ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ trước công nguyên các nhà y học đã cho rằng ăn uống là phương
tiện chữa bệnh và giữ gìn sức khỏe. Hypocrat, một danh y thời cổ đã nhắc đến
vai trò của ăn uống trong việc bảo vệ sức khỏe. Ông khuyên rằng tùy theo
tuổi tác, thời tiết, công việc…mà nên ăn nhiều hay ít, ăn một lúc hay rải rác ra
nhiều lần. Sidengai, người kế thừa di chúc của Hypocrat đã chỉ ra rằng: “Để
nhằm mục đích điều trị cũng như phòng bệnh chỉ cần cho ăn những thực đơn
thích hợp và sống một đời sống có tổ chức hợp lý”.Từ đó đến nay, những
nghiên cứu về tiêu hao năng lượng, về vai trò của các acid amin, vitamin, acid
béo không no, vi chất dinh dưỡng…đã góp phần hình thành, phát triển một
khoa học mới, khoa học dinh dưỡng [10], [13].
Một trong những bệnh thiếu dinh dưỡng có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng
hiện nay là thiếu máu. Thiếu máu dinh dưỡng là sự thiếu hụt lượng huyết cầu
tố (Hb) trong máu so với ngưỡng bình thường do thiếu một hoặc nhiều chất
dinh dưỡng thiết yếu trong quá trình tạo máu [47]. Theo Tổ chức Y tế thế giới
(TCYTTG), năm 2000, thiếu máu đã ảnh hưởng đến gần 2 tỷ người trên thế
giới, trong đó 52% phụ nữ có thai và 39% trẻ dưới 5 tuổi bị thiếu máu và hơn
90% các trường hợp thiếu máu tập trung ở các nước đang phát triển [48]. Tỷ
lệ thiếu máu ở nước ta còn cao, theo nghiên cứu ở một số tỉnh thành năm
2006, tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ là 26,7% [23].
Thiếu máu dẫn tới mệt mỏi, giảm khả năng lao động, thiếu năng lượng
cho việc học tập, vui chơi làm cho trẻ học và phát triển tinh thần chậm. Đặc
biệt là ở nữ vị thành niên, giai đoạn chuyển tiếp quan trọng về thể chất để
chuẩn bị cho giai đoạn làm mẹ và có con sau này, thiếu máu sẽ làm tăng nguy
cơ chết mẹ, trong thời kỳ sinh con, người phụ nữ dễ bị chảy máu nặng. Thiếu
1
máu ở mẹ làm tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong ở trẻ: cân nặng thấp, trẻ
yếu, dễ tử vong.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội,
khẩu phần của nhân dân ta đã được cải thiện nhiều, tuy vậy tình trạng thiếu vi
các vấn đề, mục tiêu, chỉ tiêu và ưu tiên của các chương trình phát triển quốc
tế, trẻ vị thành niên rất hiếm khi giữ vị trí hàng đầu. Đặc biệt trong bối cảnh
ngân sách phát triển hạn hẹp như hiện nay, theo lối tư duy truyền thống thì
hầu hết các nguồn lực sẽ được dành cho trẻ em trong 10 năm đầu đời [45].
Đầu tư vào y tế, dinh dưỡng, giáo dục cơ bản và bảo vệ trẻ em trong
những năm gần đây đã góp phần đảm bảo một sự khởi đầu tốt hơn một cách
đáng kể cho cuộc sống của nhiều trẻ em. Tuy nhiên, cùng với thành quả này
là trách nhiệm đảm bảo sự hỗ trợ cho trẻ em tiếp tục được duy trì khi trẻ lớn
lên và phát triển [45].
2. Sức khỏe và tình hình dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên
Theo TCYTTG thì sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể
chất, tinh thần và xã hội [2]. Sức khỏe được coi là tài sản quý giá của con
người, sức khỏe đã có và tồn tại từ khi con người sinh ra đến khi chết, nhưng
mức độ thường xuyên thay đổi trong suốt cuộc đời [3].
Nghiên cứu các quy luật phát triển của cơ thể ở lứa tuổi đang lớn và
những yếu tố ảnh hưởng lên quá trình này có ý nghĩa lý luận và thực tế lớn
lao. Giai đoạn phát triển bắt đầu từ sơ sinh cho đến trưởng thành là giai đoạn
3
chứa đựng hàng loạt các biến đổi sâu sắc, đặc biệt là trong thời kỳ dậy thì. Vì
vậy, các nhà sinh học, y học, giáo dục học trên thế giới đều quan tâm đến.
Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử
dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể. Số lượng và chủng loại thực phẩm cần
để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy theo tuổi, giới,
tình trạng sinh lý và mức độ hoạt động thể lực và trí lực. Về mặt sinh học, lứa
tuổi vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp rất quan trọng chuẩn bị cho giai
đoạn phát triển đầy đủ của cơ thể. Dinh dưỡng trong thời kỳ này cần hết sức
hợp lý, đầy đủ để đáp ứng với nhu cầu tăng trưởng và phát triển của cơ thể.
Nhiều nghiên cứu cho thấy dinh dưỡng hợp lý là yếu tố căn bản nhất
cho sự tăng trưởng và phát triển. Năng lượng, protein, chất béo, vitamin, và
các yếu tố vi lượng cần được cung cấp đầy đủ và cân đối để trẻ em, nhất là
dinh dưỡng, các tác giả kinh điển như Voit, Saternikov đã cho rằng tương
quan hợp lý giữa P: L: G trong khẩu phần nên là 1: 1: 5 (nghĩa là 1g protein
nên có 1g lipid và 5g glucid) Hiện nay người ta thường thể hiện tính cân đối
giữa protid, lipid, glucid và các chất khác trong khẩu phần không theo đơn vị
trọng lượng mà theo đơn vị năng lượng. về protein, ở nước ta, theo Viện dinh
dưỡng, nên đạt 12-14% tổng số năng lượng. Về chất béo, năng lượng do chất
béo cung cấp nên đạt 20-25% và không nên vượt quá 30% [31].
3.2. Vai trò và nhu cầu các thành phần chính trong KPA
3.2.1. Năng lượng
Năng lượng là yếu tố chung cho mọi quá trình chuyển hóa trong cơ
thể,được đưa vào cơ thể dưới dạng các loại thức ăn. Protein, lipid, glucid là
các chất sinh năng lượng. Cơ thể cần năng lượng để tái tạo các mô của cơ thể,
duy trì thân nhiệt, tăng trưởng và cho các hoạt động [1].
5
Nhà nghiên cứu Nut Blain- 1969 nhận định rằng có mối liên quan giữa
chiều cao, cân nặng, với nhu cầu năng lượng và đã kết luận: Nhu cầu năng
lượng của mỗi cơ thể phụ thuộc vào trọng lượng của cơ thể đó [43]. Nhưng
nhu cầu năng lượng rất đa dạng, nó không chỉ phụ thuộc vào trọng lượng.
Widdowson 1947 đã ghi nhận những trẻ nhẹ cân đôi khi lại ăn nhiều hơn
những trẻ to béo. Vì vậy khi nghiên cứu nhu cầu năng lượng của trẻ em lứa
tuổi đến trường và vị thành niên, chúng ta cần quan tâm đến sự khác nhau
giữa nhu cầu năng lượng được khuyến cáo nói chung và nhu cầu riêng của
từng người [34].
Để đảm bảo mức kết hợp tối ưu giữa các chất sinh năng lượng, tỷ lệ
năng lượng do Pr: L: G là 12: 18: 70 và tiến tới 14: 20: 66.
3.2.2. Protein
Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng nhất trong khẩu phần ăn.
Protein cung cấp acid amin để cơ thể trưởng thành và các mô không ngừng đổi
mới. Là thành phần chủ yếu của enzym, nội tiết tố, kháng thể Protein cũng
tham gia vào cân bằng năng lượng trong cơ thể. Nếu protein trong khẩu phần
VN-2007) [6].
Trong thành phần glucid, ngoài tinh bột, các glucid đơn giản, cần có
các chất pectin và cellulose. Rau quả là nguồn cung cấp cellulose có giá trị
nhất, ở đây chúng thường đi kèm với pectin là những chất chỉ có trong
rau quả [10].
7
3.2.5. Vitamin và khoáng chất
Vitamin là nhóm chất hữu cơ mà cơ thể không thể tự tổng hợp được.
Vitamin rất cần thiết với nhiều chức phận quan trọng của cơ thể. Thiếu
vitamin ảnh hưởng nhiều tới sự phát triển, sức khỏe và gây nhiều bệnh
đặc hiệu [1].
Chất khoáng có liên quan đến sức khỏe cộng đồng ở các nước đang
phát triển trong đó có Việt Nam là sắt, kẽm, calci và iod.
Như vậy, các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn cần được cung cấp
vừa đầy đủ, vừa hài hòa, vừa cân đối với nhau chứ không phải chỉ cung cấp
đủ lượng yêu cầu đối với riêng mỗi thành phần dinh dưỡng nào.
3.3. Vai trò của khẩu phần ăn
Qua các khái niệm trên, có thể thấy tầm quan trọng của chế độ ăn cân
đối và hợp lý đối với sức khỏe. Mô hình bệnh tật cũng thay đổi theo cơ cấu
bữa ăn, ở các nước nghèo, mức sống còn thấp thường gặp các bệnh nhiễm
khuẩn, bệnh lao và các bệnh thiếu dinh dưỡng. Theo số liệu của Tổ chức Y tế
thế giới, mỗi ngày trên thế giới có khoảng 40.000 trẻ em chết do thiếu dinh
dưỡng nặng, hàng năm có khoảng 250.000 trẻ em bị mù do thiếu vitamin A.
Số người bị thiếu máu dinh dưỡng ước tính đến 2000 triệu người và 400 triệu
người khác bị bướu cổ do thiếu iod [31].
Ở mức độ dinh dưỡng vĩ mô, vấn đề chủ yếu cần quan tâm của lứa tuổi
vị thành niên là việc ăn quá nhiều hoặc quá ít kéo dài các chất sinh nhiệt gây
nên tình trạng suy dinh dưỡng protein - năng lượng, trong khi đó ở mức độ vi
mô sự thiếu canxi, sắt và các yếu tố vi lượng khác cũng như vitamin trong chế
độ ăn có thể gây nên một số bệnh như quáng gà, thiếu máu…ở phụ nữ [37], [39].
trị dinh dưỡng trong khẩu phần ăn là vô cùng quan trọng cho con người, đặc
biệt là trẻ em, trẻ vị thành niên có một nền tảng sức khỏe vững chắc để phát
huy hết tiềm năng trong lao động thể lực cũng như trí óc. Do đó, cần có nhiều
biện pháp duy trì khuynh hướng biến đổi khẩu phần của người Việt Nam theo
hướng tích cực hơn nữa.
4. Thiếu máu và tình trạng thiếu máu ở vị thành niên
4.1. Khái niệm và tiêu chuẩn xác định thiếu máu
Thiếu máu là sự thiếu hụt lượng hemoglobin (huyết cầu tố hay Hb)
trong hệ tuần hoàn. Theo định nghĩa TCYTTG, thiếu máu xảy ra khi lượng
huyết cầu tố lưu hành của một cá thể thấp hơn lượng huyết cầu tố của một
người khỏe mạnh cùng giới, cùng tuổi và sống trong cùng điều kiện môi
trường [49], [50].
Có thể chẩn đoán xác định thiếu máu bằng xét nghiệm máu tính thể
tích trung bình hồng cầu, xác định nồng độ huyết cầu tố trung bình hồng cầu
hay lượng huyết cầu tố trung bình hồng cầu. Tuy nhiên ở cộng đồng thường
sử dụng phương pháp Cyamethemoglobin đinh lượng Hb trong máu để xác
định tình trạng thiếu máu [46].
Hàm lượng Hb thay đổi theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý, độ cao so với
mặt biển, nhưng ít khác nhau theo chủng tộc. Do vậy, năm 2001 TCYTTG đã
đề nghị mức hàm lượng Hb trong máu được coi là thiếu máu khi ở dưới các
ngưỡng theo từng đối tượng [49]:
10
Bảng 1.1: Ngưỡng Hemoglobin để xác định thiếu máu theo TCYTTG [49]
Nhóm tuổi Ngưỡng hemoglobin(g/L)
Trẻ em Từ 6 tháng đến 59 tháng
Từ 5 đến 11 tuổi
Từ 12 đến 14 tuổi
<110
<115
<120
có thai cho thấy tỷ lệ thiếu máu chung của phụ nữ không có thai là 40,2%, ở
phụ nữ có thai là 52,7% [42]. Ở một số vùng sinh thái có tỷ lệ cao hơn như
vùng núi phía Bắc là 49,9% ở phụ nữ không có thai và phụ nữ có thai là
58,6% [12].
Bảng 1.2: Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em và phụ nữ Việt Nam [50]
Nhóm nghiên cứu Mức Hemoglobin
trung bình (g/dl)
Tỷ lệ thiếu máu
(%)
Trẻ em
0-5 tháng
6-23 tháng
24-60 tháng
Phụ nữ không có thai
Phụ nữ có thai
10,61
10,57
11,53
12,08
10,82
61,0
59,5
28,2
40,2
52,7
Một nghiên cứu can thiệp bổ sung viên sắt/folat của Nguyễn Công
Khẩn và cộng sự năm 1999-2000 trên 701 phụ nữ 15-49 tuổi huyện Thanh
Miện, Hải Dương cho thấy tỷ lệ thiếu máu đã giảm từ 45,6% xuống còn
19,2% sau can thiệp và năm 2002-2003 can thiệp trên 416 phụ nữ tuổi sinh đẻ
ở huyện Bình Giang, Hải Dương kết quả tỷ lệ thiếu máu giảm từ 35,6% xuống
những biến đổi của cơ thể. Khẩu phần ăn nghèo chất sắt, ít đạm động vật mà
cụ thể là lượng thịt ăn vào thấp làm tăng nguy cơ mắc bệnh [12], [19], [43].
4.4.5. Thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống thiếu máu
Khả năng thực hành phòng chống thiếu máu luôn phụ thuộc vào mức
độ kiến thức của đối tượng [18]. Mặc dù chương trình phòng chống thiếu máu
đã được triển khai trên toàn quốc nhiều năm qua, tuy nhiên tỷ lệ phụ nữ cũng
như trẻ em được tiếp cận với thông tin về thiếu máu chưa cao (41,3%) [38].
4.5. Hậu quả của thiếu máu đối với sức khỏe
Hậu quả chung của thiếu máu phụ thuộc vào sự xuất hiện bệnh, mức độ
thiếu máu và khả năng thích nghi của cơ thể. Tuy nhiên trên phương diện
cộng đồng các hậu quả đáng chú ý sau [11], [30], [29].
4.5.1. Ảnh hưởng đến khả năng lao động
Thiếu máu gây ra tình trạng thiếu oxy ở các mô, đặc biệt ở các cơ quan
tim não. Thiếu máu ảnh hưởng đến hoạt động cần tiêu hao năng lượng, do đó
ảnh hưởng đến khả năng hoạt động và vui chơi của trẻ.
4.5.2. Ảnh hưởng đến trí lực
Thiếu máu gây ra các biểu hiện mệt mỏi, mất ngủ, kém tập trung. Dễ bị
kích thích hay gặp ở những người thiếu máu. Kết quả học tập của học sinh bị
thiếu máu thấp hơn hẳn so với lô chứng trong nghiên cứu can thiệp trước-sau
có nhóm đối chứng và đã khắc phục sau khi các em được bổ sung sắt [32].
4.5.3. Ảnh hưởng đến thai sản
Nữ vị thành niên là lứa tuổi tăng trưởng và phát triển cơ thể để chuẩn bị
cho giai đoạn làm mẹ sau này. Theo ước tình của Ngân hang phát triển châu
Á (ADB) số bà mẹ tử vong do thiếu máu chiếm 23% tổng số các bà mẹ tử
vong hàng năm ở Việt Nam [32].
14
Thiếu máu ở phụ nữ mang thai sẽ làm chậm phát triển thai nhi, tăng
nguy cơ đẻ non, tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của mẹ và con trong quá trình
sinh đẻ [47], [51].
“Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai”. Các em gái Việt Nam hôm nay sẽ
-Áp dụng công thức:
222
22
δ
δ
tNe
Nt
n
+
××
=
-Với:
-n: Số lượng mẫu điều tra.
-t: Phân vị chuẩn hóa (= 2 ở xác xuất 0,954).
-δ: Độ lệch chuẩn thường gặp ở các cuộc điều tra trước (= 400Kcal).
-e: Sai số chuẩn (=100)
-N: Tổng số học sinh nữ của BL B là 700; BL C là 650.
Số học sinh cần nghiên cứu ở mỗi trường là:
59
4002700100
7004002
222
22
=
×+×
××
=
n
* Khẩu phần ăn của học sinh:
Mức tiêu thụ lương thực thực phẩm (LTTP).
-Các chất dinh duỡng trong khẩu phần: năng lượng, protid, lipid, glucid,
vitamin và muối khoáng.
-Tính cân đối của khẩu phần ăn: Protid: Lipid: Glucid, Pđv/Pts, Ltv/Lts, tỷ lệ
Ca/P, B1/1000Kcal, B2/1000Kcal, PP/1000Kcal.
-Đánh giá mức đáp ứng nhu cầu khuyến nghị về số luợng và tính cân đối các
chất dinh duỡng trong KPA của lứa tuổi này.
-Tần suất tiêu thụ LTTP.
* Thiếu máu
- Tỷ lệ thiếu máu.
- Hàm lượng Hb trung bình.
5. Phương pháp thu thập số liệu
5.1. Điều tra khẩu phần
- Áp dụng phương pháp Điều tra khẩu phần 24 giờ qua. Hỏi ghi tất cả các
thực phẩm kể cả đồ uống được đối tượng tiêu thụ ngày hôm qua. Các ngày ăn
uống đặc biệt như cưới hỏi, ma chay, tiệc tùng không điều tra.
- Người điều tra hỏi ghi toàn bộ các LTTP sử dụng một cách chính xác (trọng
lưọng LTTP đều được quy ra gam).
- Dụng cụ hỗ trợ: Một số dụng cụ đo lường thường được sử dụng như bát,
cốc, chén, đĩa…để đối tượng có thể trả lời số lượng một cách gần đúng nhất.
Đồng thời cân các thực phẩm và dụng cụ đo lường để đảm bảo độ chính xác
khi chuyển đổi ra gam.
- Trong quá trình phỏng vấn người điều tra luôn đặt những câu hỏi chi tiết để
đảm bảo độ chính xác của thông tin. Ví dụ đối với cơm: ăn loại gạo gì (gạo
nếp cái, gạo nếp máy thường, gạo tẻ giã, gạo tẻ máy, gạo lứt), vào những bữa
18
nào, ăn bao nhiêu bát, loại bát, mức độ đơm xới (đầy bát, lưng bát, nửa
bát…). Các thông tin cần thiết trong bảng câu hỏi đều được kiểm tra và hoàn
chỉnh ngay tại thực địa.
Protein (g) 67 – 78
Pđv/ts 35 – 40%
Ltv/ts 20-25%
Năng lượng do protein đóng góp
(%)
12 – 14%
Năng lượng do lipid đóng góp (%) 20 – 25%
Năng lượng do glucid đóng góp
(%)
61 – 70%
Calci (mg) 1000
Phospho (mg) 1250
Kẽm (mg) 7,8
Sắt (mg/ngày) 62,0*
41,3**
31,0***
Vitamin A (mcg) 600
Vitamin C (mg) 65
Vitamin B1(mg) 1,1
Vitamin B2(mg) 1,0
20
Ghi chú: * : Khẩu phần có giá trị sinh học sắt thấp (5% sắt được hấp thu).
Chế độ ăn đơn điệu (lượng thịt, cá <30g/ngày hoặc vitamin C <25mg).
** : Khẩu phần có giá trị sinh học sắt trung bình (10% sắt được hấp thu).
Chế độ ăn đơn điệu (lượng thịt, cá từ 30 - 90g/ngày hoặc vitamin C từ 25 – 75mg).
*** : Khẩu phần có giá trị sinh học sắt cao (15% sắt được hấp thu). Chế
độ ăn đơn điệu (lượng thịt, cá >90g/ngày hoặc vitamin C >75mg/ngày)[4].
Xác đinh tình trạng thiếu máu của học sinh: Theo phân loại của
TCYTTG năm 2001, ở nữ vị thành niên là đối tượng phụ nữ độ tuổi sinh đẻ
không có thai, xác định là thiếu máu khi hàm lượng Hb<120g/l
Khoai củ 2,7 ± 15,2 1,6 ± 12,8 2,2±14,1 >0,05
Lạc vừng 20,7 ± 42,0 30,9 ± 61,7 25,6±52,4 >0,05
Rau các loại 146,6 ± 86,9 206,9 ± 124,8 175,4±110,4 <0,01
Quả chín 159,5 ± 163,7 135,0 ± 155,5 147,8±159,7 >0,05
Dầu mỡ 9,2 ± 12,3 5,3 ± 7,2 7,4±10,3 <0,05
Thịt các loại 88,7 ± 85,6 66,0 ± 65,8 77,9±77,4 >0,05
Cá/hải sản 54,7 ± 79,1 25,7 ± 40,6 40,8±65,1 <0,05
Trứng các loại 19,7 ± 29,6 35,0 ± 46,7 27,0±39,3 <0,05
Sữa/sản phẩm 24,2 ± 66,2 21,9 ± 55,8 23,0±61,2 >0,05
Đồ hộp các
loại
0,0 ± 0,0 0,0 ± 0,0 0,0±0,0
Đồ ngọt 10,2 ± 22,2 6,7 ± 19,1 8,5±20,8 >0,05
Đồ uống 6,3 ± 37,5 2,5 ± 19,2 4,5±30,1 >0,05
*: so sánh giữa 2 trường
22
Nhận xét: Kết quả bảng 3.1 cho thấy, tính theo học sinh/ngày (hs/ngày): ngũ
cốc được tiêu thụ trung bình 366,4 ± 136,8g; trong đó trường BL B 352,2 ±
126,3g; BL C 382,1 ± 146,9g. Rau được ăn trung bình 175,4±110,4g, tuy
nhiên BL C ăn nhiều hơn, khác biệt p<0,01; quả chín 147,8±159,7g; thịt
77,9±77,4g; cá và hải sản 40,8±65,1g, mức tiêu thụ khác nhau có ý nghĩa
thống kê giữa 2 trường (BL B: 54,7 ± 79,1g; BL C 25,7 ± 40,6g), (p<0,05);
lượng trứng tiêu thụ trung bình của 2 trường là 27,0±39,3; BL C tiêu thụ
nhiều hơn, 35,0 ± 46,7g/ so với BL B là 19,7 ± 29,6g (p<0,05); lượng khoai
củ được ăn: 2,2 ± 14,1g; dầu mỡ: 7,4±10,3g; đồ ngọt: 8,5±20,8g và đồ uồng:
4,5±30,1g; trong khẩu phần không có đồ hộp.
Bảng 3.2 Giá trị dinh dưỡng KPA theo trường
Chất dinh
dưỡng
Giá trị (đơn vị/học sinh/ngày)
33,2 ± 16,7
20,5 ± 15,1
12,7 ± 10,0
35,3 ± 19,4
22,9 ± 17,4
12,4 ± 9,8
>0,05
>0,05
>0,05
Glucid (g) 297,9 ± 96,1 314,3 ± 115,9 305,7 ± 105,9 >0,05
Vitamin và
khoáng (mg)
-Ca
-Fe
397,3 ± 173,6
8,9 ± 4,5
431,0 ± 173,7
9,5 ± 5,2
413,4 ± 173,8
9,2 ± 4,8
>0,05
>0,05
23
-P
-Zn
-Vitamin C
-Vitamin B
1
-Vitamin B
2
Tính cân đối
của khẩu phần:
-Tỷ lệ Pr: L: G
-Protid ĐV/TS
-Lipid TV/TS
-B1/1000 Kcal
-B2/1000 Kcal
-PP/1000 Kcal
-Ca/P
16 : 18 : 66
0,41 ± 0,18
0,37 ± 0,23
0,58 ± 0,19
0,39 ± 0,15
7,26 ± 2,63
0,49 ± 0,16
15 : 17 : 68
0,34 ± 0,15
0,40 ± 0,22
0,75 ± 0,51
0,41 ± 0,12
7,32 ± 1,63
0,54 ± 0,23
15 : 18 : 67
0,38 ± 0,17
0,38 ± 0,23
0,66 ± 0,39
0,40 ± 0,14
7,29 ± 2,20
0,51 ± 0,20