gian lẫn người tiêu dùng. Hoạt động hướng
vào người trung gian được gọi là chiến lược thúc đẩy, và hướng vào người tiêu
dùng cuối cùng được gọi là chiến lược kéo.
Tần suất sử dụng
kênh phân phối. Một doanh nghiệp sử dụng chiến lược này tập trung mọi hoạt động
Marketing vào kênh phân phối bằng cách đưa nhiều ưu đãi đối với các nhà trung
gian, bán lẻ, nhân viên bán hàng như hoa hồng, thưởng khi phân phối, quảng cáo
tốt hay bán được nhiều.
Hình 1.5:Chiến lược đẩy
Một số điều kiện tạo thuận lợi cho chiến lược đẩy thành công:
o Khách hàng không trung thành với các nhãn hiệu cụ thể
o Quyết định mua hàng xảy ra tại cửa hàng, nhất là đối với hàng hoá hấp
dẫn
o Khách hàng biết rằng hị sẽ được gì khi mua sản phẩm.
Chiến lược kéo:
Nhà sản xuất tập trung mọi hoạt động Marketing của mình vào khách hàng cuối
cùng sao cho họ có ý muốn mua sản phẩm và động viên họ tìm các nhà phân phối
để mua sản phẩm , các nhà phân phối từ đó sẽ tiến hành đặt hàng của công ty. Trong
chiến lược này công ty thường áp dụng các hình thức quảng cáo và khuyến mại cho
người tiêu dùng.
Sản Xuất
Bán Buôn Bán Lẻ Tiêu Dùng
Sản Xuất Bán Buôn Bán Lẻ Tiêu Dùng
- 24 -
Hình 1.6: chiến lược kéo
Một số điều kiện tạo thuận lợi cho chiến lược kéo thành công:
o Việc mua hàng có ý nghĩa quan trọng.
o Khách hàng biết rõ những khác biệt giữa các sản phẩm cạnh tranh.
o Khách hàng trung thành với nhãn hiệu.
o Khách hàng quyết định nhãn hiệu nào họ muốn trước khi họ quyết định sẽ
mua hàng ở đâu. CH
ƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC
QUẢNG BÁ THƯƠNG HIỆU
NƯỚC MẮM TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN THUỶ SẢN 584
NHA TRANG