Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau - Pdf 20

TÓM LƯỢC
Cùng với sự chuyển đổi cơ cấu từ trồng lúa sang nuôi tôm cũng là nguyên nhân
dẫn đến giá trị đất đai ngày càng tăng cao trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Người dân ngày
càng nhận thức được đất đai là tài sản quý giá và tìm hiểu về pháp luật đất đai nhiều
hơn. Từ đó trong quá trình sử dụng đất không thể tránh khỏi những mâu thuẫn bất đống
và phát sinh thành tranh chấp buộc các cơ quan có thẩm quyền phải vận dụng Luật Đất
đai và các văn bản pháp luật có liên quan để hòa giải hay giải quyết. Vì những lý do
trên, được sự đồng ý của Bộ môn Khoa học đất & Quản lý đất đai, Khoa Nông Nghiệp
& Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ và Ban Giám đốc Sở Tài Nguyên &
Môi Trường Tỉnh Cà Mau cho em thực tập tốt nghiệp ngành Quản Lý Đất Đai năm
2001-2005 với đề tài: “Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu
nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau”. Nhằm mục đích khảo sát thực
trạng công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau, từ đó tìm hiểu
những thuận lợi- khó khăn cũng như qui trình giải quyết tranh chấp đất đai ở tỉnh hiện
nay.
Đề tài được thực hiện từ ngày 07/03/2005 đến 07/06/2005 tại phòng thanh tra Sở
Tài nguyên & Môi trường tỉnh Cà Mau em đã ghi nhận được một số kết quả như sau:
Tổng lượng đơn yêu cầu, khiếu nại về đất đai từ năm 1998 - 2004 là 4555 đơn.
Trong đó cấp tỉnh 660 đơn, chiếm tỷ lệ: 14,49%; cấp huyện: 3895 đơn, chiếm tỷ lệ:
85,51 đơn. Năm có số lượng đơn nhiều nhất là năm 1999: 915 đơn, chiếm tỷ lệ: 20,09%
tổng số đơn. Tổng số đơn đã giải quyết trên toàn tỉnh là 2650/4555 đơn, còn tồn đọng là
1905 đơn, đơn tố cáo vi phạm pháp luật đất đai là 07 vụ (đã giải quyết xong 07 vụ). Qua
nghiên cứu nhận thấy: Việc thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai
của công dân ở Sở Tài Nguyên & Môi trường Cà Mau đã được sự quan tâm cũng như sự
hướng dẫn kịp thời từ phía trung ương và của UBND tỉnh Cà Mau đã tạo điều kiện cho
công tác xét khiếu nại - tố cáo, tranh chấp về đất đai của công dân ngày càng đạt hiệu
qua cao cả về số lượng cũng như chất lượng. Trong quá trình giải quyết các khiếu nại -
tố cáo, tranh chấp về đất đai Sở Tài nguyên & Môi trường đã dựa trên cơ sở của Luật
Đất đai , Luật khiếu nại, tố cáo ... và các văn bản có liên quan. Bên cạnh đó cũng còn
những khó khăn trong công tác thanh tra giải quyết tranh chấp dẫn đến lượng đơn tồn
đọng không giải quyết dứt điểm như: Người sử dụng đất không làm đầy đủ các thủ tục

Chính vì vậy mà Luật Đất đai 2003 ra đời nhằm điều chỉnh các quan hệ đất đai cho phù
hợp với tình hình mới. Tuy nhiên vẫn còn những bất cập vướng mắc ngày càng hoàn
thiện. Do đó đề tài: “Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại-
tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau”thực hiện nhằm mục đích:
-Khảo sát thực trạng công tác thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo
đất đai. Tìm hiểu về các hoạt động thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo.
Những thuận lợi và khó khăn trong công tác thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại,
tố cáo. Hoàn thiện quy trình giải quyết tranh chấp đất đai một cách hiệu quả nhằm giải
quyết tranh chấp được nhanh chóng.
3
CHƯƠNG I
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
I. KHÁI NIỆM VỀ ĐẤT ĐAI:
1. Định nghĩa:
Theo Lê Tấn Lợi (ĐHCT, 1999): Đất đai là một diện tích khoanh vẽ trên bề mặt
của trái đất, chứa đựng tất cả các đặc trưng của sinh khí quyển ngay bên trên và bên
dưới của lớp mặt này bao gồm: Khí hậu gần mặt đất và dạng hình mặt nước (Bao gồm
những hồ cạn, sông, hầm, trũng và đầm lầy), lớp trầm tích gần mặt và kết hợp nước dự
trữ ngầm, tập đoàn thực vật và động vật, mẫu hình định cư của con người và những kết
quả về tự nhiên của hoạt động của con người trong thời gian qua và hiện tại (làm ruộng
bậc thang, cấu trúc hệ thống trữ nước, đường xá, nhà cửa).
2. Vai trò đất đai:
Theo Bùi Quang Nhơn (ĐHCT, 2000): Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên vô
cùng quí giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người. Đất là nền tảng, là bệ đỡ của sự
sống nói chung, của loài người nói riêng. Trải qua quá trình phát triển lâu dài, cùng với
sự ra đời của Nhà nước, đất đai được đưa vào sử dụng với những chế độ pháp lý khác
nhau, điều này phụ thuộc chế độ chính trị, kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia ở từng thời
kỳ nhất định.
Với đặc thù độc đáo mà không một vật thể tự nhiên nào có được đó là độ phì
nhiêu, đất cung cấp dinh dưỡng cho toàn bộ cây trồng vật nuôi, giúp cho nó sinh sôi,

tranh chấp, xung đột mà đất đai là đối tượng mà các cuộc cách mạng tham vọng về lãnh
thổ. Còn trong lao động sản xuất, đời sống xã hội và môi trường thì đất đai chính là yếu
tố quyết định cho sự tồn tại động thực vật và con người.
Đất đai chỉ có thể phát huy vai trò vốn có của nó dưới sự tác động tích cực của
con người một cách thường xuyên. Ngược lại, đất đai không phát huy được khả năng
sinh lợi nếu con người tác động vào nó với một thái độ thờ ơ, sử dụng một cách tùy tiện,
chỉ khai thác mà không thực hiện việc cải tạo và bồi bổ đất, các điều kiện đó phụ thuộc
vào bản chất của mỗi chế độ kinh tế xã hội từng quốc gia nhất định.
Môi trường đất rất nhạy cảm với mọi sự biến đổi và khó khôi phục lại trạng thái
ban đầu. Chúng ta điều biết Việt Nam là quốc gia nằm ở vùng nhiệt đới, mưa nhiều,
5
nhiệt đới không khí cao, khoáng hóa mạnh, dễ bị rửa trôi, bảo mòn và hiện nay có 13
triệu hecta đất bị suy thoái thành đất trống, đòi núi trọc. Vì vậy, việc bảo vệ, giữ gìn, cải
tạo và bồi bổ đất cần tiến hành triệt để dưới nhiều hình thức khác nhau, áp dụng song
song các biện pháp hữu hiệu nhằm tạo điều kiện cho đất đai ngày càng phát huy vai trò
to lớn của nó.
II. PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VÀ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI TRONG
LỊCH SỬ:
Đất đai là tài sản vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan
trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng các cơ sở
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng.
Các nhà chính trị vĩ đại của thế giới đã từng chỉ ra rằng: Trong sự phát triển của
xã hội đất đai đóng vai trò kinh tế và chính trị hết sức to lớn. Việt Nam là một quốc gia
có dân số đông mà đất đai hạn chế nên việc sử dụng phải được quản lý chặt chẽ và tiết
kiệm.
Xuất phát từ những đặc điểm và vị trí hết sức quan trọng đó của đất đai, từ năm
1945 khi thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cho đến nay, trải qua nhiều giai
đoạn lịch sử, Nhà nước ta luôn quan tâm thích đáng đến vấn đề đất đai và đã ban hành
nhiều văn bản luật về quản lý và sử dụng đất đai nhằm mục đích bảo vệ đất, sử dụng đất
hợp lý có hiệu quả kinh tế cao. (Tổng Cục Địa Chính, 2002).

thành nguyên tắc hiến định quyền sở hữu tư nhân về đất đai chấm dứt. Trên cơ sở đó,
quyết định 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội Đồng Chính Phủ về việc thống nhất quản lý
ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất cả nước ra đời, có thể nói dù văn
bản này là văn bản dưới luật, nhưng khá đầy đủ và toàn diện về công tác quản lý của
Nhà nước về đất đai trong thời kỳ này.
c). Giai đoạn từ sau Đại Hội VI đến nay:
Phải đổi mới, đặc biệt là đổi mới kinh tế, là mệnh Lệnh lịch sử cả dân tộc ta, đối
với Đảng, Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VI diễn ra vào năm 1986 là một bước ngoặc
lịch sử đánh dấu tiến trình phát triển mới của đất nước. Hàng loạt các văn bản pháp luật,
7
chủ trương và chính sách pháp Luật đất đai ra đời, là những bước tiến cực kỳ quan trọng
trong chủ trương chính sách pháp Luật đất đai. Có thể nói từ đó cuộc cách mạng nông
nghiệp đã diễn ra tạo sinh khí mới trong đời sống nhân dân đặc biệt là nông dân. Nó
đánh dấu cột mốc đổi mới và thời kỳ khủng hoảng, giải toả sự đình đốn trì trệ trong
nông nghiệp, tạo nên sức sản xuất nông nghiệp chưa từng có trong lịch sử nước ta, đánh
dấu nét son của thời kỳ đổi mới (các văn bản từ quyết định 201/CP ngày 01/7/1980 của
Hội Đồng Chính Phủ đến Luật Đất đai công bố năm 1988, từ chỉ thị 100_CT/TW ngày
13/01/1981 và chỉ thị 19_CT/TW ngày 03/5/1983 của ban chấp hành trung ương Đảng
về hoàn thành điều chỉnh ruộng đất đẩy mạnh cải tạo ruộng đất xã hội chủ nghĩa đối với
nông nghiệp nghị quyết 10_NQ/TW ngày 05/4/1988 của bộ chính trị về đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp và chỉ thị 47_CT/TW ngày 31/8/1988 của Bộ Chính Trị về việc
giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất…).
Tuy nhiên, với những quy định và chính sách quan trọng đó và cùng với Hiến
pháp năm 1980 một mặt đã đem lại ruộng đất vào tay người thật có nhu cầu nhất là
người nông dân, góp phần thúc đẩy trong việc vực dậy và phát triển kinh tế, nhưng mặt
khác một thực tế không thể phủ nhận là một số quy định, chủ trương và chính sách
không xác thực tiễn của thời kỳ, sau năm 1975 vẫn còn để lại hậu quả, cùng với sự hạn
chế của Luật Đất đai năm 1988, tất cả đã bộc lộ những khiếm khuyết vô hình chung tạo
nên những mầm mống tranh chấp và khiếu nại về đất đai từ tích tụ dần trong một thời
gian dài chỉ chờ có dịp là bộc phát một cách mạnh mẽ, quyết liệt. Đảng và Nhà nước đã

1993 và nghị định 90_CP ngày 17/8/1994 của Chính Phủ, đồng thời với việc thu hồi giải
tỏa gần như trắng tay (chỉ bồi hoàn hoa lợi trên đất theo Luật Đất đai năm 1988), đã tạo
nên thực trạng đầy bức xúc trong lĩnh vực này chỉ được xem xét một cách tương đối
bằng sự ra đời của Nghị định 22/1988/NĐ_CP ngày 24/4/1988 và chỉ thực sự phơi bày
một cách toàn diện khi đoàn công tác chính phủ xuất hiện. (Tổng Cục Địa Chính, 1997).
III. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN TRANH CHẤP, KHIẾU NẠI, TỐ
CÁO VỀ ĐẤT ĐAI:
1. Khái niệm tranh chấp đất đai:
Các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp Luật đất đai không phải lúc nào cũng
nhất trí với nhau về tất cả các vấn đề quan hệ pháp luật, vì thế sẽ xuất hiện những ý kiến
khác nhau, những mâu thuẫn, những bất đồng nhất định, được thể hiện trên thực tế bằng
những hành động cụ thể, người ta gọi đó là hiện tượng tranh chấp.
9
Như vậy, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia
quan hệ pháp Luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất
đai.
Đi ngược dòng thời gian về trước những năm 1980, khi Nhà nước còn duy trì 3
hình thức sở hữu đối với đất đai: Sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân.
Do đó, có thể tranh chấp về quyền sở hữu đất đai hoặc tranh chấp về quyền quản lý và
sử dụng đối với đất đai. Sau Hiến pháp 1980, Nhà nước trở thành chủ sở hữu duy nhất
toàn bộ đất đai trên cả nước, vì thế không thể có tranh chấp về quyền sở hữu đất đai.
Chủ thể các quan hệ tranh chấp chỉ là chủ của quá trình quản lý và sử dụng đất
đai. Các bên tham gia tranh chấp không phải là chủ sở hữu đất đai mà họ chỉ được giao
đất cho sử dụng trong khuôn khổ pháp luật quy định.
2. Các dạng tranh chấp đất đai:
Tranh chấp giữa những người sử dụng đất với nhau về ranh giới giữa các vùng
đất được phép sử dụng và quản lý. Loại tranh chấp này thường do một bên tự ý thay đổi
hoặc do hai bên không xác định được với nhau.
Tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất: Việc một
bên vi phạm quyền sử dụng đất, làm cản trở việc thực hiện quyền của phía bên kia hoặc

Tranh chấp giữa tổ chức với tổ chức
Tranh chấp giữa tổ chức với hộ gia đình hoặc cá nhân
(Nguyên Ngọc Điệp, Lê Kim Dung, 1998.)
4. Giải quyết tranh chấp:
Giải quyết tranh chấp đất đai với ý nghĩa là một nội dung của chế độ quản lý Nhà
nước đối với đất đai là hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm giải
quyết các bất đồng, mâu thuẩn trong nội bộ của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân để tìm
ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm phục hồi các quyền bị xâm hại đồng
thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật. (Bùi Quang
Nhơn, 2000)
11
5. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tranh chấp đất đai:
Tranh chấp đất đai xảy ra là hậu quả của những nguyên nhân nhất định. Nó biểu
hiện cụ thể những mâu thuẫn bất đồng về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể sử dụng đất
với nhau.

Nguyên nhân khách quan:
Lịch sử đã để lại những hậu quả khác nhau trên cả hai miền. Ở Miền Bắc, sau
cách mạng tháng 8 và sau năm 1953, Đảng và Chính phủ đã tiến hành cải cách ruộng
đất, xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của thực dân, Phong kiến, thiết lập quyền sở
hữu ruộng đất cho người nông dân. Năm 1960, thông qua con đường hợp tác hóa nông
nghiệp, ruộng đất của người nông dân được đưa vào làm tư liệu sản xuất chung trở
thành

Nguyên nhân chủ quan:
Trong cơ chế quản lý Nhà nước trước kia, Nhà nước phân công, phân cấp cho
quá nhiều ngành dẫn đến việc quản lý đất đai thiếu chặt chẽ, còn nhiều sơ hở. Có thời
kỳ, mỗi loại đất do một ngành quản lý. Đất nông nghiệp do ngành nông nghiệp quản lý,
đất lâm nghiệp do ngành lâm nghiệp quản lý, đất chuyên dùng thuộc ngành nào ngành
ấy quản lý, dẫn đến tranh chấp giữa đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp, cũng như với

quan hệ đất đai. Không còn sở hữu tư nhân về đất đai nên việc đòi lại đất gốc, đất cũ mà
Nhà nước đã có quyết định giao cho người khác sử dụng là trái quy định của pháp luật
tại khoản 2 Điều 10 của Luật Đất đai quy định: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại
đất đã giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực
hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách
mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam”.
2. Lấy dân làm gốc để giải quyết:
Dựa vào dân, bàn bạc dân chủ, công khai, tăng cường giải quyết ở cơ sở và tăng
cường hòa giải trong nhân dân, giáo dục, giải thích, thuyết phục, giải quyết có lý, có
tình, không mệnh lệnh, gò ép.
3. Đảm bảo người làm nông nghiệp có đất sản xuất, mọi người đều có nơi ở:
Khi giải quyết, không để người sử dụng đất tích cực bị thiệt thòi, chiếu cố đến
người trực canh, trực cư.
13
4. Không “rũ rối”, tránh lây lan:
Không dỡ giải quyết toàn bộ, mà phát sinh đến đâu giải quyết đến đó, giải quyết
dứt điểm, cố gắng giữ ổn định tình hình sử dụng đất để phát triển sản xuất, ổn định đời
sống cho nhân dân, nhất là trong trường hợp trả lại đất cũ và đền bù giải phóng mặt
bằng. Nhưng không thể vì thế mà bỏ qua các trường hợp bất hợp lý, ảnh hưởng đến sản
xuất, đến đời sống của người dân, ảnh hưởng đến sự đoàn kết trong nhân dân.
5. Kết hợp hài hòa giữa căn cứ pháp luật với thực tiễn, giữa chính sách đất
đai với chính sách xã hội khác:
Căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết tranh chấp, khiếu kiện về
đất là vấn đề rất quan trọng, là một trong những yếu tố đảm bảo cho việc thống nhất
quản lý Nhà nước về đất đai trong từng địa phương cũng như trong toàn quốc. Nhưng
chỉ có căn cứ pháp lý thì chưa đủ, mà cần thiết phải có các yếu tố thực tế để quyết định
giải quyết phù hợp pháp luật, có lý, có tình, được dư luận đồng tình ủng hộ.
Trong khi giải quyết tranh chấp, khiếu kiện về đất còn phải có sự kết hợp hài hòa
giữa chính sách đất đai với chính sách xã hội khác như: Chính sách về người có công

và lợi ích hợp pháp của công dân. Ví dụ:
- Tố cáo về việc UBND xã bán đất trái phép
- UBND huyện giao đất không đúng mục đích, làm hủy hoại đất đai…
- Người sử dụng đất sử dụng không đúng mục đích, làm hủy hoại đất đai…
VI. MỘT SỐ VĂN BẢN LUẬT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THANH TRA GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI:
 Luật Đất đai 1988:
Tại Điều 5 Luật Đất đai năm 1988 quy định: “Nghiêm cấm việc mua, bán, lấn
chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà không sử
dụng, sử dụng không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào
mục đích khác làm hủy hoại đất đai.
Tại Điều 15_ Nghị định của Hội Đồng Bộ Trưởng số 30_HĐBT ngày 23/3/1989
về việc thi hành Luật Đất đai quy định như sau:
+ Việc tranh chấp trong nội bộ nhân dân thì do UBND xã, thị trấn, quận, thị xã,
thành phố tỉnh căn cứ vào tài liệu địa chính, khả năng lao động, đời sống của các bên và
15
vốn đất đai của địa phương để giải quyết đúng pháp luật, đúng thẩm quyền. Nếu giải
quyết không xong thì kiến nghị lên cấp trên. Quyết định của chính quyền cấp trên trực
tiếp có hiệu lực thi hành.
+ Khi giải quyết tranh chấp đất đai giữa cá nhân với tổ chức và giữa tổ chức với
nhau phải căn cứ vào các quy định sau đây:
a). Bảo đảm cho các tổ chức thực hiện nghĩa vụ được giao và bảo đảm đời sống
cho cá nhân.
b). Đất đai sử dụng có hiệu quả hơn.
c). Thuận tiện cho việc quản lý, sử dụng, bảo vệ đất của mỗi bên, đảm bảo được
đoàn kết, ổn định sản xuất.
Khi giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất đai có liên quan đến địa giới giữa
các đơn vị hành chánh, UBND các đơn vị đó cùng phối hợp giải quyết trên cơ sở các tài
liệu địa chính Nhà nước. Nếu các tài liệu trên còn thiếu hoặc không thống nhất thì trong
khi chờ đợi các cấp có thẩm quyền, phân vạch lại địa giới hành chính, hai bên dựa vào

2. Chánh thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, chánh thanh
tra sở và cấp tương đương có trách nhiệm xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết
khiếu nại thuộc thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan đó.
Điều 31:
Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc
biết được có hành vi hành chính.
Trong trường hợp vì ốm đau, dịch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những
trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại
không đúng thời hiệu, thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.
Điều 62:
1. Xác minh, kết luận nội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc
thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cơ quan cùng cấp khi được giao.
2. Xem xét, kết luận nội dung tố cáo mà thủ trưởng cơ quan cấp dưới trực tiếp
của thủ trưởng cơ quan cùng cấp đã giải quyết nhưng có vi phạm pháp luật; trong
trường hợp kết luận việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người giải
quyết xem xét, giải quyết lại.
Điều 63: Tổng thanh tra Nhà nước có thẩm quyền:
17
1. Xác minh, kết luận nội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc
thẩm quyền giải quyết của Thủ tướng chính phủ khi được giao.
2. Xem xét, kết luận về nội dung tố cáo mà Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc chính phủ, chủ tịch UBND cấp tỉnh đã giải quyết nhưng vì
có vi phạm pháp luật, trong trường hợp kết luận việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật
thì kiến nghị người đã giải quyết xem xét, giải quyết lại.
Điều 76:
Khoản 2: Thanh tra Nhà nước các cấp, các cơ quan khác của Nhà nước có trách
nhiệm tổ chức tiếp công dân thường xuyên theo qui định của pháp luật.
 Luật Đất đai năm 2003:
Công tác hòa giải, thẩm quyền giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo cũng được
quy định rõ tại các Điều 135; 136;138; 139.

b. Nhà xưởng sản xuất, kinh doanh gắn liền với đất là tài sản của người cho
mượn, cho thuê nhà xưởng.
c. Quyền sử dụng đất, nhà xưởng sản xuất, kinh doanh gắn liền với đất , nhà ở
gắn liền với đất không thuộc danh sách các trường hợp đã thực hiện các chính sách cải
tạo của Nhà nước về đất đai, nhà ở, nhà xưởng.
d. Việc giải quyết đối với quyền sử dụng đất, nhà xưởng sản xuất, kinh doanh
gắn liền với đất được thực hiện như đối với nhà ở gắn liền với đất quy định tại Nghị
quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/08/1998 của ủy ban thường vụ Quốc Hội về
giao dịch quân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/07/1991.
3. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân mượn đất, thuê đất của hộ gia đình, cá nhân
khác mà không có văn bản thỏa thuận về việc mượn đất, thuê đất quy định tại điểm b
khoản 1 điều này, nay tự nguyện trả lại đất đã mượn, đã thuê thì việc trả lại đất phải
được UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định công nhận.
Điều 114: Giải quyết trường hợp tổ chức mượn đất, thuê đất hoặc cho mượn đất, cho
thuê đất:
1. Trường hợp bên mượn đất, thuê đất là tổ chức không thuộc quy định tại khoản
1 Điều 112 của Nghị định này thì việc giải quyết đối với trường hợp hộ gia đình, cá
nhân mượn đất, thuê đất của hộ gia đình, cá nhân khác quy định tại Điều 113 của Nghị
định này.
19
2. Trường hợp bên cho mượn đất, cho thuê đất là tổ chức thì việc giải quyết được
thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 2 Điều 52 và điểm c
khoản 2 Điều 53 của Nghị định này.
Quyết định số 76/2003/QĐ-UB ngày 17 thang 11 năm 2003 của UBND tỉnh
Cà Mau: Về việc cải tiến quy trình tiếp nhận và giải quyết khiếu nại tranh chấp
đất đai:
Phần 1: Những quy định chung.
Điều 1: Sự cần thiết phải cải tiến qui chế:
Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến
pháp nước ta nghi nhận, các ngành, các cấp chính quyền, mọi tổ chức và cá nhân được

Quốc Hội, UBND tỉnh được tập trung thành một đầu mối. Địa điểm tiếp dân đặt tại ban
tiếp dân tỉnh.
Cơ quan tiếp công dân của huyện ủy, Hội đồng nhân dân, UBND huyện, thành
phố được tập trung thành một đầu mối. Địa điểm tiếp dân đặt tại phòng tiếp dân huyện,
thành phố.
Tiếp dân các cơ quan cấp xã được tập trung thành một đầu mối. Địa điểm tiếp
dân đặt tại trụ sở UBND.
Điều 5: Phân công cán bộ phụ trách tiếp dân:
Cấp huyện và tỉnh phân công 1 phó văn phòng UBND trực tiếp theo dõi công tác
tiếp dân, cấp xã cử một phó Chủ tịch trực tiếp theo dõi và trực tiếp chỉ đạo công tác tiếp
dân.
Điều 6: Phân công trách nhiệm các cơ quan tiếp công dân và các cơ quan tham mưu
giúp UBND tỉnh giải quyết khiếu nại tranh chấp đất đai:
Đối với cơ quan tiếp dân có trách nhiệm hướng dẫn, giải thích, thụ lý đơn thư
khiếu nại khi có đủ căn cứ pháp luật và thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp mình thụ lý
(có phiếu nhận đơn, phiếu thụ lý vụ việc, giao cho công dân một bản và một bản kèm hồ
sơ chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết).
21
Sở xây dựng có nhiệm vụ: Tham mưu giúp UBND tỉnh giải quyết các vụ việc
tranh chấp về nhà ở, đất ở đô thị khi cấp huyện giải quyết nhưng còn khiếu nại.
Sở Tài nguyên và Môi trường có nhiệm vụ: Tham mưu trực tiếp giúp UBND tỉnh
giải quyết các vụ việc tranh chấp đất đai được UBND cấp huyện giải quyết nhưng còn
khiếu nại.
Sở tài chính- vật giá chủ trì phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở xây dựng
tham mưu giúp UBND tỉnh giải quyết các vụ việc khiếu nại về bồi thường giải phóng
mặt bằng để đầu tư các công trình khi UBND cấp huyện, Hội đồng bồi thường giải tỏa
giải quyết nhưng còn khiếu nại.
Thanh tra tỉnh có nhiệm vụ: Tham mưu UBND tỉnh xem xét quyết định của
UBND tỉnh giải quyết cuối cùng nhưng đương sự còn khiếu nại trước khi tiến hành áp
dụng biện pháp cưỡng chế thi hành, thời gian thực hiện không quá 30 ngày.

quan có thẩm quyền tiến hành tổng hợp các chứng cứ và đánh giá chứng cứ đó dựa trên
3 tiêu chí cơ bản là: Tính hợp pháp, tính liên quan, tính khách quan của các tài liệu
chứng cứ. Tổ chức thẩm tra lấy lời khai của các đương sự và những người có liên quan
làm căn cứ đánh giá vụ việc.
Tổ chức đối chiếu các quy định của pháp luật tại thời điểm và quy định pháp luật
tại thời điểm giải quyết còn hiệu lực thi hành để quyết định đảm bảo đúng quy định
pháp luật.
Điều 10: Cơ chế phối hợp để giải quyết:
Cấp xã trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thụ lý phải tổ chức hòa giải, trường
hợp hòa giải không thành, trong thời hạn 5 ngày UBND
cấp xã chuyển toàn bộ hồ sơ đến cơ quan tiếp dân của huyện để thụ lý tiếp theo.
Trường hợp UBND cấp huyện giải quyết lần đầu đương sự có quyền khiếu nại
với quyết định giải quyết, UBND huyện phải có văn bản trả lời cho người khiếu nại
trong thời hạn 30 ngày. Nếu đương sự tiếp tục khiếu nại lên cơ quan hành chính cấp trên
(UBND tỉnh) cơ quan tiếp dân huyện tiếp nhận đơn khiếu nại và chuyển toàn bộ hồ sơ
có liên quan đến ban tiếp dân tỉnh trong thời hạn 5 ngày để được thụ lý và có văn bản
thông báo cho đương sự biết.
Điều 11: Tổ chức đối thoại trực tiếp với công dân:
23
Cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo chỉ thực
hiện việc đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền lợi
ích hợp pháp có liên quan, người đại diện hợp pháp của các bên đương sự (luật sư, luật
gia, trung tâm trợ giúp pháp lý, trung tâm tư vấn pháp luật).
Những trường hợp bắt buộc phải đối thoại được quy định tại Điều 12 khoản 4
Nghị định 62/2002/NĐ-CP. Có thể mở rộng thêm các trường hợp đơn lẻ nếu có tính
chất phức tạp cần phải làm rõ thêm những căn cứ cần thiết đảm bảo tính chính xác trước
khi ban hành quyết định, người có thẩm quyền ban hành quyết định sẽ có quyền lựa
chọn áp dụng biện pháp đối thoại.
Điều 12: Đảm bảo quyền khiếu nại về tranh chấp đất đai của công dân:
Người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền lợi hợp pháp liên quan có

ngày quyết định được triển khai, quá thời hạn trên mà không tự nguyện thi hành thì sẽ bị
áp dụng biện pháp cưỡng chế. (Thời hạn trên có thể kéo dài hơn tùy theo tính chất vụ
việc nhưng không được quá 90 ngày).
Điều 16: Trách nhiệm của Thủ trưởng và cá nhân tham gia giải quyết tranh chấp:
Thủ trưởng các cơ quan được phân công trong việc thẩm tra, xác minh, đề xuất
phải chịu trách nhiệm cá nhân trước UBND về tính khách quan của vụ việc và ý kiến đề
xuất của cơ quan đơn vị mình.
Phần III: Biện pháp tổ chức thi hành án
Điều 17: Trách nhiệm các sở, ban, ngành đoàn thể:
Các Sở, Ban, Ngành, đoàn thể các cấp chính quyền có nhiệm vụ tổ chức tuyên
truyền nội dung của qui chế này tại ngành, đơn vị mình và nhân dân biết để thực hiện.
Sở Tài nguyên - Môi trường, Sở xây dựng, Thanh tra tỉnh theo chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm bố trí cán bộ, xây dựng quy trình giải quyết của
cơ quan mình, tổ chức thực hiện các giai đoạn của quy trình có liên quan việc giải quyết
tranh chấp đất đai.
Văn phòng UBND tỉnh chủ trì phối hợp cùng văn phòng tỉnh ủy, văn phòng Hội
đồng nhân dân tỉnh. Ban tiếp dân tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện công tác tiếp dân,
tiếp nhận đơn thư khiếu nại của công dân của tỉnh, cấp huyện và xã UBND huyện chỉ
đạo thực hiện. Xây dựng chương trình phần mềm về quản lý đơn thư khiếu nại, tố cáo
của công dân và chuyển giao chương trình quản lý cho các đơn vị. Nối mạng nội bộ cơ
25

Trích đoạn QUY TRÌNH THANH TRA ĐẤT ĐAI TỈNH CÀ MAU: 1.Quy trình thanh tra đất đai: Dự thảo kết luận thanh tra, kết luận rõ từng nội dung thanh tra, phân tích nguyên nhân, trách nhiệm của từng cá nhân, kết luận và kiến nghị xử lý theo đúng quy KẾT QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI THEO VĂN BẢN YÊU CẦU, ĐƠN THƯ PHẢN ẢNH: Sở Tài nguyên & Mơi trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status