CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV/AIDS part 1 - Pdf 20

1
CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV/AIDS
PGS.TS Nguyễn Đức Hiền
Ths Nguyễn Tiến Lâm
MỤC TIÊU HỌC TẬP
Sau khi học xong bài này, người học phải có khả năng:
1. Chẩn đoán được tình trạng nhiễm HIV
2. Trình bày được cách chẩn đoán và điều trị các nhiễm trùng cơ hội hay gặp ở bệnh
nhân HIV/AIDS
3. Trình bày được nguyên tắc điều trị thuốc kháng virus cho bệnh nhân HIV/AIDS
4. Tư vấn được cho bệnh nhân HIV/AIDS về bệnh của mình và cách điều trị
NỘI DUNG
1. Đại cương
- Đại dịch HIV/AIDS chưa kiểm soát được đang là thách thức lớn trong lịch
sử.
- Nhiễm HIV thường không có triệu chứng. Virus HIV xâm nhập cơ thể dần
huỷ hoại hệ miễn dịch, cuối cùng dẫn đến giai đoạn AIDS với các biểu hiện
nhiễm trùng cơ hội, ung thư và các biểu hiện liên quan rối loạn miễn dịch.
- Biểu hiện lâm sàng nhiễm HIV/AIDS gặp ở hầu hết các cơ quan trong cơ thể,
không có nét đặc trưng riêng, đòi hỏi nhân viên y tế phải luôn lưu ý thăm dò
phát hiện HIV sớm nhằm mang lại kết quả cao trong chẩn đoán và điều trị kịp
thời.
- Bên cạnh việc điều trị các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và các rối loạn
miễn dịch, việc điều trị thuốc kháng virus có giá trị nhất định trong việc kéo dài
và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Tuân thủ điều trị đóng vai
trò quan trọng trong việc điều trị thuốc kháng virus.
2. Tác nhân gây bệnh
2.1. Đặc điểm chung:
- HIV có đặc điểm chung của họ Retroviridae, có dạng hình cầu, kích thước
khoảng 80 - 120 nm.
- Bộ gen là ARN một sợi và có enzym sao chép ngược (RT).

- Ly giải tế bào nhiễm: chính do quá trình này mà đời sống của tế bào vật chủ
bị ngắn lại.
2.4. Động học của virus: tuỳ theo tổng lượng vi rút trong cơ thể, trung bình
mỗi ngày, hàng trăm triệu đến hàng tỷ vi rút được sản sinh ra mỗi ngày.
Khoảng 200 triệu tế bào TCD4 bị tiêu diệt mỗi ngày. Các tế bào này được thay
3
thế bằng các tế bào TCD4 mới. Sự diễn biến của bệnh, thời gian chuyển giai
đoạn sẽ khác nhau giữa người nhiễm này với người nhiễm khác tùy thuộc vào
tương quan giữa số lượng tế bào TCD4 chết đi và số lượng tế bào TCD4 được
sản sinh thay thế. Tuy nhiên, số lượng tế bào TCD bị chết đi thường nhiều hơn
tế bào TCD4 mới được sản sinh thay thế, vì vậy, theo thời gian thì lượng
TCD4 sẽ giảm dần với các tốc độ khác nhau.
3. Sự lây truyền của HIV
HIV lây truyền từ người sang người qua 3 con đường chính:
3.1. Truyền ngang
- Qua đường tình dục: HIV có ở trong tinh dịch, dịch tiết âm đạo và máu do
tổn thương ở cơ quan sinh dục.
+ Các quan hệ tình dục không có bảo vệ (chủ yếu là không sử dụng bao
cao su) sẽ làm lây nhiễm không chỉ HIV mà còn cả các bệnh lý lây
truyền qua đường tình dục.
+ Nguy cơ làm lây truyền HIV từ nam sang nữ cao hơn lây từ nữ sang
nam. Đặc biệt khi bệnh nhân có các bệnh lây truyền qua đường tình dục
gây tổn thương viêm loét (Herpes) sẽ làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm
HIV qua đường tình dục.
- Qua đường máu: truyền máu và chế phẩm của máu bị nhiễm HIV, dùng
chung bơm kim tiêm trong nhóm người tiêm chích ma tuý tĩnh mạch. Ngoài ra
có thể gặp do kim đâm, máu chứa HIV bắn dây vào các vết thương ở da, niêm
mạc.
3.2. Truyền dọc (mẹ-con):
Lây truyền HIV từ mẹ HIV(+) sang con có thể xảy ra trong cả 3 thời kỳ: trong

- Trên 90% tiến triển thành AIDS trong vòng 20 năm sau khi nhiễm.
- Tuy nhiên, ở một số đối tượng đặc biệt (người tiêm chích ma tuý tĩnh mạch)
thì tiến triển của bệnh chuyển sang giai đoạn AIDS sẽ nhanh hơn (có thể đó là
một kích thích kích hoạt sự sinh sản nhân lên của vi rút HIV).
5. Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV
5.1. Hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) đối với xét nghiệm
HIV:
5.1.1. Xét nghiệm tối thiểu thường quy:
- Huyết thanh chẩn đoán HIV
5.1.2. Xét nghiệm cơ bản
- Công thức máu: Hồng cầu, Hematocrit, hemoglobin, Bạch cầu (% các loại
bạch cầu, đặc biệt là Bạch cầu lympho để từ đó tính được Tổng số tế bào
Lympho = Số lượng bạch cầu x % tế bào lympho).
5
- Sinh hóa: Urê, đường, Creatinin, SGOT-SGPT, Bilirubin, Protein-Albumin-
Globulin, Amylase, Lipit máu, LDH.
- Xét nghiệm chẩn đoán thai nghén
5.1.3. Ở những cơ sở có điều kiện:
- Đếm được % và số lượng tế bào CD4.
- Nếu không có điều kiện thì sử dụng tổng số tế bào lympho (TSTBLP) với các
quy đổi tương đối như sau:
+ TSTBLP > 2500 tương đương SLTBCD4 > 500 TB/mm
3

+ TSTBLP > 1200 đến < 2500 tương đương SLTBCD4 >200 đến < 500
TB/mm
3

+ TSTBLP < 1200 tương đương SLTBCD4 < 200 TB/mm
3

dịch men, nhưng thời gian xử lý giảm từ vài giờ xuống 30 phút.
- Độ nhạy và độ đặc hiệu không được cao như xét nghiệm phản ứng miễn dịch
men chuẩn.
- Chi phí khoảng xấp xỉ 25% của phản ứng miễn dịch men chuẩn.
- Có tác dụng cho kết quả sơ bộ nhanh để có hướng xử lý, tư vấn cho bệnh
nhân.
5.2.5. Khẳng định kết quả xét nghiệm dương tính:
- Trừ xét nghiệm Western Blot được phép trả lời kết quả là âm tính hoặc dương
tính sau 1 lần làm xét nghiệm, các xét nghiệm kháng thể còn lại thì một xét
nghiệm đơn độc được không đủ để khẳng định một kết quả HIV dương
tính, và thường phải tiến hành nhiều xét nghiệm trên cùng một bệnh nhân HIV.
- Nhược điểm của phương pháp này là cần có thời gian để nồng độ kháng thể
trong máu bệnh nhân đạt đến nồng độ nhất định mới có thể phát hiện được nên
có thời kỳ cửa sổ (tối đa là 3 tháng). Vì vậy có thể không thật an toàn nhất là
trong công tác xét nghiệm sàng lọc an toàn truyền máu.
5.3. Xét nghiệm phát hiện kháng nguyên:
5.3.1. Xét nghiệm phát hiện kháng nguyên p24 .
- Protein p24 được giải phóng trong máu với số lượng lớn khi nhiễm HIV, và
có thể được phát hiện bởi một xét nghiệm máu đặc hiệu.
- Các xét nghiệm p24 hiện có không được sử dụng cho chẩn đoán HIV thường
quy.
7
5.3.2. Xét nghiệm phát hiện ARN HIV - Xét nghiệm khuếch đại acid nucleic
(PCR).
- Khi vi rút HIV nhân lên trong cơ thể bệnh nhân thì tạo ra một lượng lớn
ARN-HIV. Xét nghiệm ARN-HIV sử dụng phương pháp khuyếch đại ARN
hiện diện trong mẫu máu và thăm dò sự hiện diện trình tự của chuỗi gen HIV.
- Các xét nghiệm chính xác, độ đặc hiệu cao và có thể phát hiện sớm nhiễm
HIV, tuy nhiên đắt tiền và phức tạp về kỹ thuật.
- Xét nghiệm ARN HIV hiện vẫn là phương pháp tin cậy duy nhất để chẩn

nghiệm acid nucleic. Độ nhạy của phương pháp này để chẩn đoán nhiễm HIV ở
trẻ sơ sinh tăng lên từ ~40% tại 48 giờ sau sinh lên 93% vào 1 tuần sau sinh.
- Do trẻ sơ sinh có thể nhiễm HIV trong giai đoạn sau sinh (do phơi nhiễm
trong quá trình đẻ từ máu và chất dịch đường sinh dục của bà mẹ) nên xét
nghiệm âm tính trong các tuần lễ đầu không bảo đảm một đứa trẻ sơ sinh sẽ
không bị nhiễm. Các khuyến cáo hiện nay bao gồm xét nghiệm lại tại 1 tháng,
6 tháng và 18 tháng tuổi để xác định tình trạng HIV.
6. Phân loại giai đoạn nhiễm HIV dựa vào lâm sàng và xét nghiệm miễn
dịch học
Phân loại của TCYTTG:
Số tế bào
lympho/ mm
3

Số tế bào
CD4/mm
3

Giai đoạn
lâm sàng 1

Giai đoạn
lâm sàng 2

Giai đoạn
lâm sàng 3

Giai đoạn
lâm sàng 4


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status