1
ÁP LỰC KHOANG VÀ DELTA P
(°)
TRONG CHẨN ĐOÁN SỚM
CHÈN ÉP KHOANG CẤP TÍNH Ở CẲNG CHÂN
Trần Anh Tuấn
(1)
, Nguyễn Quang Long
(2)TÓM TẮT
Chèn ép khoang cấp tính, một trong những biến chứng của gãy xương, đặc biệt là gãy
xương chày, cần được chẩn đoán sớm và can thiệp kòp thời nhằm tránh di chứng co rút gân cơ.
Các dấu hiệu lâm sàng gồm dấu hiệu đau, đau khi kéo căng và rối loạn thần kinh vận động
không luôn luôn hằng đònh. Áp lực khoang là dấu hiệu khách quan cho phép chẩn đoán sớm.
Ngưỡng ALK gây CEK thay đổi tùy thuộc vào huyết áp của bệnh nhân. Gần đây các tác giả
nước ngoài đề nghò lấy hiệu số giữa huyết áp tâm trương với ALK (delta P) dưới 30mmHg làm
ngưỡng để chẩn đoán và quyết đònh thời điểm can thiệp phẫu thuật giải ép. 30 trường hợp gãy
xương chày được chúng tôi theo dõi CEK bằng ALK và delta P. Với ngưỡng deltaP ≤
30mmHg, 03/30 trường hợp đã được phát hiện sớm và can thiệp phẫu thuật kòp thời không để
lạidi chứng. SUMMARY
Intramuscular pressure and delta p in early diagnostic
the acute compartment syndrome of the leg
Tran Anh Tuan, Nguyen Quang Long
xãy ra. Gần đây một số tác giả nước ngoài đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán CEKCT dựa vào hiệu
số giữa ALK và huyết áp tâm trương (mmHg) (∆P) và đề nghò can thiệp phẫu thuật khi
∆P≤30mmHg.
Whitesides 1975, Mubarack 1978, Hargen 1979 đề nghò chẩn đoán và phẫu thuật khi
ALK>30mmHg. Matsen 1980 lại đề nghò can thiệp khi ALK>45mmHg.
Về sinh lý bệnh của hội chứng CEKCT là do gia tăng ALK làm gián đoạn tuần hoàn vi
mạch, do đó Whitesides 1975 đề nghò phẫu thuật khi ∆P từ 10 đến 30 mmHg, McQueen 1996,
Tornetta 1996, Heppenstall 1997 đều đưa ra quan điểm chẩn đoán và phẫu thuật giải áp khi
∆P≤30mmHg.
Đỗ Phước Hùng 1992 đo ALK bằng máy đo tự chế kiểu Whitesides và đưa ra ALK
trung bình ở cẳng chân bình thường <10mmHg.
2001 Nguyễn Quang Long đưa ra quan điểm mới chẩn đoán CEKCT dựa vào các dấu
hiệu lâm sàng kết hợp với ∆P.
CEKCT trong gãy xương ở cẳng chân thường gặp nhất chiếm tỉ lệ từ 02% đến 09% và
và chiếm từ 68% đến 85% các CEKCT do gãy xương.
Nghiên cứu này thực hiện nhằm khảo sát giá trò của ALK và
∆
P trong chẩn đoán sớm
CEKCT trong gãy xương ở cẳng chân.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tiền cứu và số liệu được xử lý bằng phần mềm Epi Info-6.
Nghiên cứu bao gồm 30 bệnh nhân gãy xương chày nhập viện tại Bệnh viện Nhân Gia
Đònh thành phố Hồ Chí Minh từ 07/2002 đến 06/2003.
Tiêu chuẩn chọn bệnh:
Lập mẫu bệnh án thống nhất cho các trường hợp gãy xương chày (có hay không có gãy
xương mác) nhập viện cấp cứu tại BV NDGĐ.
Loại trừ các trường hợp có kèm tổn thương trục mạch máu chính ở cẳng chân.
Phương pháp thực hiện:
Các bệnh nhân được ghi nhận các dấu hiệu lâm sàng của CEKCT và được đo ALK,
cẳng chân bình thường không gãy xương (cẳng chân đối diện), ALK trung bình ở cẳng chân
bình thường là khoang trước P=6,8mmHg và sau sâu P=4,6mmHg. So sánh với số liệu của Đỗ
Phước Hùng 1992 P=6,36mmHg không có khác biệt. (p>0,05)
Như vậy ALK sau gãy xương là có gia tăng rõ rệt.
ALK theo nhóm tuổi và giới:
Nhóm tuổi/phái
<35 ≥35
Nam Nữ
ALK (mmHg) 20,7 17,8 21,46 12,83
Bảng 2: ALK theo nhóm tuổi và giới.
Khác biệt giữa hai nhóm tuổi không có ý nghóa thống kê (p=0,56).
Khác biệt ALK giữa hai giới có ý nghóa thống kê (p<0,05).
Kết quả này phù hợp với nhận đònh của Mc Queen 1996 rằng nam có nguy cơ xảy ra
hơn giới nữ và tuổi càng trẻ thì nguy cơ CEK càng cao.
ALK theo vò trí gãy xương:
Vò trí gãy Mâm chày 1/3 trên 1/3 giữa 1/3 dưới
ALK (mmHg) 26,5 24,2 17 16
Số ca 06 04 16 04
Bảng 3: ALK theo vò trí gãy xương.
ALK và cơ chế chấn thương:
ALK do chấn thương trực tiếp P=21,52 mmHg (23 ca).
ALK do chấn thương gián tiếp P=13,86 mmHg (07 ca).
) Chấn thương trực tiếp làm tăng ALK.
ALK và phân loại gãy xương Tscherne:
PL GÃY XG I II III
ALK trung bình (mmHg) 14,9 19,7 23,8
– ALK
(mmHg), trong đó ALK và ∆P được chọn ở thời điểm ALK là cao nhất.
Trung bình ∆P: 50±1,23mmHg, dao động từ –12mmHg đến 75mmHg.
So sánh với số liệu của McQueen 1996 không có khác biệt (p=0,05).
∆
P trong nhóm tuổi và phái:
Nhóm tuổi/giới
<35 ≥35
Nam Nữ
ALK (mmHg) 47,3 53,4 48,4 53,2
Bảng 6: ∆P theo nhóm tuổi và phái.
Khác biệt giữa hai nhóm tuổi và giới không có ý nghóa thống kê (p>0,05). Tuy nhiên
bảng trên vẫn cho thấy nhóm tuổi dưới 35 và phái nam có ∆P thấp có nghóa là nguy cơ xảy ra
CEK cao hơn.
∆
P và vò trí gãy xương:
Vò trí gãy Mâm chày 1/3 trên 1/3 giữa 1/3 dưới
DeltaP (mmHg) 55 45 52 56
Số ca 06 04 16 04
Bảng 7: ∆P theo từng vò trí gãy xương.
Khác biệt ∆P trong từng vò trí gãy không có ý nghiõa thống kê (p=0,32>0,05).
∆
P và phân loại gãy xương Tscherne:
PL GÃY XG I II III
∆P TRUNG BÌNH (mmHg) 56 49 36
SỐ CA 10 14 06
Bảng 8: ∆P trong phân loại gãy xương Tscherne.
Khác biệt giữa các nhóm theo phân loại gãy xương chưa đủ có ý nghóa, tuy nhiên một
lần nữa khẳng đònh mức độ gãy xương kín càng nặng thì nguy cơ CEK càng cao.
Dựa vào ALK P>30mmHg, trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi có đến 4/30 ca phải
can thiệp phẫu thuật giải ép thì dựa vào ∆P<30mmHg cho phép chúng tôi chẩn đoán sớm và
đúng 3/30 trường hợp cần phẫu thuật. Và thời gian can thiệp phẫu thuật không quá 06 giờ khi
khởi phát CEK, do đó không có trường hợp nào để lại di chứng.
Như vậy ∆P là dấu hiệu khách quan và cho phép chẩn đoán sớm và quyết đònh can
thiệp phẫu thuật sớm và an toàn cho bệnh nhân nhằm ngăn ngừa các di chứng đáng tiếc có thể
ra cho bệnh nhân sau gãy xương chấn thương, đặc biệt là khi các dấu hiệu lâm sàng khó xác
đònh (bệnh nhân hôn mê, trẻ em, không hợp tác )
KẾT LUẬN
Chèn ép khoang cấp tính là biến chứng có thể xảy ra sau gãy xương chấn thương, đặc
biệt là những chấn thương nặng và gãy xương phức tạp.
Chẩn đoán sớm chèn ép khoang cấp tính có thể dựa vào các dấu hiệu lâm sàng khi
bệnh nhân tỉnh táo và hợp tác.
Áp lực khoang và ∆P là một bằng chứng khách quan để chẩn đoán sớm và quyết đònh
can thiệp phẫu thuật kòp thời nhằm tránh các di chứng cho bệnh nhân.
Phương tiện đo áp lực khoang bằng máy đo tự chế có thể áp dụng trong điều kiện kinh
tế của nước ta hiện nay. 6
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Allen, M.J.: Intracompartment pressure monitoring of leg injuries, Journal Bone and
12. Marsa M., Hadleya G. P.: Raised compartmental pressure in children: a basis for
management, Injury. Injury. Volume 29, Issue 3, April 1998, pp 183 – 185.
13. Matsen F.A., III, Winquist R.A.: Diagnosis and management of compartment syndrome,
Journal Bone and Joint Surgery, 1980; 62-A; pp 286 – 291.
14. Matsen F.A. III: The effects of limb elevation and dependence on local arteriovenous
gradients in normal human limbs with particular reference to limbs with increased
tissue pressure, Clinical Orthopaedics, 1980, pp 150 – 187.
15. McQueen, M.M, Court–Brown, C.M.: Compartment monitoring in tibia fracture,
J. Bone and Joint Surg., Vol.78-B, No.1 1996, pp 99 – 104.
16. McQueen, M.M.: Acute compartment syndrome in tibial diaphyseal fracture, Journal
Bone and Joint Surgery.1996; 78-B, pp 95 – 98.
17. McQueen, M.M.: Acute compartment syndrome.Who is at rich?, Journal Bone and Joint
Surgery. 2000 Mar.; 82-B, pp 200 – 203.
18. McQueen, M.M.: Compartment pressures after intramedullary nailing of the tibia,
Journal Bone and Joint Surgery. 1990; 72-B, pp 395 – 397.
7
19. Meyer S.R., Mubarak J.S.: Compartment syndromes. Chap.13. In: Chapman’s
Orthopeadic Surgery, 3
rd
Edition. 2001. Lippincott Williams & Willkins
20. Nagel, D. A., and Csongradi, J. J.: Complication in Orthopaedic Surgery, Vol.2,
J.B.Lippincott Company, 1986, pp 1169 – 1180.
21. Nguyễn Quang Long: Từ hội chứng Volkmann đến hội chứng chèn ép khoang: 120 năm
tiến triển, Hội nghò thường niên Hội Chấn thương Chỉnh hình, TP Hồ Chí Minh,
tháng 9-2001, tr 01 – 18.
22. Pellegrini, V. D., Jr., J.Spence Reid, C. McCollister Evarts: Complications, In
Rockwood and Green’s fracture in adults, vol.1, Lippincott-Raven Publishers,
Philadelphia, 1996, pp 487 – 492.
23. Phạm Chí Lăng: Nhận xét về biến chứng chèn ép khoang trong chấn thương qua 70 bệnh