Quy trình khóa luận tôt nghiệp và đề tài NCKH. - Pdf 20

QUY TRÌNH KHÓA LUẬN
TÔT NGHIỆP VÀ ĐỀ TÀI NCKH
Việc triển khai thực hiện một khóa luận tốt nghiệp hay một đề tài nghiên cứu khoa
học nói chung là khá phức tạp đối với những ai lần đầu thực hiện. với kinh nghiệm và sự
hiểu biết của mình, xin được chia sẻ cùng các bạn sinh viên và hi vọng nó sẽ giúp ích
phần nào cho các bạn.
1.MỤC ĐÍCH CỦA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP VÀ ĐỀ TÀI NCKH.
Trong 4 năm học tập và nghiên cứu, trước khi ra trường môic sinh viên phải hoàn
thành phần việc tốt nghiệp của mình, đó là thi tốt nghiệp và viết chuyên đề thực tập, viết
khóa luận tốt nghiệp hay đề tài NCKH. Do tỷ lệ được viết khóa luận tốt nghiệp là hạn chế
(30% trên tổng số sinh viên tổt nghiệp), nên chỉ những sinh viên có kết quả học khá trở
nên mới được xem xét. Khóa luận tốt nghiệp được tính tương đương 15 đơn vị học trình
và thể hiện thành một tiêu chí đánh giá riêng trong bảng điểm sinh viên.
Khóa luận tốt nghiệp là một công trình khoa học của sinh viênm thể hiện kiến thức
tổng hợp mà sinh viên đã tiếp thu trong 4 năm học tập và nghiên cứu tại trường. Trong
khóa luận, sinh viên phải vận dụng phương pháp luận khoa học để thể hiện kiến thức tổng
hợp, kỹ năng nghiên cứu độc lập, kỹ năng phân tích, kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn
đề, kỹ năng ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn, ký năng dùng thực tiễn để kiểm chứng lý
thuyết, kỹ năng viết và trình bày, kỹ năng bảo vệ đề tài nghiên cứu.
Do là một công trình khoa học, nên phải có ý nghĩa khoa học, giá trị thực tế, các số
liệu và các nguồn tài liệu phải chính xác, rõ ràng; văn phong mạch lạc và hình thức phải
theo quy định.
2. CÁC BƯỚC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP VÀ ĐỀ TÀI NCKH
2.1 Chọn đề tài nghiên cứu:
Khi chọn đề tài khóa luận phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, đề tài khóa luận phải thuộc lĩnh vực ngành học của và có thể ở các cấp độ
khác nhau, ví dụ:
- Vi mô hẹp: về một chi nhánh ngân hàng, một công ty.
- Vi mô rộng: về hệ thống một NHTM, hệ thống các NHTM, tổng công ty.
- Vĩ mô quốc gia: về chính sách tiền tệ, các công cụ chính sách tiền tệ, chính sách
tỷ giá hối đoái, lạm phát, quản lý ngoại hối, FDI, ODA, đô la hóa.

thế mạnh sẽ khiến cho ta vất vả và có thể dẫn đến bất lực. Chính vì vậy, hãy chọn đề tài
phù hợp với sở thích và thế mạnh của mình.
Thứ năm, đặt tên đề tài. Sau khi chọn được đề tài thì đặt tên cụ thể cho nó. Tên đề tài
phải ngắn gọn, chuẩn xác, chỉ rõ đối tượng, phạm vi nghiên cứu và chỉ được hiểu theo
một nghĩa duy nhất, khồng được hiểu mơ hồ theo nhiều nghĩa khác nhau.
2.2 Thu thập tài liệu:
Sau khi đề tài được chọn, nghĩa là đã biết được đối tượng và phạm vi nghiên cứu, thì
phải bắt tay ngay vào việc thu thập tài liệu. Cách tìm và phân loại tài liệu như sau:
Thứ nhất, nguồn tài liệu cơ bản. Đây chính là các giáo trình, bài giảng, sách khảo liên
quan đến đề tài. Trước khi đọc bất kỳ tài liệu nào, thì phải làm chủ được các kiến thức cơ
bản do các tài liệu cơ bản cung cấp, bởi vì tất cả các công trình nghiên cứu, dù ở cấp nào
thì kiến thức chuẩn và cơ bản cũng được bắt nguồn từ đây.
Thứ hai, nguồn tài liệu tham khảo có tính kế thừa. Bao gồm các khóa luận tốt nghiệp,
luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, các công trình NCKH của sinh viên đạt giải, các đề tài
nghiên cứu khoa học cấp viện, trường và bộ có liên quan đến đề tài. Đọc các tài liệu này
để học cách làm của những người đi trước, đồng thời xem đề tài đã được nghiên cứu đến
mức nào, những nội dung nào cần giải quyết tiếp… Thông thường, ở cuối mỗi tài liệu là
danh mục tài liệu tham khảo, do đó, có thể tiếp tục khám phá các tài liệu mới.
Thứ ba, nguồn tài liệu có tính thời sự và thực tiễn. Bao gồm các bài báo khoa học
đăng trên các tạp chí chuyên ngành và các chính sách, văn bản pháp luật. Hiện nay, các
tạo chí chuyên ngành về lĩnh vực tài chính – ngân hàng chủ yếu gồm: Tạp chí ngân hàng,
Tạp chí khoa học & đào tạo ngân hàng, Tạp chí tài chính, Tạp chí nghiên cứu kinh tế,
Tạp chí kinh tế phát triển,…
Vì mỗi tạp chí đều đăng tổng mục lục vào số cuối năm, nên để lấy được các báo cáo
nhanh và chính xác, cần phải qua các bước như sau:
Bước 1: Thu thập các số tạp chí cuối năm.
Bước 2: Chụp các Tổng mục lục và đóng thành cuốn.
Bước 3: Nghiên cứu các tổng mục lục để tìm ra các bài mình cần và đánh dấu lại.
Bước 4: Tìm các số tạp chí có bài mình cần và chụp các bài đó lại và đóng thành
cuốn.

được làm đi, làm lại nhiều lần thì đây là phương án khả thi. Tuy nhiên, đối với những đề
tài mới, thì không nên duyệt trước đề cương, vì đây là một công trình khoa học, nội dung
và kết quả nghiên cứu đang nằm phía trước, đang phải đi tìm mới ra được. việc duyệt
trước đề cương sẽ thủ tiêu tính sáng tạo của sinh viên, đồng thời buộc sinh viên phải đi
theo lối suy nghĩ “truyền thống” của thầy. Đúng! Duyệt trước đề cương có thể tạo ra hệ
số an toàn cao hơn trong nghiên cứu, nghĩa là ít rủi ro, nhưng rủi ro thấp lại đem lại kết
quả không cao! Một trong những mục tiêu chính của đề tài là khám phá cái mới và đề tài
nào thực sự có cái mới và sáng tạo thì sẽ đạt được điểm cao; tuy nhiên, đề tài đi theo
hướng sáng tạo, tìm tòi cái mới gặp nhiều rủi ro hơn, Đó là quy luật!
Đề cương không nên xây dựng quá chi tiết, vì trong quá trình nghiên cứu có thể còn
có những thay đổi phụ thuộc vào nguồn tài liệu, vào những phát hiện mới của sinh viên.
Đề cương nghiên cứu cũng chính là bố cục của luận văn, bao gồm các chương, mục phản
ánh đối tượng và phạm vi nghiên cứu từ đầu đến cuối một cách logic. Nguyên tăc khi xây
dựng đề cương phải là: tên các chương phải phù hợp với đề tài; tên các mục lớn trong
chương phải phù hợp với tên chương; tên các mục nhỏ phải phù hợp với tên các mục
lớn… Trong mỗi chương thường bao gồm 3 mục lớn, trong mỗi mục lớn lại thường bao
gồm 3 mục nhỏ.
Trong quá trình thu thập tài liệu, đọc và xây dựng đề cương sinh viên có thể gặp tình
huống bế tắc, như: chưa tìm được tài liệu ưng ý, đề cương chưa thoát,bế tắc trong hướng
đi… Không được hoang mang! Mình đã cố gắng hết sức mà vẫn gặp trở ngại, thì đó cũng
chính là thời điểm sinh viên chuẩn bị “xuất thần” sáng tạo ra điểm mới theo quy luật “cài
khó ló cái khôn”. Hãy bằng lòng với những gì mình đang có!
3. HÌNH THỨC CỦA KHÓA LUẬN
3.1. Trình tự bố cục:
Bìa cứng mạ vàng (theo mẫu), Bìa phụ giấy thường (nội dung như bìa cứng), Lời cảm
ơn (nếu có), Lời cam đoan (nếu có), Bảng chữ cái viết tắt, Danh mục các bảng, đồ thị, sơ
đồ; Mục lục; Lời mở đầu; Phần nội dung (các chương); Kết luận; Danh mục tài liệu tham
khảo; Phụ lục (nếu có).
3.2. Trình bày:
Khóa luận phải được đánh máy một mặt trên khổ giấy A4; Số thứ tự của trang ở

3.5. Số liệu và trích dẫn nguồn tài liệu:
a/ Số liệu phải cập nhật. Thông thường, số liệu lấy đến thời điểm cuối năm gần nhất.
tùy theo nhu cầu phân tích mà số liệu có thể lấy một hay nhiều năm (thông thường từ 3
đến 5 năm) và tần suất thu thập số liệu có thể là tháng, quý, 6 tháng hoặc năm.
b/ Số liệu phải ghi nguồn gốc dẫn chiếu cụ thể, chi tiết, rõ ràng để bất kỳ người nào
cũng có thể kiểm chứng được.
c/ Mọi sai sót về nội dung số liệu, nguồn tài liệu tham chiếu…, nếu phát hiện ra, thì
khóa thì khóa luận sẽ bị trừ điểm tùy theo mức độ.
4. NỘI DUNG KHÓA LUẬN
Tùy theo từng đề tài, phương pháp tiếp cận giải quyết vấn đề, mà khóa luận được kết
cấu nội dung cho thích hợp. thông thường, khóa luận được kết cấu theo phương pháp
truyền thống gồm: lời nói đầu, 3 chương và kết luận.
4.1. Lời nói đầu: Bao gồm các nội dung
a/ Tính cấp thiết của đề tài.
b/ Mục đích nghiên cứu.
c/ Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước.
d/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
e/ Phương pháp nghiên cứu.
f/ Những đóng góp mới của đề tài.
g/ Kết cấu các chương.
4.2.Nội dung các chương:
Chương 1: Viết về lý luận, những vấn đề cơ bản có tính học thuật mà đề tài giải
quyết. Chính vì vậy, nội dung chương 1 phải làm rõ được những khái niệm, định nghĩa,
thuật ngữ, nội dung…, đồng thời làm toát lên được kiến thức tổng hợp, các quan điểm,
các trường phái, tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế về tình hình khóa luận giải
quyết. Nội dung chương 1 được xem là cơ sở, là phương pháp luận, là chìa khóa để giải
quyết nội dung chương 2.
Chương 2: viết về thực trạng (thực tiễn), kiểm chứng, đánh giá…Trên cơ sở phương
pháp luận đã được đề cập ở chương 1, khóa luận sẽ vận dụng nó vào phân tích tình hình
thực tiễn mà khóa luận đề cập. nói cách khác, trong chương 2, “dùng lý luận để soi sáng,

nhau thì phân biệt theo chữ cái tiếp theo; nếu trùng chữ cái thì phân biệt theo vần; trùng
vần thì phân biệt theo dấu thanh điệu: không →huyền→sắc→hỏi→ngã.
e/ Tiếng nước ngoài: xếp theo từng ngôn ngữ: anh, pháp, đức, nga, trung,… sau đó
xếp theo chữ cái đầu tiên của họ tác giả. Các tài liệu nước ngoài để nguyên thể.
f/ Tên cơ quan, địa phương: Sử dụng chữ cái đầu tiên làm tên tác giả, ví dụ: tổng cục
thống kê; viện nghiên cứu kinh tế…, xếp theo chữ cái T, V…
*/ Trong từng tài liệu:
a/ Họ và tên tác giả → Năm xuất bản (để trong ngoặc kép) → Tên sách (in nghiêng)
→ Nhà xuất bản → Nơi xuất bản.
b/ Họ và tên tác giả → Tên bài báo (in nghiêng) → Tên tạp chí → Số tạp chí → Năm
XB.
c/ Nếu tài liệu nội bộ, thì ghi: (Lưu hành nội bộ).
4.5. Phụ lục:
Do số tranh của luận văn có hạn, nên những nội dung phụ mang tính minh họa, minh
chứng như: các mẫu biểu, các hình minh họa, đồ thị, các dữ liệu, kết quả điều tra, khảo
sát,… thì để ở phần phụ lục. Phụ lục cần được đánh số thứ tự và số trang riêng, số trang
của phụ lục không tính vào số trang của khóa luận.

(Trích “ bài tập và bài giải tài chính quốc tế của PGS.TS NGUYỄN VĂN TIẾN”)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status